Phân tích lợi thế cạnh tranh hàng gốm mỹ nghệ Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản - Pdf 10

Qun tr kinh doanh quc
t

Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI-DU LỊCH-MARKETING
MÔN: QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ Đề tài: Phân tích lợi thế cạnh tranh hàng gốm mỹ nghệ
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản
Qun tr kinh doanh quc
t

Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 2 Lời mở đầu: 3
Phần I:Khái quát tình hình xuất khẩu hàng gốm mỹ nghệ của Việt Nam qua các nước 5
A. Khái quát về gốm mỹ nghệ Việt Nam 5
1. Giới thiệu đôi nét vế gốm sứ 5
2. Gốm mỹ nghệ Việt Nam 6
B. Tình hình xuất khẩu gốm mỹ nghệ Việt Nam trong thời gian qua 7
1. Thực trạng xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam trong thời gian qua 7

B. Kinh nghiệm của Thái Lan 46
C. Kinh nghiệm của Malaysia 47
D. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 47
Kết Luận: 49
Tài liệu tham khảo

Lời mở đầu:
Qun tr kinh doanh quc
t

Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 4

Sản xuất gốm mỹ nghệ Việt Nam là một nghề thủ công cổ truyền đặc sắc và rất độc đáo của dân
tộc Việt Nam, từ lâu đã phát triển khắp mọi miền của đất nước. Đặc biệt dưới bàn tay khéo léo
và tài hoa của các nghệ nhân cùng với niềm đam mê nghề vô tận, đã thổi được cả một kho tàng


Qun tr kinh doanh quc
t

Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 5 Phần I:Khái quát tình hình xuất khẩu hàng gốm mỹ nghệ
của Việt Nam qua các nước
A. Khái quát về gốm mỹ nghệ Việt Nam

1. Giới thiệu đôi nét vế gốm sứ

Đồ gốm xuất hiện trên thế giới cách đây khoảng một vạn năm. Thời điểm xuất hiện đồ gốm ở
mỗi dân tộc có thể sớm muộn khác nhau nhưng việc phát minh ra đồ gốm là công trình lao
động sáng tạo của rất nhiều dân tộc trên thế giới. Trung Quốc là nước xuất hiện đồ gốm sớm
nhất ở Châu Á; từ thời nhà Thương (1766 – 1123 TCN). Tiếp đó là Ai Cập, Irắc đã làm được đồ
sứ từ thời Fatimites (640- 1171). Ở Mexico người ta đã tìm được những hiện vật gốm từ thời
nền văn minh Maya. Ở Châu Âu cũng có những trung tâm gốm nổi tiếng là ở Tây Ban Nha, Ý,
lưu vực sông Đông (Nga), sông Ranh (Đức)…
Đồ gốm sứ là dùng để chỉ những sản phẩm mà nguyên liệu để sản xuất chúng gồm một phần
hoặc tất cả là gốm hoặc cao lanh như đò đất nung, gạch ngói, chum vại… Đồ gốm là sản phẩm
được làm chủ yếu từ đất và nung qua lửa. Với sự phát triển không ngừng của xã hội, của kỹ
thuật đã tạo điều kiện cho sản phẩm gốm ngày càng đa dạng và tinh xảo. Ngày nay từ “Đồ
gốm” đã trở thành tên gọi chung của 5 loại sản phẩm sau:
- Gốm đất nâu: làm bằng đất sét thường, nung ở nhiệt
độ 6000 C đến 9000 C, màu đỏ, xốp, ngấm nước…
- Gốm sành nâu: làm bằng đất sét thường, nung ở
nhiệt độ 11000 C đến 12000 C, xương đất chảy, có
thấu quang.

