Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
1. Đặt Vấn Đề
Trong các ngành công nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi hàng năm tiêu
thụ một lượng nước rất lớn. Từ đó thải ra một lượng nước thải rất lớn có nồng độ
ammonium khá cao. Việc xả bỏ N - ammonium vào môi trường là một trong
những nguyên nhân chính gây nên hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, dẫn
đến ô nhiễm và mất cân bằng sinh thái. Vì vậy việc nghiên cứu ứng dụng các quá
trình khử ammonium trong các loại nước thải giàu nitơ mang một ý nghóa thực
tiễn cao.
nước ta, công tác xử lý nước thải thường chỉ chú trọng đến việc loại bỏ
COD, BOD mà chưa quan tâm đúng mức đối với chỉ tiêu ô nhiễm ammonium. Tại
TP. Hồ Chí Minh chỉ có một số ít các cơ sở, xí nghiệp chăn nuôi có trang bò hệ
thống xử lý nước thải và hầu hết là thải bỏ ra các kênh rạch, sông suối
Khám phá các loại vi sinh vật mới nhằm tìm ra các phương pháp mới để khử
ammonium trong nước thải từ lâu đã được nghiên cứu trên thế giới. Ứng dụng quá
trình Nitrification –Anammox để xử lý nước thải công nghiệp đang là đề tài hấp
dẫn các nhà sinh vật học và môi trường học. Ở Việt Nam, ngành công nghệ môi
trường tuy vẫn còn non trẻ, nhưng với sự quan tâm đặc biệt của nhà nước nên
trong những năm gần đây đã có những tiến bộ đáng kể trong công tác nghiên cứu
và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công nghệ xử lý nước thải bảo vệ
môi trường.
Chính vì những lý do trên mà việc nghiên cứu ứng dụng quá trình
Nitrification – Anammox, là quá trình khử ammonium bằng vi sinh vật hiếu khí-
kỵ khí trong nước thải ngành chăn nuôi để cho sản phẩm cuối cùng là khí nitơ,
một loại khí được xem như vô hại đối với môi trường, sẽ mở ra một hướng đi mới
không những mang ý nghóa về mặt khoa học, hơn thế nữa nó còn phù hợp với
quan điểm phát triển bền vững hiện nay, đó là tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với
bảo vệ môi trường.
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
1
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
Nghiên cứu tài liệu liên quan đến cơ sở lý thuyết và cơ sở thưc tiễn
của quá trình Nitrification và Anammox trong và ngoài nước.
Phương Pháp Nghiên Cứu
Tạo sự thích nghi cho các vi khuẩn Nitrosomonas, Nitrobacter và
Anammox trong môi trường chứa bùn thải.
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
2
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
Xây dựng mô hình, vận hành ở các điệu kiện khác nhau.
Phân tích các chỉ tiêu hóa lý trong phòng thí nghiệm theo TCVN của
nước thải đầu vào và đầu ra nhằm ổn đònh các thông số.
Từ các thông số đưa ra quy trình xử lý thích hợp.
5. Giới Hạn Đề Tài
Các thí nghiệm và vận hành mô hình Pilot với quy mô 200 – 500 lít/ngày
và thiết bò phản ứng ghép SHARON – ANAMMOX được thực hiện tại Viện Sinh
Học Nhiệt Đới Thành Phố Hồ Chí Minh.
Nước thải được lấy từ Xí nghiệp heo giống Đông Á, huyện Dó An, tỉnh
Bình Dương.
Nội dung tập trung vào việc ứng dụng quá trình Nitrification và Anammox
để khử ammonium trong nước thải Xí nghiệp heo giống Đông Á. Từ đó đề xuất
dây chuyền công nghệ thích hợp để khử ammonium trong nước thải chăn nuôi
heo.
