nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động giao nhận hàng hoá quốc tế của công ty vinafco logistics - Pdf 10

TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
Lời Nói Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong suốt những năm qua, đặc biệt là từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở
cửa, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Vận tải biển Việt Nam nói riêng đã
và đang có sự phát triển mạnh mẽ. Chính sách mở cửa gắn liền với quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế đã làm cho khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng lên nhanh
chóng, kéo theo đó là sự phát triển của dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế tại Việt
Nam.
Sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tạo điều
kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ giao nhận hàng hoá trên thế giới thâm nhập vào
thị trường Việt Nam làm cho mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Trong
bối cảnh các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế trong nước
còn nhỏ lẻ và manh mún thì khả năng dần bị đánh mất thị trường vào tay các nhà
cung cấp 100% vốn nước ngoài là rất lớn. Do đó, việc nâng cao khả năng cạnh tranh
của các nhà cung cấp dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế của Việt Nam là vấn đề
hết sức quan trọng.
Trong thời gian thực tập vừa qua tại công Vinafco Logistics, em nhận thấy rằng,
hoạt động giao nhận hàng hoá quốc tế của công ty phải chịu áp lực cạnh tranh rất
lớn đến từ nhà cung cấp dịch vụ giao nhận trong nước và quốc tế khác. Mặc dù vẫn
có được tỷ suất lợi nhuận cao nhưng do sức ép đến từ các đối thủ trực tíêp cùng
ngành là rất lớn nên trong thời gian gần đây, đà tăng trưởng của công ty Vinafco đã
có dấu hiệu chững lại. Các nhà cung cấp dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế lớn
trên thế giới với phương tiện kỹ thuật tiên tiến, chất lượng dịch vụ luôn ở mức rất
cao, cùng với các công ty trong nước luôn tìm mọi cách mở rộng thị phần điều đó
gây rất nhiều khó khăn cho công ty Vinafco. Chính vì vậy mà em lựa chọn đề tài
chuyên đề thực tập tốt nghiệp là: “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động
giao nhận hàng hoá quốc tế của công ty Vinafco Logistics” nhằm đưa ra được
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A

5. Kết cấu của chuyên đề.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được chia làm ba chương:
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
2
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
Chương I: Lý luận chung về sức cạnh tranh của dịch vụ và sự cần thiết phải
nâng cao sức cạnh tranh của dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận ở Việt Nam.
Chương II: Thực trạng sức cạnh tranh trong hoạt động giao nhận hàng hoá quốc
tế của công ty Vinafco Logistics.
Chương III: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của
dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế tại công ty Vinafco Logistics .
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
3
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
Chương I
Lý luận chung về sức cạnh tranh của dịch vụ và sự cần thiết
phải nâng cao sức cạnh tranh của dịch vụ giao nhận hàng hoá
quốc tế đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao
nhận ở Việt Nam.
1.1 Lý luận chung về cạnh tranh.
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh.
Ngày nay, thuật ngữ “cạnh tranh” đã trở nên rất quen thuộc đối với mọi nền kinh
tế. Tuy nhiên, để có thể hiểu một cách đúng đắn và đầy đủ nhất về cạnh tranh thì
không phải đơn giản. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh. Điều này
phụ thuộc vào cách tiếp cận của người tìm hiểu. Nếu theo cách hiểu thông thường

