Tài liệu TIỂU LUẬN: Chế độ pháp lý về bảo lãnh ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội - Pdf 10

TIỂU LUẬN:

Chế độ pháp lý về bảo lãnh ngân hàng và
thực tiễn áp dụng tại NHNo & PTNT
Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội

LỜI NÓI ĐẦU

Bảo lãnh là một trong những nghiệp vụ của ngân hàng thương mại hiện đại, đem
lại cho ngân hàng nhiều lợi ích thiết thực, làm đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ của ngân
hàng, làm tăng vị thế của ngân hàng, mở rộng quan hệ đại lý trên thị trường quốc tế, thúc
đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinh doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà
cả trong lĩnh vực dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm… Đặc biệt
sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
đã có những thay đổi về cơ cấu và hoạt động của ngân hàng để phù hợp với những cam kết
về dịch vụ ngân hàng của Việt Nam. Đồng thời, quá trình thực hiện những cam kết đòi hỏi
phải thay đổi những quy định pháp luật thực định về lĩnh vực ngân hàng nói chung và bảo
lãnh ngân hàng nói riêng phù hợp với cam kết và thông lệ quốc tế. Trên thực tế, hoạt động
ngân hàng có tác động nhanh và mạnh tới nền kinh tế, bất kỳ sự điều tiết nào tới loại hình

xã hội. Bảo lãnh được phân ra hai hình thức dựa vào tính chất và đối tượng của bảo lãnh
đó là : “ Bảo lãnh đối nhân” [
1
] và “ Bảo lãnh đối vật” [
2
]. Cùng với lịch sử phát triển của
đời sống kinh tế xã hội thuật ngữ bảo lãnh được hiểu nhiều cách khác nhau như trong từ
điển pháp luật của Mỹ thì : “ Bảo lãnh là sự thoả thuận, mà theo đó người bảo lãnh chấp
thuận nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ; là việc bên bảo lãnh đảm bảo
hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không
thực hiện” [
3
]. Theo pháp luật dân sự Việt Nam thì : “ Bảo lãnh là việc người thứ 3 ( sau
đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền ( sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ
thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi
đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

[
1
] Bảo lãnh đối nhân được áp dụng chủ yếu với các quan hệ phi tài sản như trong lĩnh vực hình sự, chế tài hành chính
và các quan hệ phi tài sản trong dân sự.
[
2
] Bảo lãnh đối vật được áp dụng trong quan hệ hợp đồng kinh tế và dân sự có yếu tố tài sản.
[
3
]Trần Phương Minh, “ Bạn đã quan tâm đến bảo lãnh ngân hàng?”,

6
]. Theo quan điểm của các nhà làm luật thì : “ Bảo
lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của các tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc

[
4
]Điều 361. Bộ Luật Dân sự năm 2005.
[
5
]Ngô Quốc Kỳ, “Một số vấn đề pháp lý cơ bản về hoạt động của Ngân hàng”, NXB Chính trị Quốc Gia, 1995, trang
67 – 77.
[
6
]Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2007
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng
nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã
được trả thay” [
7
]. Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Quy chế bảo lãnh ngân hàng
ban hành theo Quyết định số 26/2006/QĐ – NHNN ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Thống
Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ( gọi tắt là Quy chế bảo lãnh ) thì bảo lãnh ngân hàng
được hiểu là : “ Cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng ( bên bảo lãnh) với bên có
quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng ( bên được bảo lãnh) khi
khách hàng khôn thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết đối với bên
nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức số tiền đã trả thay”.
2. Đặc điểm, chức năng, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến bảo lãnh ngân hàng.
2.1. Đặc điểm, chức năng của bảo lãnh ngân hàng.