đáo về sản phẩm của từng địa phương. Các mẫu mã hàng gốm vô cùng phong phú về loại hình,
công dụng, kích cỡ, hình dáng và chỉ cần thay đổi đôi chút ít về đường nét uốn lượn, hay tiết
hoạ là đã có thể cho ra đời một sản phẩm mới. Chính vì vậy các loại hình sản phẩm gốm liên
tiếp được bổ sung trên thị trường. Tính chất mỹ thuật của loại sản phẩm này được tạo nên bởi
hình dáng sản phẩm và những đường nét tiết hoạ trên mặt sản phẩm. Người tiêu dùng chọn sản
phẩm theo công dụng, kích cỡ, chất men và hình thức cũng như dáng dấp nhái cổ của sản phẩm.
Gốm Việt Nam là một nghề thủ công cổ truyền đặc sắc và rất độc đáo của dân tộc, từ lâu đã
phát triển khắp mọi miền của đất nước. Các sản phẩm gốm của ta có hình thức đẹp, chất lượng
tốt, được mọi người tiêu dùng ưa chuộng. Không ít đồ gốm ở nước ta đã được làm ở một trình
độ kỹ thuật tương đối cao và đã trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới.
Gốm mỹ nghệ Việt Nam là tập hợp các sản phẩm được sản xuất bằng phương pháp thủ công có
tính mỹ thuật cao và thường gắn với các làng nghề truyền thống, mang đậm bản sắc văn hoá
của dân tộc và quốc gia. Các sản phẩm gốm mỹ nghệ bao gồm những mặt hàng chính sau: lọ
hoa, chậu cảnh, lọ bình giả cổ, bát hương, tượng Chúa, tượng Phật, con vật, bình đựng rượu,
bình ấm chén trà, bát đĩa, tranh và đồ lưu niệm Các sản phẩm trên được làm với các kích cỡ
khác nhau và trên đó là các nét hoạ tiết về phong cảnh và điển tích (thường là Tứ Bình Xuân,
Hạ, Thu, Đông, tranh đồng quê nhàn tản, tranh phong cảnh và tranh điển tích ).
Trong suốt nhiều thế kỷ, nước ta đã xuất khẩu đồ gốm sang các nước không chỉ trong khu vực
Châu Á, Châu Đại Dương mà cả Châu Âu.
Qun tr kinh doanh quc
t

Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 7

Gốm Việt Nam đã có từ thời kỳ văn hoá Bắc Sơn và
ngày càng trở nên tinh xảo hơn. Lịch sử phát triển
ngành gốm của Việt Nam đã trải qua các thời kỳ: thời
nguyên thuỷ, thời các vua Hùng, gốm men qua các thời
Lý - Trần – Lê. Gốm Việt Nam là một nghề có truyền
thống lâu đời, có một lịch sử vàng son rực rỡ. Đây


Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 8 Bảng 1: thống kê kim ngạch xuất khẩu gốm sứ Việt Nam theo châu lục (2007-2011) -
ĐVT: Triệu USD
Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam

Hiện nay, khoảng 50% gốm sứ mỹ nghệ của Việt Nam được tiêu thụ bằng con đường xuất
khẩu, đóng góp một phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Kim ngạch xuất khẩu
gốm sứ mỹ nghệ của nước ta giai đoạn 1999-2009 được thể hiện trên hình 2.1
Theo như hình 2.1 ta thấy, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ của nước ta đã liên tục tăng.
Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ của nước ta chỉ đạt 22 triệu USD thì đến năm
2004 đã đạt 100,8 triệu USD, gần gấp 5 lần kim ngạch năm
1999, tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn này đạt gần 80%. Năm 2006 kim ngạch xuất
khẩu gốm sứ đạt 123,5 triệu USD và đặc biệt đến năm 2009, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ
nghệ đã có sự tăng trưởng nhảy vọt, đạt 174 triệu USD.
2. Kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng

Năm

2007

2008

2009

2010

2011

USD)
Tỷ
trọng(%
)
Châu Á 130.37 38.93 130.913 38.02 104.520 39.12 136.423 43.04 186.060 51.88
Châu Âu 113.368 33.86 124.536 36.17 79.315 29.69 76.682 24.19 68.835 19.19
Châu Mỹ 44.596 13.32 45.298 13.16 32.578 12.19 43.038 13.58 40.006 11.16
Khác 46.522 13.89 43.576 12.65 50.770 31.07 60.850 19.19 63.725 17.77
Tổng kim
ngạch
334.856 100% 344.323 100% 267.183 100% 316.993 100% 358.626 100%
Qun tr kinh doanh quc
t