6. Đòa Điểm - Thời Gian Nghiên Cứu
Đòa Điểm
Đề tài này được thực hiện tại Phòng Công Nghệ Biến Đổi Sinh Học và Môi
Trường thuộc Viện Sinh Học Nhiệt Đới (Khu Thực Nghiệm Khoa Học và Công
Nghệ Thủ Đức)
Giới Thiệu Viện Sinh Học Nhiệt Đới
Viện Sinh Học Nhiệt Đới được thành lập theo Nghò đònh 24/CP của Thủ
Tướng Chính Phủ Nùc CHXHCN Việt Nam ngày 25/05/1993 và quyết đònh số
lý triệt để nguồn ô nhiễm dạng nitơ trong nước thải, vì sản phẩm cuối cùng của
quá trình là khí nitơ được coi là vô hại đối với hệ sinh thái.
Ý Nghóa Thực Tiễn
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
4
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
Sự thành công của đề tài mở ra khả năng ứng dụng trong xử lý
nguồn nước thải giàu ammonium hiệu quả và tiết kiệm
Vì quá trình diễn ra trong điều kiện sục khí có giới hạn nên giảm
tiêu hao năng lượng một cách đáng kể. Mặt khác không cần phải thêm chất dinh
dưỡng nên có thể tiết kiệm lượng hóa chất lớn
Sản phẩn cuối cùng của quá trình là khí nitơ không độc hại với môi
trường
Tính Mới Của Đề Tài
Xác đònh được khả năng ứng dụng của quá trình Nitrification và
Anammox để khử ammonium trong nước thải chăn nuôi heo
Xác đònh được khả năng áp dụng vào công nghệ xử lý nước thải
chăn nuôi heo bằng ứng dụng phản ứng ghép SHARON – ANAMMOX.
8. Tính Thực Tế Của Đề Tài
Đề tài nghiên cứu này có tính ứng dụng rất cao vì trong nước thải ở một số
ngành có nồng độ ammonium cao như: nước thải chăn nuôi heo, nước thải ở các
nhà máy chế biến mủ cao su, nước rỉ rác, nước thải nhà máy chế biến thuỷ sản….
9. Nhu Cầu Kính Tế Xã Hội
Phương pháp này ít tốn kém nhưng có hiệu quả xử lý cao hơn so với những
phương pháp xử lý hiện nay.
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
5
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
CH ƯƠ NG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU TRONG NƯỚC –
TỔNG QUAN CHUNG VỀ NƯỚC THẢI, NƯỚC THẢI
Sau đây là một số chất thải có mặt trong nước thải của một số ngành sản
xuất công nghiệp.[1]
Đồ da: canxi, hydrosunfua, natrisunfua, crom, kẽm.
Đồ gốm: bari, cadimi, liti, mangan…
Nhà máy sơn: bari, clorat, cadimi, coban, chì, kẽm, amoni, xút, các chất
axit, các chất hữu cơ…
Thuốc trừ sâu: đồng, bari, asen, silicflo, clo, một số chất độc hữu cơ.
Hoá dầu: các acid, kim loại, clorua, sunfat, các chất hữu cơ…
Công nghiệp chăn nuôi: vi sinh, các hợp chất hữu cơ, các vi trùng, COD,
NO
3
-
, NO
-
2
, NH
+
4
…
I.1. Sự Nhiễm Bẩn Nguồn Nước
Sự nhiễm bẩn nguồn nước có thể xảy ra bằng hai cách: sự nhiễm bẩn tự
nhiên và sự nhiễm bẩn nhân tạo. [3],[8]
Sự nhiễm bẩn tự nhiên là do quá trình phát triển và chết đi của các loài
thực vật, động vật có trong nguồn nước, hoặc là do nước mưa lôi theo các
chất bẩn từ trên mặt đất chảy vào nguồn nước.
Sự nhiễm bẫn nhân tạo chủ yếu là do xả nước sinh hoạt và công nghiệp
vào nguồn nước.
Nguồn nước bò nhiễm bẩn có thể đánh giá bằng các dấu hiệu đặc trưng sau đây.
Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống
đáy nguồn.
Nhóm 2: gồm các chất không tan ở dạng keo ( những hạt có kích thướt từ
10
-4
đến 10
-6
mm)
Nhóm 3 : gồm các chất hòa tan ở dạng hạt phân tử. Những hạt này có
đường kính < 10
-6
mm. Chúng không tạo thành pha riêng biệt và hệ trở
thành hệ một pha hay còn gọi là dung dòch thật.