tạo môi trường tốt để phát triển. Điều này đã buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hoá
các yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh, phải triệt để không ngừng sáng tạo, tìm
tòi. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, nắm bắt thông tin kịp thời, chớp thời cơ. Cạnh tranh quyết định vị thế của
doanh nghiệp trên thường trường thông qua những lợi thế mà doanh nghiệp đạt
được nhiều hơn đối thủ cạnh tranh. Đồng thời cạnh tranh cũng là yếu tố làm tăng
hay giảm uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
Để tham gia vào thị trường, doanh nghiệp phải tuân theo quy luật đào thải chọn
lọc. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tự nâng cao chất lượng của mình, nâng
cao trình độ kiến thức về kinh doanh.
1.1.2.2 Đối với người tiêu dùng.
Cạnh tranh mang lại cho người tiêu dùng những hàng hoá dịch vụ tốt hơn, tính
năng ưu việt hơn. Cạnh tranh đem đến cho người tiêu dùng ngày càng nhiều chủng
loại hàng hoá, đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của khách hàng. Không những
thế cạnh tranh đem lại cho người tiêu dùng sự thoả mãn hơn nữa về nhu cầu tiêu
dùng.
1.1.2.3 Đối với nền kinh tế quốc dân.
- Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng mọi
thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
5
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
- Cạnh tranh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, dựa trên
tiến bộ khoa học công nghệ ngày càng cao vào trong sản xuất, hiện đại hoá nền kinh
tế.
- Cạnh tranh làm xoá bỏ những độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ những bất bình
đẳng trong kinh doanh.
- Cạnh tranh ngày càng nâng cao đời sống xã hội, góp phần gợi mở nhu cầu kích

hình bên cạnh đó sắp tổ chức đội ngũ cán bộ quản trị hợp lý để giảm chi phí quản
lý.
- Giảm chi phí thương mại: Chi phí thương mại liên quan đến các hoạt động
tiêu thụ sản phẩm trực tiếp có liên quan tới các động marketing đến các chi phí khác
như các chi phí quản lý khách hàng, chi phí lưu thông
- Giảm chi phí nhân công: Thông thường chi phí nhân công trong giá thành sản
phẩm được giảm bằng cách tăng năng suất lao động sử dụng yếu tố kỹ thuật thay
thế cho yếu tố lao động thông qua đầu tư đổi mới kỹ thuật công nghệ.
Mỗi chủ thể khi tham gia vào hoạt động kinh doanh đều phải biết đến phân tích
những đặc điểm, điểm mạnh, điểm yếu của mình, hạnh chế giảm bớt những điểm
yếu. Nếu những mặt mạnh của doanh nghiệp chính là lợi thế cho cạnh tranh thì cần
chú ý phát triển các lợi thế đó. Tuy nhiên các mặt khác mà doanh nghiệp không có
lợi thế bằng thì cũng không được bỏ qua. Sau đây là một số công cụ cạnh tranh chủ
yếu mà các doanh nghiệp thường sử dụng .
1.1.3.2 Công cụ cạnh tranh là sản phẩm và chất lượng sản phẩm.
* Công cụ cạnh tranh là sản phẩm.
- Đa dạng hoá sản phẩm:
+ Đa dạng hoá đồng tâm: Là hướng phát triển đa dạng hoá trên nền của sản
phẩm chuyên môn hoá dựa trên cơ sở khai thác mối quan hệ về công nghệ nguồn
vật tư và thế mạnh về cơ sở vật chất kỹ thuật.
+ Đa dạng hoá theo chiều ngang: Là hình thức tăng trưởng bằng cách mở rộng
các doanh mục sản phẩm và dịch cung cấp cho khách hàng hiện có của doanh
nghiệp. Thông thường những sản phẩm này không có mối liên hệ với nhau nhưng
chúng có những khách hàng hiện có nằm rất chắc.
+ Đa dạng hóa hỗn hợp: Là sự kết hợp của hai hình thức trên. Sử dụng chiến
lược này thường là những tập đoàn kinh doanh lớn hay những công ty đa quốc gia.
Đa dạng hóa hỗn hợp là xu thế của các doanh nghiệp hiện nay.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
7