L

i th


c

nh tranh c

a g

m s


Vi


- Về tỷ trọng xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ so với hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
vào thị trường Nhật Bản trong thời gian qua

Tỷ trọng xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ so với hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào thị
trường Nhật Bản có xu hướng tăng lên qua các năm. Nếu như năm 1998 chỉ là 11,08% thì năm
2000 tăng lên 20,03% và luôn giữ ở mức trên dưới 15% trong các năm tiếp theo.
Tuy nhiên, xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản lại
có dấu hiệu chững lại, nguyên nhân chủ yếu là do hàng của Việt Nam còn kém về mẫu mã,
0
10
20
30
40
50
60
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Kim ngạch xuất khẩu gốm sứ qua
Nhật Bản ( Triệu USD)
Qun tr kinh doanh quc
t

L

i th


Việt Nam hầu như đã bão hoà tại thị trường này, bên cạnh đó thì nhu cầu của người Nhật về
hàng gốm sứ mỹ nghệ rất đa dạng, yêu cầu các mặt hàng phải thay đổi nhanh sao cho phù hợp
với các mùa trong năm.

Hình 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và hàng gốm sứ mỹ nghệ của Việt
Nam vào Nhật Bản( triệu USD)
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam và www.vnemart.com

Thị trường Nhật Bản là một thị trường rất khó tính, đối với mỗi một sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ,
người tiêu dùng Nhật Bản luôn quan tâm đến 3 yếu tố: nguyên liệu sản xuất, phương pháp tạo
ra sản phẩm và yếu tố truyền thống thể hiện trong từng sản phẩm. Trong đó, yếu tố truyền
0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
2006
2007
2008


Qun tr kinh doanh quc
t

L

i th


c

nh tranh c

a g

m s


Vi

t Nam khi xu

t sang th


tr


ng Nh


50
100
150
200
250
300
350
400
2006
2007
2008
2009
2010
2011
30.06
36.4
41.7
34
37.9
52.9
322.65
334.856
344.323
309.4
316.993
358.626
Kim ng