Theo bản chất của mình, các chất bẩn trong nước bao gồm: các chất bẩn hữu cơ,
vô cơ, vi sinh vật và sinh vật.[11]
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
8
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
Các chất bẩn vô cơ trong nước thải sinh hoạt chiếm 42%, gồm có cát, các
hạt đất sét, xỉ quặng, các muối khoáng, các acid vô cơ, kiềm vô cơ, các dầu
khoáng…
Các chất bẩn hữu cơ trong nước thải sinh hoạt chứa 58% gồm các chất hữu
cơ thực vật và hữu cơ động vật.
Các chất hữu cơ thực vật có trong nước thải sinh hoạt gồm: cặn bã thực vật,
rau hoa quả, giấy…nguyên tố hoá học chính của dạng chất bẩn này là
cacbon.
Các chất hữu cơ động vật có trong nước thải sinh hoạt gồm: các chất bài
tiết của con người và động vật, cặn bã xác động vật…đặc điểm của chúng
là chứa một hàm lượng lớn nitơ.
Nhiễm bẩn vi sinh vật và vi sinh là do nhiều loại vi sinh vật và sinh vật tạo
nên: các loại nấm men, nấm mốc, rong tảo nhỏ và vi khuẩn. Trong số đó
có cả vi khuẩn gây bệnh. Thí dụ các tác nhân gây bệnh thương hàn, lỵ…
hiện nay ra các huyện Củ Chi, Hốc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.
Bên cạnh đó, chăn nuôi được khuyến khích phát triển và tạo điều kiện nâng
cao tỉ trọng chăn nuôi công nghiệp, thực hiện tốt di dời các cơ sở chăn nuôi gây ô
nhiễm, kết hợp với bố trí lại, di chuyển các trại chăn nuôi ra vùng nông nghiệp ổn
đònh lâu dài, kết hợp với công nghiệp hoá, hiện đại hoá các khâu sản xuất giống,
chuồng trại, thức ăn gia súc, xử lý nước thải…
Sau năm 2000, các cơ sở chăn nuôi công nghiệp được xây dựng chủ yếu ở
Củ Chi và một số vùng nông thôn ở Hóc Môn, Bình Chánh, Thủ Đức, Nhà Bè,
Cần Giơ …(tuỳ đối tượng nuôi và hạn chế tối đa ở các khu dân cư tập trung, vùng
đô thò hoá) và đạt mục tiêu phấn đấu giai đoạn 2000-2010 sẽ cung cấp sản phẩm
chăn nuôi cho khoảng 6 triệu người (hiện ngành chăn nuôi chỉ đáp ứng được 21-
37% nhu cầu thòt cho thành phố).
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
10
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
I.4. Sự Ô Nhiễm Nước Thải Chăn Nuôi Heo
Các đơn vò chăn nuôi công nghiệp hiện nay của TP.HCM phần lớn nằm
trong vùng phát triển đô thò và khu công nghiệp, đang dần bộc lộ rõ các nhược
điểm về mặt bằng hạn hẹp, không đảm bảo vệ sinh thú y theo quy đònh của pháp
lệnh thú y về mặt không gian và nhất là không có điều kiện xử lý trước khi thải
vào môi trường mà được đổ ra kênh rạch, sông ngòi, đất đai xung quanh làm ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng. (Nội thành TP.HCM đang có nhiều xí nghòêp
chăn nuôi heo quy mô trung bình khoảng trên dưới 2000 đầu heo mỗi xí nghiệp,
nước thải trong quá trình chăn nuôi thải ra môi trường mỗi ngày từ 100 - 300m
3
/xí
nghiệp). Do đònh hướng chuyển dòch cơ cấu giảm tỉ lệ trồng trọt, tăng tỉ lệ chăn
nuôi nên lượng nước thải thải vào môi trường sẽ ngày càng tăng.