nguồn vốn của mình bỏ ra khi chấp nhận vai trò người thực hiện nghĩa vụ tài chính thay
cho khách hàng. Hoạt động này cũng thường chụi sự chi phối của một số quy tắc pháp lý
đặc thù chỉ áp dụng riêng cho quan hệ bảo lãnh có tính chất chuyên nghiệp của các tổ chức
tín dụng như quy tắc về thủ tục bảo lãnh, phí bảo lãnh, giới hạn bảo lãnh, và các chế tài đối
với các bên vi phạm cam kết trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng[
9
].
- Bảo lãnh là mối quan hệ của nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau : Để thiết lập quan hệ
bảo lãnh thì sự thoả thuậ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là điều kiện bắt buộc.
Bảo lãnh xét về biểu hiện bên ngoài thì bao gồm bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên
được bảo lãnh; nhưng về mặt pháp lý thì quan hệ bảo lãnh chỉ đòi hỏi bắt buộc phải có hai
bên là bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Về mặt nguyên tắc thì các bên có các bên có thể
ký kết hợp đồng bảo lãnh gồm 3 bên, là bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo
lãnh. Tuy nhiên, do bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh không phải là chủ thể thuộc
cấu trúc chủ thể của hợp đồng bảo lãnh, nên họ không có các quyền và nghĩa vụ tương ứng
như trong quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Trong trường hợp bên nhận
bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thì tư cách của họ không phải là tư cách của các bên ký hợp
đồng bảo lãnh, mà là tư cách của chủ thể quan hệ hợp đồng có nghĩa vụ của người bảo
lãnh được đảm bảo bằng biện pháp bảo lãnh.
- Tính độc lập : Đây là đặc tính rất quan trọng của bảo lãnh ngân hàng. Mặc dù mục
đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của bên được bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh. Tính
độc lập thể hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng, trách nhiệm này hoàn toàn
độc lập với ngân hàng và người được bảo lãnh.
Về tính độc lập của bảo lãnh, tại khoản b, điều 2 của “ Quy tắc thống nhất về bảo
lãnh theo yêu cầu - Ấn bản số 458 của Phòng thương mại Quốc tế ICC -1992” [
10
]có nêu :

[

được ký kết một cách dễ dàng và thuận lợi. Đây là điểm khác biệt giữa bảo lãnh và tín
dụng chứng từ.
Thứ hai, bảo lãnh là công cụ tài trợ vốn : Không chỉ là bảo đảm, bảo lãnh còn là
công cụ tài trợ cho người được bảo lãnh. Thông qua bảo lãnh người được bảo lãnh không
phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh, được vay nợ hoặc được kéo dài thời gian thanh
toán tiền hàng hóa, dịch vụ… Do vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn như trong cho vay

Công nghệ và hoạt động ngân hàng (Comissison on banking Technique and Practice) và cũng là kết quả làm việc của
nhóm soạn thảo (Drafting Group).
nhưng bảo lãnh ngân hàng giúp cho khách hàng được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ
như trong trường hợp cho vay.
Thứ ba, bảo lãnh mang chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng : Bảo lãnh cho
phép người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán khi người được bảo lãnh vi phạm hợp
đồng cam kết trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh và ngân hàng có quyền đòi lại
những khoản tiền này. Do đó, ngân hàng luôn phải theo dõi kiểm tra giám sát và đôn đốc
việc thực hiện hợp đồng của bên được bảo lãnh. Mặt khác trong trường hợp ngân hàng bảo
lãnh phải thanh toán tiền bồi hoàn cho bên nhận bảo lãnh thì bên được bảo lãnh cũng sẽ
phải có trách nhiệm nợ và hoàn trả khoản bồi hoàn đó cho ngân hàng bảo lãnh. Vì về thực
chất bảo lãnh là lấy tiền vi phạm trả cho người hưởng lợi.
Người được bảo lãnh luôn bị một áp lực cho việc bồi hoàn bảo lãnh. Như vậy, bảo
lãnh có chức năng đôn đốc người được bảo lãnh thực hiện hoàn tất hợp đồng đã ký kết.
Điều này càng làm tăng thêm tính bảo đảm cho người thụ hưởng và có mối liên quan chặt
chẽ giữa chức năng bảo đảm và chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng. Mặc dù vậy, khi
ký kết hợp đồng và thụ hưởng bảo lãnh, người thụ hưởng vẫn mong muốn người được bảo
lãnh thực hiện hợp đồng chứ không mong chờ ở khoản bồi hoàn tài chính từ bảo lãnh.
2.2. Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến bảo lãnh ngân hàng.
2.2.1. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng.

ngân hàng đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng thông qua chi phí bảo lãnh, phí này đóng
góp vào lợi nhuận của ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng phí dịch vụ của
các ngân hàng hiện nay. Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng góp phần không nhỏ trong việc mở
rộng quan hệ của ngân hàng với khách hàng. Bảo lãnh ngân hàng cũng hỗ trợ các hình
thức thanh toán khác của ngân hàng như thanh toán quốc tế ( bảo lãnh hối phiếu, bảo lãnh
L /C trả chậm ….).
2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến bảo lãnh ngân hàng.
Nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính rủi do, bảo toàn vốn, nâng cao thu
nhập và lợi tức từ các hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung và hoạt động bảo lãnh
ngân hàng nói riêng ta cần phải xác định được nhân tố ảnh hưởng đến bảo lãnh ngân hàng.
Các nhân tố có thể được chia thành hai nhóm : nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố
khách quan. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhóm nhân tố này có
ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng [
12
].
(1) Nhóm nhân tố chủ quan : đây chính là các nhân tố bên trong nội bộ của ngân
hàng như năng lực tài chính, ứng dụng tiến bộ công nghệ, trình độ và chất lượng của lao
động.v.v.