ch xu


Người Nhật có quyền lựa chọn trong vô số những chủng loại hàng hóa đó. Đặc biệt qua nghiên
cứu và khảo sát, Người Nhật rất thích những sản phẩm mang tính độc đáo lạ mắt. Để có được
tính độc đáo của sản phẩm, doanh nghiệp cũng cần đầu tư cho khâu quảng cáo, tiếp thị, nâng
cao trình độ công nghệ, nghiên cứu và phát triển. điều chủ yếu là phải tạo sự khác biệt giữa
công ty mình và các đối thủ cạnh tranh, bí quyết ở đây chính là sự sáng tạo.
Theo đánh giá của Cục Xúc tiến Thương mại, thiết kế mẫu mã, chất lượng các sản phẩm gốm
mỹ nghệ của ta còn yếu, kém sức cạnh tranh, nhất là so với hàng của Trung Quốc. Các cơ sở
sản xuất, xuất khẩu chưa thực sự nhạy bén với thị trường, cả trong việc nắm bắt xu hướng tiêu
dùng và phương thức kinh doanh hiện đại cũng như việc thu thập và xử lý thông tin, nhất là các
doanh nghiệp ở vùng nông thôn.
Sản phẩm gốm mỹ nghệ của làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) giờ đây đã có mặt không chỉ ở
thị trường nội địa mà cả nước ngoài. Rất nhiều doanh nghiệp của các nghệ nhân trong làng
được thành lập nhưng sản phẩm của họ thì không ai biết đến tên, biểu tượng, còn mẫu mã
mới thì không thể giữ để sản xuất riêng.
Đây cũng là tình trạng chung đối với rất nhiều sản phẩm gốm mỹ nghệ xuất khẩu. Hàng gốm
mỹ nghệ của nước ta đang dần khẳng định được vị trí của mình ở các thị trường lớn như Đức,
Mỹ, Nhật Tuy nhiên, đa số hàng gốm mỹ nghệ không có thương hiệu riêng, do vậy cơ sở này
có thể "ăn cắp" mẫu mã của cơ sở khác cho dù không có sự đồng ý của người chủ để in
catalogue chào hàng.
Một thực tế khác là hiện có khá nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng gốm mỹ nghệ đã tạo được
trang web để giới thiệu sản phẩm ra thị trường thế giới. Việc cập nhật mẫu mã mới thường
xuyên đồng nghĩa với việc tạo điều kiện để người khác có thể bắt chước một cách dễ dàng mẫu
đó. Điều này sẽ gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp bởi tính độc đáo của sản phẩm không
còn và khả năng cạnh tranh không lành mạnh rất dễ xảy ra.
Các chủ doanh nghiệp nhận thức được những vấn đề trên, tuy nhiên việc đăng ký thương hiệu
cho sản phẩm gốm mỹ nghệ không hề dễ dàng. Tuy nhiên, đăng ký một nhãn hiệu chung cho cả
lô thì rất dễ bị làm nhái, còn đăng ký kiểu dáng cho từng sản phẩm thì doanh nghiệp không thể
theo kịp hoặc kham đủ chi phí vì hàng gốm mỹ nghệ phải thường xuyên thay đổi mẫu mã.
Theo ông Trần Việt Hùng, Phó cục trưởng Cục Sở hữu Công nghiệp, cũng cho rằng vấn đề này
rất khó giải quyết. Hiện chỉ có một vài doanh nghiệp gốm mỹ nghệ TP HCM đăng ký nhãn

khách hàng đặt trước mẫu mã, chất lượng và giá, để các DN Việt Nam lựa chọn; hai là DN Việt
Nam chào hàng, chào giá. Tuy nhiên, cả hai phương thức này đều không giải quyết được vấn đề
giá so với hàng Trung Quốc.
Điều này có thể giải thích vì các DN Việt Nam làm hàng gốm mỹ nghệ hầu hết là
nghề truyền thống, quy mô nhỏ, nên ít quan tâm tới công tác tổ chức lao động, từ đó không tiết
kiệm được chi phí, nên giá thành sản phẩm cao.
Một yếu tố nữa, do chủ yếu là nghề truyền thống, nên không thể sản xuất đại trà khối lượng lớn.
Do lượng sản phẩm sản xuất ra ít ỏi nên tất cả các khoản chi phí tính trên sản phẩm sẽ cao. Kể
cả chi phí vận chuyển, chi phí thủ tục, các sản phẩm phải chia nhau gánh vác vào giá.
Tuy nhiên, lợi thế của hàng gốm mỹ nghệ Việt Nam so với các nước khác trong khu vực Đông
Nam Á là có khả năng cạnh tranh về giá cả, do được sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu sẵn có
trong nước, cơ sở sản xuất được bố trí gần nguồn nguyên liệu. Một lợi thế nữa là nguồn lao
động sản xuất dồi dào với chi phí lao động thấp và vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh nhìn
chung không lớn. Theo như kết quả khảo sát ta thấy lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp sản
Qun tr kinh doanh quc
t

Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 14

xuất gốm mỹ nghệ của Việt Nam nhờ có chất lượng và giá cả thấp là 21,81%, nhờ mẫu mã là
20%. Bảng 2 : Lợi thế cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp

cho rằng, để khắc phục nhược điểm này, các doanh nghiệp nên đầu tư nhiều hơn cho thiết kế
kiểu dáng. Bởi cứ sao chép rập khuôn kiểu dáng giữa các doanh nghiệp với nhau thì sẽ gặp
những vấn đề rắc rối về mặt pháp lý và sở hữu trí tuệ. Còn nếu chỉ làm theo mẫu mã của các
nhà nhập khẩu nước ngoài thì sẽ bị thụ động, và điều này chỉ mang lại những giá trị gia tăng
nhỏ nhoi cho các doanh nghiệp. Thứ hai, các nhà sản xuất yếu trong thăm dò, tìm hiểu thị
trường. Một trong những nguyên nhân làm giảm tính cạnh tranh của hàng gốm mỹ nghệ là các
doanh nghiệp Việt Nam đầu tư quá ít cho nghiên cứu thị trường.