Nước thải chăn nuôi heo là một trong những loại nước thải gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng nhất, là nguồn nước thải không an toàn do chứa hàm lượng
thường thì nước thải chăn nuôi heo có hàm lượng chất hữu cơ khá cao: SS:180 –
1248 mg/l; COD: 500 – 3000; BOD: 300 – 2100 mg/l; NH
4
+
: 15- 865mg/l;
Escherichia Coli: 15.10
5
– 68,3.10
7
MPN/ 100ml; Steptococcus Faecalis 3.10
2
–
3,5.10
3
MPN/ 100ml; Clostridium Perfringens: 50 – 160 tế bào/ 100ml. Kết quả
phân tích nước rửa chuồng heo của Xí Nghiệp chăn nuôi heo Khang Trang được
ghi nhận ở bảng 2
Bảng 2: Thành phần lý hoá học của nước thải chăn nuôi heo Xí Nghiệp Khang
Trang, Q.12 -Tp.HCM
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
Tác nhân ô nhiễm Thành phần trung bình (mg/l)
TS
Cặn lơ lửng (SS)
Cặn hòa tan
BOD
5
COD
Tổng N
Tổng P
3.082
Các chất rắn lơ lửng phân tán, các chất keo có kích thước nhỏ hơn 10
-4
mm
không thể tự lắng được hoặc lắng với tốc độ rất chậm có thể được loại bỏ bằng
phương pháp đông tụ và keo tụ
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
Các chất đông tụ thường dùng là các loại muối nhôm, sắt hay hỗn hợp của
chúng. Ngoài ra, để tăng hiệu suất đông tụ, người ta còn sử dụng thêm các chất
trợ đông tụ. Các chất trợ đông tụ có tác dụng nâng cao tốc độ lắng của các bông
keo đồng thời giảm lượng chất đông tụ, giảm thời gian đông tụ. Các chất trợ đông
tụ có thể là các polyme tự nhiên như tinh bột, xellulose, dextrin, các polyme tổng
hợp như polyacrylamid, hoặc các chất đông tụ vô cơ như natri, silicat hoạt tính…
I.5.2.2. Tuyển Nổi
Tuyển nổi là phương pháp được sử dụng để tách các tạp chất ở dạng rắn
hoặc lỏng, phân tán không tan, tự lắng kém trong pha lỏng và một số chất hoà tan
như các chất hoạt động bề mặt. Ưu điểm của phương pháp tuyển nổi là có thể
loại bỏ các hạt nhỏ, nhẹ, lắng chậm trong một khoảng thời gian ngắn. Tuy nhiên,
các thiết bò tuyển nổi có các mao quản dễ bò bẩn, tắc nghẹt và khó lựa chọn các
loại vật liệu để có kích thước mao quản giống nhau để đảm bảo tạo thành các bọt
khí có kích thước đồng nhất.
I.5.2.3. Hấp Phụ
Được sử dụng để làm sạch triệt để nước thải khỏi các chất hữu cơ hoà tan
sau khi xử lý sinh học cũng như xử lý sơ bộ khi trong nước thải có một hàm lượng
rất nhỏ các chất không được phân giải bằng con đường sinh học và thường có độc
tính cao như phenol, alkylbenzen, sulfonic acid… Một số chất hấp phụ được sử
dụng phổ biến là than hoạt tính, các nhựa cao phân tử như scavenger là loại nhựa
cenion có độ xốp lớn
I.5.3. Xử Lý Nước Thải Bằng Phương Pháp Hoá Học
Các phương trình tổng quát của quá trình oxy hoá sinh hoá nhờ các vi sinh
vật ở điếu kiện hiếu khí:
C
x
H
y
O
z
N + NH
3
+ O
2
vi sinh vật xCO
2
+ (Y-3)/2 H
2
O + NH
3
+ 4H
+
Phản ứng tổng hợp để xây dựng tế bào
C
x
H
y
O
z
N + NH
3
+ O
3
+ 2O
2
visinh vật 2HNO
2
+ O
2
vi sinh vật 2HNO
3
I.5.4.1. Xử Lý Nước Thải Bằng Phương Pháp Lên Men Hiếu Khí
Nguyên lý chung của phương pháp này là các vi sinh vật hiếu khí sử dụng
oxy của không khí để phân huỷ các chất hữu cơ thành CO
2
và H
2
O
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
15
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
Các chất hữu cơ hoà tan, cả chất keo và các chất phân tán nhỏ sẽ được