_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
8
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
nghiệp không đủ điều kiện để phát triển mọi yếu tố chất lượng thì vẫn có thể đi sâu
vào khai thác thế mạnh một hoặc một vài yếu tố nào đó.
Để có thể cạnh tranh về mặt chất lượng, các doanh nghiệp cần phải hiểu biết
những mong đợi của khách hàng về mặt chất lượng như họ muốn cái gì?, khi nào?,
ở đâu?, và dưới hình thức nào?. Bên cạnh đó, để tạo sự khác biệt về chất lượng với
các đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp bắt buộc phải nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ các bộ công nhân viên và
nâng cao mức độ hiện đại hoá công nghệ. Đảm bảo chất lượng luôn là phương chân
kinh doanh và vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả của nhiều doanh nghiệp trên thế giới.
Trong điều kiện cạnh tranh mãnh mẽ hiện nay, các doanh nghiệp dịch vụ còn sử
dụng công cụ chất lượng ở khía cạnh tạo ra sự khác biệt hoá, thậm chí còn độc đáo
và duy nhất trên thị trường. Đây là một vấn đề cần thiết. quan trọng nhưng cũng rất
khó do quy trình sản xuất dịch vụ không đựơc bảo hộ bởi các bằng sáng chế. Vì
vậy, các doanh nghiệp dịch vụ bên cạnh việc đưa ra nhiều dịch vụ mới đã cố gắng
đa dạng hoá các dịch vụ cung ứng trên cơ sở đảm bảo chất lượng phân biệt để thu
hút khách hàng.
Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ là một trong những công cụ cơ bản nhất mà
các các doanh nghiệp thường áp dụng để nâng cao sức cạnh tranh dịch vụ của mình.
Xã hội ngày càng phát triển thì đòi hỏi càng cao về chất lượng thì vấn đề cạnh tranh
bằng chất lượng dịch vụ càng trở nên gay gắt. Chính vì vậy đối với những quốc gia
mà trình độ phát triển còn hạn chế sẽ rất khó có khả năng cạnh tranh trên thị trường
quốc tế.
1.2 Lý luận chung về dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế.
1.2.1 Khái niệm hoạt động giao nhận hàng hoá quốc tế.
Đặc điểm của buôn bán quốc tế là người mua và người bán ở những nước khác

nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý hoặc thuê dịch
vụ của người thứ ba khác. Dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế bao gồm bốn loại
thông dụng trên thế giới hiện nay là:
1.2.2.1 Loại dịch vụ thay mặt người gửi hàng (người xuất khẩu).
Theo những chỉ dẫn của người gửi hàng, người giao nhận sẽ thực hiện các
nhiệm vụ sau đây:
- Chọn tuyến đường, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp.
- Lưu cước với người chuyên chở đã chọn.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
10
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
- Nhận hàng và cung cấp những chứng từ thích hợp như: giấy chứng nhận hàng
của người giao nhận, giấy chứng nhận chuyên chở của người giao nhận…
- Nghiên cứu những điều khoản trong tín dụng thư và tất cả những luật lệ
của Chính phủ áp dụng vào việc giao hàng ở nước xuất khẩu, nước nhập khẩu
cũng như ở bất kỳ nước quá cảnh nào, và chuẩn bị tất cả những chứng từ cần
thiết.
- Đóng gói hàng hóa (trừ phi việc này do người gửi hàng làm trước khi giao
hàng cho người giao nhận) có tính đến tuyến đường, phương thức vận tải, bản chất
của hàng hóa và những luật lệ áp dụng nếu có ở nước xuất khẩu, nước quá cảnh và
nước gửi hàng đến.
- Lo liệu việc lưu kho hàng hóa nếu cần.
- Cân, đo hàng hóa.
- Mua bảo hiểm cho hàng hóa nếu người gửi hàng yêu cầu.
- Vận tải hàng hóa đến cảng, thực hiện việc khai báo hải quan, các thủ tục chứng
từ liên quan và giao hàng cho người chuyên chở.
- Thực hiện việc giao dịch ngoại hối, nếu có.
- Thanh toán phí và những chi phí khác bao gồm cả tiền cước.