Bảng 3: Sở thích của người Nhật Bản dưới cách nhìn của các doanh nghiệp
Lưu ý: có nhiều doanh nghiệp có nhiều lựa chọn
Một trong những vấn đề nổi bật là thiết kế mẫu mã. Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp đã rất
chú trọng đến khâu thiết kế, thường xuyên cho ra những mẫu mã mới, thậm chí có đơn vị còn
Sản phẩm Số lượng DN Tỷ trọng (%)
Đôn 4 7,27
Chén 40 72,73
T
ư

ng

ng
ư

i

15

27
,
67

xuất khẩu.
(1) Các nhà sản xuất hoặc xuất khẩu hàng gốm mỹ nghệ ký kết và cung ứng hàng gốm mỹ nghệ
cho các nhà nhập khẩu Nhật Bản. (2) Các nhà nhập khẩu Nhật Bản sau đó phân phối hàng hoá
tới (3) các nhà bán buôn Nhật Bản, tiếp theo sản phẩm được đưa tới những nhà (4) những nhà
bán lẻ (các cửa hàng bách hoá), (5) các siêu thị và (6) các nhà bán lẻ chuyên doanh.

Sơ đồ 1: Kênh phân phối hàng gốm mỹ nghệ nhập khẩu
(1)

Nhà s

n xu

t /xu

t kh

u Vi

t nam


Việt Nam đưa vào Nhật Bản.
+Cách thứ hai: các nhà bán lẻ Nhật Bản thiết lập quan hệ trực tiếp với các nhà sản xuất nước
ngoài nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, cập nhật nhu cầu thị trường để nhà sản xuất cung cấp
những sản phẩm đáp ứng tối đa thị hiếu của người tiêu dùng.
Với cách thứ hai, nhiều nhà bán lẻ vào Việt Nam chọn lựa sản phẩm, ký kết hợp đồng mua trực
tiếp để các nhà sán xuất hoặc các nhà thương mại gốm mỹ nghệ của Việt Nam gởi hàng qua Nhật
Bản.Với cách thứ hai này giảm được chi phí trung gian, làm hàng gốm mỹ nghệ của Việt Nam rẻ
hơn. Cách này chỉ chiếm 5% trị giá hàng gốm mỹ nghệ xuất khẩu vì các bên Việt Nam và Nhật
Bản chưa tìm kiếm được phương thức thanh toán tối ưu và an toàn.
+Cách thứ ba: - Người tiêu dùng Nhật Bản đặt hàng qua mạng Internet: nhiều khách du lịch
Nhật Bản sau khi du lịch ở Việt Nam về nước vẫn chuyển đơn đặt hàng qua mạng internet đến
các cơ sở sản xuất và kinh doanh hàng gốm mỹ nghệ của Việt Nam. Bên phía Việt Nam giao
hàng và được chuyển tiền trả qua ngân hàng. Hình thức kinh doanh này được coi là mạo hiểm
nhưng những nhà cung cấp Việt Nam cho rằng do có quan hệ từ trước, hơn nữa giá trị lô hàng
không lớn nên chưa có rủi ro xảy ra.
- Khách du lịch Nhật Bản: là nước thứ hai sau Trung Quốc có lượng người đến Việt Nam du lịch
và với tốc độ tăng nhanh. Quan trọng hơn là nhiều du khách Nhật Bản đến Việt Nam thường
thích mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là hàng gốm mỹ nghệ, nhiều người trong số họ
thường xem Việt Nam là “thiên đường mua sắm” hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và hàng
gốm mỹ nghệ nói riêng.
Số lượng
khách du
lịch Nhật
Bản tới
Vi

t Nam

2006 2007 2008 2009 2010 2011
Số lượng 383.896 411.557 392.999 359.231 442.089 481.519