chuyển hoá bằng cách hấp phụ và keo tụ trên bề mặt các tế bào vi sinh vật. Tiếp
đó trong quá trình trao đổi chất dưới tác dụng của các men nội bào, chất hữu cơ
sẽ được phân huỷ
Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ bởi các vi sinh vật hiếu khí có thể được
biểu diễn một cách tổng quát như sau:
Các chất hữu cơ + O
2
vi khuẩn CO
2
+ H
Chất có khối thuỷ phân phân tử thích hợp cho vi sinh
lượng phân tử lớn ENZIN sử dụng và xây dựng tế bào
Bước 2:
Các chất sau Acidozens các chất có phân tử lượng thấp
bước 1 ENZIN chủ yếu là các acid CH
3
OH,CO
2
Bước 3:
Các chất sau Methanogens CH
4
+ CO
2
bước 2
Bước 1 và 2 có thể xem như là giai đoạn 1 còn bước 3 như là giai đoạn 2
I.5.4.3. Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Xử Lý Nước Thải Bằng
Phương Pháp Sinh Học
Trong phương pháp sinh học xử lý nước thải tác nhân là vi sinh học – đó là
một cơ thể sống – do vậy mọi yếu tố ảnh hưởng đến sinh lý của vi sinh vật đều
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất xử lý nước thải. Ví dụ ( nhiệt độ, pH, oxy, nồng
độ chất, sự khuấy trộn, lượng vi sinh vật, chất vi lượng, thời gian…)
Nhiệt độ
Với phương pháp sinh học, nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến sự làm
sạch nước thải. Nhiệt độ bình thường trong một năm thường có thể thay đổi trong
giới hạn nước thải nhờ vi sinh vật cũng thay đổi theo. Người ta thấy rằng nhiệt độ
hạ từ 20
0
C xuống từ 2 – 5
0
C đến 25 – 35
Nồng độ oxy hoà tan
Đặc biệt quan trọng với phương pháp hiếu khí. Tốc độ oxy hoà tan
trong nước thải phải nhỏ hơn tốc độ sử dụng oxy của hệ vi sinh vật trong hệ thống
làm sạch nước thải (với phương pháp hiếu khí).
Oxy cần thiết cho sinh trưởng phát triển của vi sinh vật, giảm lượng oxy
sẽ làm giảm vận tốc sinh trưởng vi sinh vật và giảm vận tốc làm sạch nước thải.
Với nồng độ oxy khoảng 1mg/l không làm biến đổi vận tốc làm sạch,
nhưng nếu khi nồng độ oxy giảm còn 0,5mg/l thì vận tốc làm sạch sẽ giảm.
Trung bình lượng oxy từ 1 – 5 mg/l phù hợp cho quá trình làm sạch hiếu
khí.
Khuấy trộn dòch nước thải và tác nhân vi sinh vật.
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
18
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
Sự khuấy trộn hỗn hợp dòch thải và tác nhân mang vi sinh vật đều có
ảnh hưởng tốt đến hiệu quả làm sạch nước thải, phân huỷ nhanh chóng các chất
nhiễm bẩn có trong nước. Do tác động khuấy trộn các phần tử được va chạm
nhau, tạo thành các phần tử nhỏ hơn tăng bề mặt tiếp xúc với vi sinh vật, điều đó
làm tăng vận tốc phân huỷ.
Một số nguyên tố cần cho dinh dưỡng vi sinh vật.
Ngoài nguồn nguyên liệu cung cấp cacbon, vi sinh vật còn cần Nitơ,
photpho… cho dinh dưỡng của chúng; N và P đều là vật liệu tham gia cấu trúc tế
bào và có vai trò trong trao đổi năng lượng. Không đủ lượng N, P cần thiết thường
làm giảm vận tốc làm sạch – cũng có những loại nước thải có đủ lượng N, P cho
vi sinh vật. Ngoài ra còn cần thêm Mg, K, Na. muối sunfat, Nitratamon, ure, dòch
amoniac, super photphat, Ortophophoric acid…
Những loại nước thải nào có lượng N, P quá cao cần phải pha loãng
nước thải trước khi xử lý với mục đích giảm nồng độ N, P xuống để không ảnh
hưởng đến sinh lý bình thường của vi sinh vật.