[
12
]Nguyễn Việt Hùng, Luận án tiến sĩ kinh tế : “ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội 2008.
- Năng lực tài chính của ngân hàng là khả năng mở rộng nguồn vốn, tiềm lực về
vốn của chủ sở hữu. Kế tiếp là khả năng sinh lời của nguồn vốn vì nó thể hiện hiệu quả của
nguồn vốn kinh doanh. Cuối cùng là khả năng sinh lời và chống đỡ rủi ro, tức khi món nợ
xấu của ngân hàng tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng theo để bù đắp rủi do điều này

hội từ đó đảm bảo được lợi ích chung của xã hội nói chung và lợi ích của các ngân hàng
nói riêng trong quá trình phát triển của nền kinh tế.
3. Phân loại bảo lãnh ngân hàng.
Tuỳ theo tiêu chí khác nhau mà bảo lãnh ngân hàng được chia thành các loại khác
nhau.
3.1. Theo phương thức phát hành có 3 loại:
- Bảo lãnh trực tiếp[
13
] : là hình thức ngân hàng trực tiếp thanh toán tiền bảo lãnh
cho người hưởng thụ mà không thông qua một trung gian nào, sau đó truy đòi nợ từ người
bảo lãnh sau đó truy đòi nợ từ người được bảo lãnh. Việc phát hành thư bảo lãnh cho
người thụ hưởng có thể thực hiện thông qua một ngân hàng trung gian có thể là ngân hàng
đại lý hoặc ngân hàng phục vụ người thụ hưởng nhưng đều gọi chung là ngân hàng thông
báo.
- Bảo lãnh gián tiếp[
14
] : là hình thức bảo lãnh qua đó người yêu cầu bảo lãnh
không trực tiếp liên hệ với ngân hàng phát hành mà thông qua một ngân hàng trung gian
thông thường là ngân hàng phục vụ mình hoặc là một ngân hàng có điều kiện thuận lợi hơn
trong việc giao dịch với ngân hàng phát hành.
- Đồng bảo lãnh[
15
] : là việc nhiều tổ chức tín dụng cùng bảo lãnh cho một nghĩa
vụ của khách hàng thông qua một tổ chức tín dụng đầu mối.
3.2. Theo mục đích bảo lãnh.
Bảo lãnh vay vốn : Bảo lãnh vay vốn là cam kết của TCTD với bên nhận bảo lãnh
về việc sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không
trả đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh. [
16
]

hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp
đồng và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ thì TCTD sẽ thực hiện thay[
19
].
Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm (bảo lãnh bảo hành) : Bảo lãnh đảm bảo
chất lượng sản phẩm là cam kết của của TCTD với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách
hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết
với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm chất lượng sản phẩm và phải bồi
thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì TCTD
sẽ thực hiện thay[
20
].
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước (bảo lãnh hoàn thanh toán) : Bảo lãnh hoàn trả
tiền ứng trước là cam kết của TCTD với bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn
trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường
hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải hoàn trả tiền ứng trước mà không hoàn trả hoặc
hoàn trả không đầy đủ thì TCTD sẽ thực hiện thay. [
21
]

[17]
Khoản 2 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng .
[18]
: Khoản 3 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng .
[19]:
Khoản 4 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng .
[20]
: Khoản 5 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng .
[21]