lưu trong buôn bán quốc tế. Ngoài ra tùy theo yêu cầu của khách hàng, người giao
nhận cũng có thể làm những dịch vụ khác có liên quan đến các loại dịch vụ hàng
hóa đặc biệt như:
- Vận chuyển hàng công trình.
Việc này chủ yếu là vận chuyển máy móc nặng, thiết bị để xây dựng những
công trình lớn như sân bay, nhà máy hóa chất, nhà máy thủy điện, cơ sở lọc dầu từ
nơi sản xuất đến công trường xây dựng. Việc di chuyển những hàng hóa này cần
phải có kế hoạch cẩn thận để đảm bảo giao hàng đúng thời hạn và có thể cần phải
sử dụng cần cẩu loại nặng, xe vận tải ngoại cỡ, tàu chở hàng loại đặc biệt Đây là
một lĩnh vực chuyên môn hóa của người giao nhận.
- Dịch vụ về vận chuyển quần áo treo trên mắc.
Những quần áo may mặc được chuyên chở bằng những chiếc mắc áo treo trên
giá trong những container đặc biệt, và ở nơi đến được chuyển trực tiếp từ
container vào cửa hàng để bày bán. Cách này loại bỏ được việc phải chế biến lại
quần áo nếu đóng nhồi trong container và đồng thời tránh được ẩm ướt, bụi
bẩn…
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
12
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
- Triển lãm ở nước ngoài.
Người giao nhận thường được người tổ chức triển lãm giao cho việc chuyên chở
hàng đến nơi triển lãm ở nước ngoài. Người giao nhận phải tuân thủ những chỉ dẫn
đặc biệt của người tổ chức triển lãm về phương thức chuyên chở được sử dụng, về
nơi cụ thể làm thủ tục hải quan ở nước đến khi giao hàng triển lãm, về những chứng
từ cần lập…
1.2.2.4 Dịch vụ khác.
Ngoài những dịch vụ nêu trên, tùy thuộc vào yêu cầu của khách hàng, người
giao nhận cũng có thể làm những dịch vụ khác phát sinh trong quá trình chuyên chở

• Giao hàng hoá xuất khẩu cho tàu.
- Đối với hàng đóng trong container.
+ Nếu gửi hàng nguyên container (FCL):
. Người gửi hàng điền và ký Booking note rồi giao lại cho đại diện hãng tàu để
xin ký cùng Bản danh mục hàng xuất khẩu.
. Hãng tàu ký Booking note, cấp lệnh giao vỏ cotainer để chủ hàng mượn.
. Người gửi hàng đưa container rỗng về kho của mình để đóng hàng vào, lập
Bản chi tiết đóng gói, mang hàng ra cảng để làm thủ tục hải quan.
. Giao hàng cho tàu tại CY quy định, lấy Biên lai thuyền phó để lập B/L.
. Cảng bốc container lên tàu, người gửi hàng mang Biên lai thuyền phó đến
hãng tàu hoặc đại lý để lấy B/L.
+ Nếu giao hàng lẻ (LCL):
. Người gửi hàng mang hàng đến giao cho người vận tải tại CFS quy định và
lấy HB/L.
. Người chuyên chở hoặc người gom hàng đóng các lô hàng lẻ đó vào container,
xếp container lên tàu và vận chuyển đến nơi đến.
. Thanh lý, thanh khoản tờ khai hải quan.
- Đối với hàng hoá thông thường.
Người gửi hàng trực tiếp giao hàng cho tàu hay uỷ thác cho cảng để cảng giao
hàng cho tàu, cũng có thể giao nhận tay ba (người gửi, cảng, tàu) theo các bước:
. Trước khi xếp phải vận chuyển hàng từ kho cảng, lấy lệnh xếp hàng.
. Tiến hành bốc và giao hàng cho tàu.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
14
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
. Sau khi xếp hàng lên tàu, cảng sẽ lập Bản tổng kết xếp hàng lên tàu.
. Lấy Biên lai thuyền phó để trên cơ sở đó lập B/L.
. Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng hoá