1.94%
0.92%
1.65%
12.95%
Trung Quốc
Thái Lan
Malaysia
Italia
Indonexia
Vi

t Nam
Các nước khác
Qun tr kinh doanh quc
t

Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 19

B. Thị trường gốm mỹ nghệ Nhật Bản và một số vấn đề cần lưu ý
khi xuất khẩu vào thị trường này
Nhật Bản là thị trường truyền thống của hàng gốm mỹ nghệ Việt Nam. Ngay từ thế kỷ 15 -16 các
bát uống trà Việt (gốm Chu Đậu) đã có mặt tại Nhật Bản, góp phần phát triển trà đạo Nhật. Như
vậy, nghệ thuật gốm trà Việt Nam đã ảnh hưởng tới lịch sử trà đạo Nhật, cho ta thấy tâm hồn và
sự rung cảm trước cái Đẹp của hai dân tộc có nhiều nét tương đồng nhau.
Hàng năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 1 tỷ USD đồ gốm sứ mỹ nghệ. Nhưng do thị trường Nhật
Bản đòi hỏi rất cao về chất lượng, gốm vào Nhật Bản phải có dấu JIS- nhãn hiệu tự nguyện trên
cơ sở Luật Tiêu Chuẩn công nghiệp Nhật Bản, và dấu “G”, “ceremic safety Mark” – nhãn hiệu “


m tra ch

ng

t


Không yêu cu
kim đnh
Yêu c

u ki

m đ

nh

B


c 3

Tin hành kim
đnh
Qun tr kinh doanh quc
t

Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 20


Không đc phép
nh

p kh

u

B


c 4

Làm th tc hi
quan
Tr li hoc loi b
Hoàn tt th
tc
Qun tr kinh doanh quc
t

Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 21

Bản sẽ thực hiện việc đóng gói nhãn hiệu “ Ceramic Ware safety Mark” lên các sản phẩm hoặc
lên các bao bì sản phẩm ( trường hợp sản phẩm được đóng gói trong hộp) sau khi các sản phẩm
này được kiểm tra và chứng nhận phù hợp với các quy định của Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm
của Nhật Bản. Phần III: Phân tích lợi thế cạnh tranh hàng gốm mỹ nghệ
Việt Nam ở thị trường Nhật

• Theo trình độ: gồm có các nghệ nhân, thợ cả, thợ lành nghề, thợ học việc.
• Theo các khâu: gồm có thợ nhào trộn đất, thợ phối liệu, tạo hình, thợ đốt lò, thợ tráng
men, hoạ sĩ, tiếp thị
• Theo nguồn: gồm có thợ gia đình, thợ làm thuê
• Theo phương thức: gồm có người quản lí, người lao động trực tiếp