I.5.5. Xử Lý Nước Thải Qua Bể UASB (Bể Bùn Hoạt Tính)
Các hệ thống xử lý nước thải bậc 2 thông thường được thiết kế để loại các
chất hữu cơ ( đánh giá qua các thông số BOD
5
, COD ), và chỉ có hiệu quả loại
nitơ một phần. Do vậy, việc lọai nitơ thường phải được tiến hành ở giai đoạn tiếp
theo sau – tức xử lý bậc cao. Công nghệ sinh học truyền thống để xử lý nitơ lâu
nay là dựa vào sự kết hợp của 2 quá trình: nitrat hóa (nitrification) và khử nitrat
(denitrification). Tuy nhiên, công nghệ xử lý truyền thống này có những hạn chế
nhất đònh và sự cải tiến công nghệ xử lý nitơ đã được quan tâm từ những thập
niên cuối thế kỷ XX.
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
20
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
Năm 1995, một phản ứng chuyển hóa nitơ mới chưa từng được biết đến trước
đó về cả lý thuyết và thực nghiệm đã được phát hiện. Đó là phản ứng oxy hóa kỵ
khí ammonium (Anaerobic Ammonium Oxidation, viết tắt là Anammox) – trong
đó ammonium được oxy hóa bởi nitrit trong điều kiện kỵ khí, không cần cung cấp
chất hữu cơ, để tạo thành nitơ phân tử [20]. Sự phát hiện phản ứng Anammox đã
mở ra các hướng phát triển kỹ thuật xử lý nitơ mới, đặc biệt là đối với các nước
thải có hàm lượng nitơ cao. Trong vòng 2 thập niên qua, đã bùng nổ các nghiên
cứu liên quan đến anammox và ứng dụng của nó. Trên bình diện lý thuyết, chu
trình nitơ tự nhiên trong sách giáo khoa đã được bổ sung một mắc xích mới, còn
trên bình diện công nghệ, đã có nhà máy xử lý nitơ phi truyền thống được xây
dựng và vận hành.
Tham khảo một số tài liệu trong và ngoài nước, nhận thấy rằng ngoài chu
trình biến đổi nitơ thông thường còn có sự biến đổi kỵ khí trong quá trình oxy hóa
ammonium với sự có mặt của một chủng vi sinh vật tự dưỡng (Anammox) đồng
thời nitrate đóng vai trò chất nhận điện tử. Theo vòng chuyển hóa dưới đây: bùn
đỏ được phân lập từ bùn hoạt tính bể kỵ khí của hệ thống xử lý nước thải chăn
nuôi heo (Xí nghiệp heo giống Đông Á, huyện Dó An, Tỉnh Bình Dương). Bùn này
O
0.5
N
0.15
+ 2.03 H
2
O
II.2. Tổng Quan Về Tình Hình Nghiên Cứu Ammonium Trên Thế Giới
Quá trình nghiên cứu ammonium trong nước thải đã được nghiên cứu rất
nhiều cả trong và ngoài nước, bằnng nhiều phương pháp khác nhau được thể hiện
ở dưới bảng 3 và 4.[21],[25]
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
21
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
Bảng 3:nh hưởng của các công nghệ xử lý khác nhau đến các hợp chất Nitơ
Tác động hoặc cộng
nghệ xử lý
Các hợp chất hữu cơ Khử nitơ
tổng số của
toàn bộ quá
trình (%)
Nitơ hữu cơ NH
3
,N-NH
4
N-NO
3
Công nghệ sinh học
Trong vi khuẩn đồng hóa 0 40 – 70 %
Phản nitrate 0 0
Công nghệ hóa học Hiệu suất cao Chi phí vận hành
cao, gây ô nhiễm thư
cấp
Công nghệ sinh học
Hiếu khí và thiếu khí Diện tích nhỏ Chi phí ban đầu cao,
tốn năng lượng
Ao thực vật thủy sinh Công nghệ đơn giản (cổ
điển)
Diện tích lớn, phải
chon lọc hệ thực vật
thủy sinh
Kỵ khí Diện tích rất nhỏ, chi phí đầu
tư thấp, hiệu suất cao
Nhóm vi khuẩn phát
triển chậm
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
22
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TSKH. Ngô Kế Sương
Ammonium được xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng các quá
trình trên chỉ xử lý ammonium ở tải trọng trung bình. Còn với công nghệ mới
(Anammox) thì quá trình xử lý đơn giản hơn, ít tốn năng lượng.