_________________________________________________________________________
. Sau đó mang chứng từ đến kho CFS để nhận hàng.
• Đối với hàng nhập thông thường
Hàng nhập không đóng trong container có thể gồm: nguyên tàu, nguyên hầm tàu
hay rời từng lô nhỏ. Việc giao nhận những loại hàng này có thể tiến hành giữa cảng
với tàu, giữa người nhận với tàu hay giao nhận tay ba (tàu, cảng, người nhận).
- Trước khi dỡ hàng, tàu hoặc đại lý phải cung cấp cho cảng Bản lược khai hàng
hoá, Sơ đồ hầm tàu.
- Người nhận hàng và đại diện tàu tiến hành kiểm tra tình trạng hầm tàu.
- Dỡ hàng bằng cần cẩu của tàu hoặc của cảng và xếp lên phương tiện vận tải để
đưa về kho bãi.
- Lập Bản kết toán nhận hàng với tàu.
- Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận như Biên bản hư hỏng đổ
vỡ, Biên bản giám định, hay Giấy chứng nhận hàng thiếu (nếu cần).
Bước3. Làm thủ tục hải quan.
Sau khi có B/L và D/O có thể tiến hành làm thủ tục hải quan cho hàng nhập
khẩu. Thủ tục hải quan thường qua các bước:
- Chuẩn bị hồ sơ hải quan.
- Khai và tính thuế nhập khẩu. Người nhận tự khai và áp mã tính thuế.
- Đăng ký tờ khai.
- Đăng ký kiểm hoá.
- Tiến hành kiểm hoá ( nếu cần ).
- Kiểm tra thuế.
- Nhận thông báo thuế, đóng thuế và lệ phí hải quan.
Bước4. Quyết toán.
Thanh toán các chi phí cho cảng: tiền thưởng phạt xếp dỡ, tiền phạt lưu
container, tiền lưu kho bãi…
1.3 Các tiêu thức đánh giá sức cạnh tranh trong kinh doanh dịch vụ giao
nhận hàng hoá quốc tế.
_________________________________________________________________________

cạnh tranh mạnh nhất hoặc phù hợp nhất về qui mô cơ cấu, so sánh, rút ra những
mặt mạnh, những tồn tại để khắc phục trong thời gian tới. Chỉ tiêu này đơn giản và
dễ tính hơn, những thị phần mà doanh nghiệp mạnh chiếm giữ thường là khu vực
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
17
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
thị trường có lợi nhuận cao và rất có thể doanh nghiệp cần chiếm lĩnh khu vực thị
trường này. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn về những đối thủ
cạnh tranh chủ yếu. Chẳng hạn các hãng sản xuất máy tính, phần mềm thường so
sánh với Công ty Microsoft gây áp lực cạnh tranh với công ty khổng lồ này.
Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng có những hạn chế nhất định. Vì doanh thu của công
ty là toàn bộ kết quả hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của đơn vị chứ không
phải một lĩnh vực nào đó nên chỉ tiêu không phản ánh được hết điểm mạnh, điểm
yếu của công ty. Vì vậy, để tìm hiểu chính xác đòi hỏi doanh nghiệp phải đi sâu vào
nhiều lĩnh vực khác nhau, mất nhiều công sức, chi phí và không có tính thời điểm.
1.3.1.3 Tỷ lệ lợi nhuận.
Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu quả của
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị
trường, chuẩn bị và quá trình sản xuất kinh doanh cho đến tổ chức bán hàng và dịch
vụ cho thị trường. Nó phản ánh cả về chất và lượng sự cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nếu chỉ tiêu này thấp thì mức độ cạnh tranh của thị trường rất gay gắt, có quá nhiều
doanh nghiệp trong thị trường này và doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao khả
năng cạnh tranh nhằm nâng cao tỷ suất lợi nhuận, ngược lại nếu chỉ tiêu này cao thì
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mạnh. Doanh nghiệp có thể phát huy lợi thế
này và không ngừng đề phòng đối thủ cạnh tranh có thể thâm nhập thị trường bất cứ
lúc nào do sự thu hút lợi nhuận cao.
1.3.1.4 Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu.