Xét về trình độ có thể thấy hầu hết đây là những lao động phổ thông, trình độ văn hoá thấp,
không được qua trường lớp đào tạo. Trong số lao động chỉ trừ có hoạ sĩ, nhân viên tiếp thị được
qua các trường lớp đào tạo, còn hầu hết đều trưởng thành qua lao động trực tiếp. Vì vậy các lao
động phải mất nhiều thời gian học việc. Học nghề gốm được tiến hành ngay tại cơ sở sản xuất.
Những lao động gia đình được các thế hệ trước dạy bảo các công việc cụ thể, sớm biết nghề hơn
và thường được phân công trông coi thợ làm thuê.
2.Yếu tố tăng cường
-Hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển mẫu mã
o Dự kiến vốn đầu tư cho nhóm sản phẩm Gốm sứ: Vốn đầu tư giai đoạn 2001-2010 là 1.047 tỷ
đồng.
Hiệp hội gốm sứ xây dựng Việt Nam vừa chính thức ra mắt Viện nghiên cứu công nghệ gốm sứ
với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp gốm sứ Việt Nam.
Viện nghiên cứu công nghệ gốm sứ được thành lập để huy động nguồn lực của các thành viên
trong Hiệp hội Gốm sứ Xây dựng Việt Nam trong việc nghiên cứu và hợp tác về khoa học, phát
triển công nghệ, phát triển sản phẩm, dịch vụ khoa học công nghệ chuyên ngành vật liệu gốm sứ;
tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với hoạt động sản xuất, kinh
doanh và đào tạo nhân lực cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực gốm sứ.
Bên cạnh đó, Viện sẽ giúp nâng cao năng lực khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp sản
xuất sản phẩm gốm sứ trong nước, giảm sự phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị và nguyên liệu hóa
chất nhập khẩu của nước ngoài cũng như phát huy và sử dụng hiệu quả tiềm năng về nguyên liệu
gốm sứ và chất xám trong nước.
Qun tr kinh doanh quc
t


đặc biệt là những sản phẩm có kiểu dáng mang nét Châu Âu, có hoa văn thật đơn giản… Truớc
đây Nhật Bản nhập khẩu các mặt hàng này từ các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Hiện
nay, Nhật Bản đã chuyển sang nhập khẩu những mặt hàng này từ Việt Nam, Trung Quốc do có
chất lượng tương đương nhưng giá thành lại thấp hơn. Tuy nhiên, giá các mặt hàng này của
Qun tr kinh doanh quc
t

Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 24

Trung Quốc lại thường cao hơn của Việt Nam. Những hàng gốm được nhập từ các nước khu vực
Đông Nam Á phần lớn là hàng rẻ tiền. Những mặt hàng làm thủ công của khu vực này cũng đang
dần được nhập nhiều do ý thích hàng truyền thống của người Nhật.

Hàng châu Âu được biết đến với chất lượng và mẫu mã tuyệt vời, thường được bán trong các
bách hoá tổng hợp hoặc các cửa hàng chuyên dụng ở Nhật Bản. Phần lớn hàng châu Âu có nhãn
mác nổi tiếng và được người tiêu dùng Nhật ưa chuộng. Các chén tách, bộ đựng nước sốt, đĩa
đựng bánh kẹo của châu Âu, những thứ giờ đây đã trở thành lối sống Nhật Bản.
Người Nhật Bản dùng sản phẩm gốm nhà bếp làm theo kiểu truyền thống của Nhật và theo kiểu
phương Tây. Trên thị trường đã bắt đầu xuất hiện hàng theo kiểu phương Tây nhưng lại mang cả
nét đặc trưng của Nhật, có hình con thoi hay hình quả bầu dùng cho các mục đích khác nhau, từ
dùng để ăn mì ống đến cơm cari và cả món ăn Trung Quốc.
Các sản phẩm cốc chén kiểu phương Tây được dùng trong các dịch vụ uống trà và cà phê, đĩa
hình 6 cạnh thường dùng trong các món ăn truyền thống Nhật Bản như món sống "sashimi", các
loại đĩa to đường kính 20cm với độ sâu vừa phải thì được dùng để ăn món cơm cari. Người Nhật
thích màu xanh nhạt và hay chọn kiểu cách có hoa, thông dụng nhất là hoa hồng.
Ngoài ra người tiêu dùng Nhật Bản còn có các đặc điểm về nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng hàng gốm
mỹ nghệ như sau:
- Thích những gì đơn giản, nhỏ nhắn,
tinh tế và khéo léo hơn những thứ to
lớn, lộng lẫy, hoành tráng.

thành trong cả nước cho thấy, việc sản xuất gốm sứ tuy khác nhau ở mỗi cơ sở sản xuất, nhưng
đều gồm những công đoạn chung trình bày trong sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất gốm sứ như
sau:

Trích đoạn Trình độ công nghệ sản xuất Hoạt động nghiên cứu và phát triển mẫu mã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status