Tài liệu SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG NUÔI TÔM - Pdf 10



SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG NUÔI TÔM

Sự phát triển nhanh chóng của hoạt động nuôi tôm đã kéo theo việc suy giảm
sản lượng trên toàn thế giới mà nguyên nhân chính là việc bùng phát dịch bệnh, chủ
yếu là vi khuẩn phát sáng Vibrio và vi khuẩn đốm trắng. Tình trạng này gần như
chắc chắn có sự trợ giúp của những việc như nuôi tôm với mật độ quá cao, sử dụng
kháng sinh và hóa chất với liều cao.
Trong năm 2002, Cộng đồng châu Âu và Hoa Kỳ bắt đầu kiểm tra và trả về
nhiều sản phẩm tôm nhập khẩu do có dư lượng các chất chloramphenicol và
nitrofurans đã bị cấm sử dụng trong sản xuất thực phẩm tại châu Âu và Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, có sự không nhất quán về các chỉ tiêu kiểm tra giữa Hoa Kỳ và châu Âu.
Việc Châu Âu đưa ra mức dư lượng bằng không đối với các sản phẩm tôm nhập
khẩu đã dẫn tới nhiều tranh chấp quốc tế về thương mại.
Ngày nay chế phẩm sinh học là một công cụ quản lý đã có được nền tảng vững
chắc cho phần lớn hoạt động nuôi tôm trên thế giới. Chế phẩm sinh học đã được
chấp thuận rộng rãi để khống chế các nguồn dịch bệnh trong nuôi tôm, tăng sức đề
kháng và chống lại bệnh dịch. Ngoài ra, còn giúp hạn chế việc sự dụng kháng sinh
hay hóa chất mà vẫn còn được cho phép tại một vài khu vực. Ngược lại với các
kháng sinh, chế phẩm sinh học cung cấp một phương thức an toàn và bền vững đối
với người nuôi và người tiêu dùng.
Chế phẩm sinh học lần đầu tiên được Giáo sư Fuller R. (1989) định nghĩa như
sau: thành phần thức ăn có cấu tạo từ những vi khuẩn sống và có tác động hữu ích
lên vật chủ qua việc làm cải thiện sự cân bằng vi khuẩn đường ruột của nó. Định
nghĩa này có thể mở rộng thêm như sau: sự nuôi dưỡng các vi sinh vật hoàn toàn tự
nhiên và có tác động tích cực khi được đưa vào điều kiện ao nuôi. Từ chế phẩm sinh
học (probiotics) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp bao gồm hai từ pro có nghĩa là dành
cho và biosis có nghĩa là sự sống. Thay cho việc tiêu diệt các bào tử vi khuẩn, chế
phẩm sinh học được sản xuất với mục đích kích thích sự gia tăng các loài vi khuẩn
có lợi trong ao.

một hệ thống kín, lượng nước thay đổi không vượt quá 20% đối với ao nuôi và
không vượt quá 40% đối với bể giống (Chế phẩm sinh học rất thích hợp trong toàn
bộ giai đoạn sản xuất giống PL). Cần linh hoạt trong khi sử dụng chế phẩm sinh
học, khi rủi ro lây bệnh cao thì cần tăng liều sử dụng định kỳ.
Chế phẩm sinh học có tác dụng ngăn ngừa nguồn gây bệnh hơn là điều trị
bệnh và bao gồm các lợi ích như: tăng sản lượng; tăng trọng lượng con tôm; giảm
các bệnh nguy hại và khả năng mắc bệnh; loại bỏ việc sử dụng kháng sinh; cải thiện
tác động môi trường; cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn; giảm việc thay nước; phân
hủy các chất hữu cơ; loại bỏ ammonia và các hợp chất của nitrogen và giảm mùi
hôi.
Trong quá trình liên tục tăng trưởng kinh tế sự cần thiết bảo vệ môi trường
không chỉ ở từng vùng mà còn trên phạm vi toàn cầu. Hoạt động nuôi tôm cùng với
việc tăng sản lượng và số vụ nuôi trong năm thì phải đảm bảo hạn chế tối thiểu
những tác động lên môi trường sinh thái.
Sử dụng chế phẩm sinh học là việc áp dụng công nghệ sinh học giúp nâng cao
và đảm bảo sản lượng nuôi mà đã được công nhận rộng rãi như phương thức điều trị
tốt hơn, rẻ hơn và hiệu quả hơn so với việc sử dụng các kháng sinh. Các sản phẩm
sinh học hoạt động như một phần trong tổng thể quản lý hoạt động nuôi tôm bền
vững nhằm chống lại nguồn gây bệnh trong qui trình nuôi.
Bảng tóm lược lợi ích của chế phẩm sinh học đối với tính chất nước ao
nuôi tôm:

Tính chất nước
Lợi ích của BZT
Độ mặn
0 40 ppt
pH
6.5 9.0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status