cạnh tranh, mức độ hấp dẫn của dịch vụ đó về sự đa dạng so với các đối thủ cạnh
tranh và mức ấn tượng về hình ảnh dịch vụ cấp dịch vụ đó so với dịch vụ cùng loại
của các đối thủ cạnh tranh .
1.3.2.1 Văn hoá doanh nghiệp.
Nền văn hoá doanh nghiệp là yếu tố cạnh tranh lâu dài cho sự sống còn của
doanh nghiệp. Các tiêu thức về tài chính không phải là những tiêu chuẩn duy nhất
được nêu lên trước tiên mà còn có các tiêu chuẩn khác như vị trí doanh nghiệp trên
thị trường, mức tăng trưởng của doanh nghiệp, khả năng nghiên cứu và đổi mới.
Ngoài ra sự nắm bắt được sự thay đổi của nhu cầu thị trường, chất lượng hàng hoá
chất lượng dịch vụ là những tiêu chuẩn hết sức cần thiết.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
19
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
Kết quả tổng hợp đánh giá các tiêu chuẩn, đánh giá chất lượng cạnh tranh của
doanh nghiệp được phản ánh bằng qui mô tiêu thụ, vì vậy thị phần mà doanh nghiệp
có được coi là chỉ số tổng hợp đo lường cạnh tranh của nó, để có sức cạnh tranh,
một doanh nghiệp phải giữ được bộ phận có ý nghĩa kinh tế của thị trường, dù đó là
thị trường địa phương, quốc gia hay thế giới. Qua chỉ số đồng nhất này có thể đánh
giá thành tích của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh khác cũng như thắng lợi
giữa các đối thủ cạnh tranh của nhau
1.3.1.2 Mức chênh lệch về giá cả của dịch vụ so với đối thủ cạnh tranh.
Giá cả của dịch vụ là do quan hệ cung cầu chi phối. Khi 2 dịch vụ có cùng chất
lượng thì dịch vụ nào có giá thấp hơn sẽ được người tiêu dùng lựa chọn. Nhưng mặt
khác cần chú ý đến đặc tính của từng loại dịch vụ. Đối với dịch vụ tiêu dùng hằng
ngày thì giá rẻ, chất lượng vừa phải luôn là một chọn lựa thường xuyên của người
mua. Nhưng đối với những dịch vụ cao cấp như nhà hàng, khách sạn, resort… thì
chất lượng lại là mối quan tâm hàng đầu, sau đó mới đến giá cả. Mức giá mà một
doanh nghiệp đưa ra trước hết phải bù đắp được chi phí và có lãi, nhưng để cạnh

nhà cung cấp mà xây dựng được hình ảnh tốt đẹp trong tâm trí của khách hàng thì
dịch vụ của nhà cung cấp đó sẽ hấp dẫn hơn nhiều so với các dịch vụ của đối thủ
cạnh tranh.
1.4 Các yếu tố tác động đến sức cạnh tranh trong kinh doanh dịch vụ.
1.4.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
1.4.1.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
* Các nhân tố về kinh tế.
Các yếu tố về mặt kinh tế có vai trò quan trọng, quyết định đối với việc hình
thành và hoàn thiện môi trường kinh doanh. Đồng thời các nhân tố này cũng ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nhân tố về mặt kinh tế gồm:
tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, giá trị hối đoái, lãi xuất ngân hàng, lạm phát
* Các nhân tố thuộc về chính trị, luật pháp.
Một thể chế chính trị, một hệ thống pháp luật rõ ràng, ổn định sẽ là cơ sở đảm
bảo cho sự thuận lợi, bình đẳng giữa các doanh nghiệp và là hành lang pháp lý vững
chẵc để đảm bảo cho các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường kinh doanh.
* Các nhân tố thuộc về khoa học và công nghệ.
Khoa học công nghệ đóng vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định trong cạnh
tranh. Khoa học công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của doanh nghiệp, nhờ có
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
21
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
khoa học và công nghệ mà doanh nghiệp có thể tạo ra những sản phẩm có chất
lượng tốt. Dưới sự phát triển của khoa học và công nghệ cao sẽ làm cho sản phẩm
bị lão hoá nhanh chóng, vòng đời bị rút ngắn phần thắng sẽ nghiêng về các doanh
nghiệp có trình độ máy móc, khoa học công nghệ hiện đại.
* Các yếu tố văn hoá xã hội.
Phong tục tập quán, lối sống, thói quen, tín ngưỡng tôn giáo của người tiêu
dùng, ảnh hưởng đến nhu cầu của thị trường. Ở những khu vực địa lý khác thì nhu