ra cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ các nước trong khu vực , việc đổ bể của nhiều
TCTD và việc phá sản hàng loạt các doanh nghiệp lớn đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt
động của ngân hàng tại Việt Nam. Các khuôn khổ pháp lý được quy định tại Pháp lệnh
ngân hàng trở nên không còn phù hợp và không bảo vệ được quyền lợi của các TCTD, có
nhiều xung đột pháp lý giữa Pháp lệnh về ngân hàng với các văn bản có liên quan như : Bộ
luật dân sự năm 1995, Luật Công ty…. Từ thực tiễn đó, Luật các TCTD được xây dựng và
được Quốc Hội thông qua ngày 12/12/1997 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1998. Luật
các TCTD ra đời đã đáp ứng được yêu cầu quản lý và định hướng cho hoạt động phát triển
các TCTD trong thời kỳ dài và góp phần tạo sự ổn định về môi trường pháp lý cho hoạt
động ngân hàng. Lần đầu tiên thuật ngữ “ Bảo lãnh ngân hàng được đề cập” ( khoản 12
Điều 20 Luật các TCTD) và những quy định về “ bảo lãnh ngân hàng” ( tại các Điều 58,
Điều 59 Luật các TCTD) cũng được thừa nhận.
Trên cơ sở quy định của Luật các TCTD, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết
định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000 về việc ban hành Quy chế bảo lãnh ngân
hàng. Quyết định này được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 386/2001/QĐ-NHNN ngày
11/4/2001 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều trong Quy chế bảo
lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày
25/8/2000; Quyết định số 1348/2001/QĐ-NHNN ngày 29/10/2001 của Thống đốc NHNN
về việc sửa đổi một số quy định liên quan đến thu phí bảo lãnh của các tổ chức tín dụng;
Quyết định số 112/2003/QĐ- NHNN ngày 11/2/2003 của Thống đốc NHNN về việc sửa
đổi bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định
số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000 của Thống đốc NHNN thay thế cho các văn
bản trên là Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc NHNN. Từ
đó đến nay, quy chế đã được nhiều lần thay đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.
Hiện nay, các ngân hàng đều đang áp dụng Quy chế Bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm
theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc NHNN.
1.2. Các văn bản hiện hành liên quan đến hoạt động bảo lãnh ngân hàng.

nhận bảo lãnh, Bên được bảo lãnh.
2.1.1. Bên bảo lãnh.
Bên bảo lãnh trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là các tổ chức tín dụng có đủ điều
kiện theo quy định. Các tổ chức tín dụng này bao gồm ngân hàng thương mại quốc doanh,
ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, một số tổ chức tín dụng khác được
ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng. Theo đó

[
22
]Giáo trình, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB Tư Pháp năm 2006.
để ngân hàng có thể thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh thì ngân hàng cần phải đáp ứng những
điều kiện sau :
- Được NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng ( thường
được ghi rõ trong giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng do NHNN cấp).
- Có đăng ký kinh doanh nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng và nghiệp vụ này phải được
ghi rõ trong giấy đăng ký kinh doanh đã được cấp.
2.1.2. Bên nhận bảo lãnh.
Bên nhận bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng được hiểu là những người có quyền
thụ hưởng một món nợ do người được bảo lãnh thanh toán từ một nghĩa vụ trong các hợp đồng hoặc
các nghĩa vụ thanh toán ngoài hợp đồng.
Về nguyên tắc, khi tham gia hợp đồng bảo lãnh với các tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh), bên
nhận bảo lãnh phải thoả mãn một số điều kiện nhất định. Đó là:
- Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Điều kiện này do pháp luật quy
định như một nguyên tắc chung trong pháp luật hợp đồng, không chỉ áp dụng riêng cho
hợp đồng bảo lãnh.
- Có giấy tờ, tài liệu hay bằng chứng khác chứng minh quyền chủ nợ trong một nghĩa vụ
cần đựơc bảo đảm. Điều kiện này thường do các tổ chức tín dụng – bên bảo lãnh đưa ra để bảo

ngoài, hoặc pháp nhân nước ngoài sẽ được xác định theo hệ thống pháp luật nào? Nếu như có
xung đột giữa luật Việt Nam và luật nước ngoài được căn cứ để xác định năng lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự sẽ được giải quyết như thế nào?
Theo các Điều 760, 761,762,763 và 764 của Bộ Luật Dân sự năm 2005 , nếu trong quan
hệ bảo lãnh ngân hàng có cá nhân là người nước ngoài tham gia với tư cách là bên được bảo lãnh
thì việc xác định năng lực pháp luật sẽ tương đương hoặc bằng với công dân của nước sở tại còn
năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó sẽ áp dụng theo pháp luật của người nước ngoài
đó là công dân. Nếu trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng có pháp nhân nước ngoài tham với tư cách
là bên được bảo lãnh thì việc xác định năng lực chủ thể trở nên khó khăn hơn. Do pháp luật của có
nước có những quy định khác nhau về năng lực pháp luật của pháp nhân ( có nước quy định năng
lực pháp luật của pháp nhân được tính từ khi pháp nhân được thành lập, có nước quy định năng
lực pháp luật của pháp nhân được tính khi pháp nhân đăng ký kinh doanh; có nước cho phép pháp
nhân được kinh doanh trong một số lĩnh vực ngành nghề nhưng có nước lại không cho phép kinh
doanh trong lĩnh vực đó) vì vậy đã làm nảy sinh hiện tượng xung đột pháp luật về năng lực chủ