II.2.1. Tác Hại Của Việc Xả Bỏ Ammonium Vào Môi Trường [1],[2],[20]
Ammonium và muối ammonium là độc tố đối với cá, với nồng độ rất nhỏ từ
1.2 – 2 ppm cũng có thể làm chết cá. Nồng độ ammonium trong nước nuôi cá
phải nhỏ hơn 1.2 ppm. Cá có thể chòu được nồng độ urê cao 1600 ppm. Nhưng
trong điều kiện kỵ khí đối với nồng độ urê nhỏ lại độc đối với cá và vi sinh vật vì
ở điều kiện đó urê phân hủy thành ammoniac và khí cacbonic tự do. Các amin
cũng gây độc tố đối với các loài thủy sinh và còn làm tăng nhu cầu oxy và clo. Vì
thế đối với nguồn có nồng độ amin và nitơ dạng ammonium cao thì trong xử lý
nước cần lượng clo lớn và thời gian tiếp xúc khử trùng phải lâu hơn.
tử tách khỏi nước bay vào không khí. Nếu nitrate ở trong nước cao có thể gây độc
đối với người (vì khi vào cơ thể, với điều kiện thích hợp ở đường tiêu hóa, nitrate
sẽ biến thành nitrite chất này sẽ kết hợp với hồng cầu thành chất không vận
chuyển oxy, gây bệnh thiếu máu)
Ammoniac(NH
3
) trong nước tồn tại ở dạng NH
3
và NH
4
+
(NH
4
OH, NH
4
NO
3
,
(NH
4
)
2
SO
4
… ) tùy thuộc vào pH của nước vì nó là một bazơ yếu . NH
3
hoặc NH
4
+
có trong nước cùng với photphat thúc đẩy quá trình phú dưỡng của nước. Tính độc
máu, làm trẻ xanh xao (bệnh methaemoglobinaemia, blue baby) do chức năng
của haemoglobin bò giảm. Nguyên nhân làm giảm chức năng của haemoglobin là
do lượng nitrate tăng trong cơ thể.
Theo quy đònh của WHO, nitrate có trong nước uống không quá 10mg/l (tính
theo N) hoặc 45mg/l (tính theo NO
3
) [16],[19]
II.3. Tổng Quan Về Kỹ Thuật Xử Lý Nitơ Truyền Thống
Các hệ thống xử lý nitơ truyền thống dựa trên sự kết hợp 2 giai đoạn nitrat
hóa (nitrification) và denitrat hóa (denitrification).[20],[22]
II.3.1. Quá Trình Nitrate Hóa
Ở giai đoạn nitrat hóa, Ammonium trong nước thải được oxi hóa đến nitrat
qua 2 bước nitrit hóa (nitritation) và oxy hóa nitrit (nitratation). Đây là giai đoạn
xảy ra trong điều kiện hiếu khí. Các phản ứng được mô tả như sau:
2NH
4
+
+ 3O
2
2NO
2
-
+ 4H
+
+ 2H
2
O (1)
2NO
2
-
5
H
7
NO
2
+ 0.98 NO
3
-
+ 1.041 H
2
O + 1.88 H
2
CO
3
(4)
Vi sinh vật đóng vai trò trong phản ứng (1), thường gọi là các AOB
(Ammonium Oxidizing Bacteria), được biết chủ yếu là các vi khuẩn thuộc chi
Nitrosomonas và một số chi khác như Nitrosococcus, Nitrosospria, Nitrosolobus
SVTH:Nguyễn Thanh Hùng
25