được khách sao cho họ bằng lòng mua hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp, hợp tác
trong thời gian lâu dài. Để làm được điều này, doanh nghiệp phải không ngừng
nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm của mình để thoả mãn tối đa nhu cầu của
khách hàng mang lại cho họ sự hài lòng trong khuôn khổ nguồn lực của doanh
nghiệp sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
* Các đối thủ cạnh tranh trực tiếp:
Các doanh nghiệp cần phân tích những đối thủ cạnh tranh để nắm bắt và xây
dựng được các biện pháp phản ứng và hành động mà họ có thể thông qua. Các phản
ứng chủ yếu trong việc phân tích đối thủ cạnh tranh mà các doanh nghiệp khi có ý
định tham gia vào một nghành nghề nào đó cần xem xét là cường độ cạnh tranh
trong ngành đó là mạnh hay yếu để tính đến những chi phí cạnh tranh có thể bỏ ra
và những cơ hội có thể đạt được. Để phân tích cường độ cạnh tranh trong ngành cần
xét tới.
- Tốc độ tăng trưởng ngành.
- Mức độ hiểu biết về nhau giữa các đối thủ trong ngành.
- Số lượng doanh nghiệp trong ngành.
- Công suất máy móc thiết bị của doanh nghiệp sản xuất
- Rào cản gia nhập ngành và rút lui khỏi ngành.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
23
Hàng thay thế
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
* Các đối thủ tiềm ẩn:
Cạnh tranh trong ngành sẽ trở nên gay gắt và khốc liệt thêm nếu xuất hiện thêm
các doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh trong ngành. Các doanh nghiệp cũ trong
ngành có lợi thế về: Kinh nghiệm, uy tín sản phẩm, khách hàng, các kênh phân
phối Tuy nhiên, nếu các đối thủ cạnh tranh có quy mô lớn về tài chính, sự vượt trội
về công nghệ thì đó có thể là mối nguy cơ đối với bất cứ doanh nghiệp nào đang

1.4.2 Các yếu tố bên trong của doanh nghiệp.
1.4.2.1 Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực được coi là vấn đề sống còn với một tổ chức trong tương lai. Vì
lĩnh vực dịch vụ sử dụng nhiều lao động nên chi phó nhân công tăng rất nhanh. Do
đó chất lượng lao động và nâng cao năng suất lao động trong lĩnh vực này có tầm
quan trọng to lớn. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đựơc chia làm 3 cấp.
- Quản trị viên cấp cao: gồm ban giám đốc và các trưởng phó phòng ban. Đây là
đội ngũ có ảnh hưởng rất lớng đến kết quả sản xuất kinh doanh. Nếu họ có trình độ
quản lý, có nhiều kinh nghiệm trên thương trường, có khả năng đánh giá và quan hệ
đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có sức cạnh tranh cao và ngược lại.
- Quản trị viên cấp trung gian: Đây là đội ngũ đòi hỏi phải có kinh nghiệm công
tác, khả năng ra quyết định và điều hành công tác.
- Đội ngũ quản trị viên cấp cơ sở: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phần
nào cũng chịu sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố như: năng suất lao
động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng tạo của
họ…. bởi vì các yếu tố này chi phối việc nâng cao chất lượng dịch vụ, hạ giá thành
dịch vụ cũng như tao thêm tính ưu việt, độc đáo mới lạ của dịch vụ. Chất lượng
nguồn nhân lực còn được thể hiện ở trình độ quản lý của đội ngũ quản trị viên của
doanh nghiệp.
1.4.2.2 Nguồn nhân lực vật chất và tài chính.
* Máy móc thiết bị.
Tình trạng máy móc thiết bị có ảnh hưởng to lớn tới năng lực sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan trọng thể hiện năng lực sản
xuất của doanh nghiệp và nó tác động trực tiếp tới sản phẩm, chất lượng và giá
thành sản phẩm. Một doanh nghiệp có hệ thống máy móc trang thiết bị hiện đại thì
sản phẩm của họ có sẽ chất lượng cao, giá thành hạ và như vậy khả năng cạnh tranh
sẽ cao hơn hẳn các doanh nghiệp khác.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status