[
23
] Khoản 2 Điều 22 Bộ Luật dân sự năm 2005.
thể của pháp nhân trong quan hệ từ đó gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xác định tính đầy
đủ năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài. Việc giải quyết vấn đề xung đột này chủ
yếu được dựa theo nguyên tắc áp dụng luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch trong đó việc
xác định quốc tịch của pháp nhân lại tuỳ theo quy định của từng nước. Ví dụ trong hệ thông luật
Châu Âu lực địa ( Pháp, Bồ đào Nha, Tây ba Nha …) thì pháp nhân mang quốc tịch của một nước
khi có trụ sở chính đặt trên lãnh thổ của nước đó, còn trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ thì xác
định quốc tịch theo nơi đăng ký của pháp nhân. Theo pháp luật Việt Nam tại Điều 765 Bộ Luật
Dân sự năm 2005 thì việc giải quyết xung đột pháp luật như sau :
- Năng lực pháp luật dân sự được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân nước

]
Hợp đồng cấp bảo lãnh có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ nếu các bên liên
quan thoả thuận. Nội dung hợp đồng cấp bảo lãnh bao gồm: [
25
]
- Tên, địa chỉ của bên bảo lãnh, khách hàng và thời gian ký hợp đồng;
- Số tiền, thời hạn bảo lãnh và phí bảo lãnh
- Mục đích bảo lãnh;
- Điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;
- Hình thức bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng đối với tổ chức tín dụng bảo
lãnh, giá trị tài sản làm đảm bảo;
- Quyền và nghĩa vụ của các bên;
- Quy định về hoàn trả của khách hàng sau khi tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh;
- Quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh;
- Chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên;
- Những thoả thuận khác.
2.3. Phạm vi bảo lãnh.
Theo quy định tại Điều 363 Bộ Luật Dân sự 2005, phạm vi bảo lãnh có thể là một
phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ. Nếu không có thoả thuận gì khác thì người bảo lãnh phải bảo
lãnh cả tiền lãi trên nợ gốc trong phạm vi bảo lãnh đồng thời phải bảo lãnh cả khoản tiền
phạt cũng như tiền bồi thường thiệt hại. Như vậy, phạm vi bảo lãnh gồm bao nhiêu phần so

[24]
: Khoản 3 Điều 2 Quy chế bảo lãnh ngân hàng
[25]
: Điều 10 Quy chế bảo lãnh ngân hàng

: Điều 6 Quy chế bảo lãnh ngân hàng
[27]
: Điều 7 Quy chế bảo lãnh ngân hàng
- Tổ chức tín dụng xác định tổng mức bảo lãnh phù hợp với khả năng tài chính của
mình, bảo đảm thực hiện theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước về các tỷ lệ
đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
Nếu khách hàng có yêu cầu bảo lãnh vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng
thì tổ chức tín dụng cùng với các tổ chức tín dụng khác thực hiện việc bảo lãnh theo hình
thức đồng bảo lãnh, tức là nhiều tổ chức tín dụng cùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ của
khách hàng.
2.4. Nội dung bảo lãnh
Nội dung của bảo lãnh gồm: [
28
]
- Tên, địa chỉ của tổ chức tín dụng, khách hàng, bên nhận bảo lãnh;
- Ngày phát hành bảo lãnh và số tiền phát hành;
- Hình thức và điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;
- Thời hạn bảo lãnh;
- Quyền và nghĩa vụ của các bên;
- Giải quyết tranh chấp phát sinh;
- Chuyển nhượng quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Các thỏa thuận khác.
Bảo lãnh ngân hàng có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nếu các bên liên quan
có thỏa thuận.
2.5. Thẩm quyền ký bảo lãnh.
Thẩm quyền ký bảo lãnh là người đại diện theo pháp luật, người này có thể uỷ
quyền hoặc ban hành văn bản qui định thẩm quyền ký các văn bản bảo lãnh của các chức

họ.
2.6. Thực hiện bảo lãnh ngân hàng.
2.6.1. Thời hạn bảo lãnh.
Thời hạn bảo lãnh được xác định từ khi phát hành bảo lãnh cho đến thời điểm chấm
dứt bảo lãnh được ghi trong cam kết bảo lãnh. Trường hợp cam kết bảo lãnh không ghi cụ
thể thời điểm chấm dứt bảo lãnh thì thời điểm chấm dứt bảo lãnh được xác định tại thời
điểm nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt.
Nghĩa vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng chấm dứt trong các trường hợp sau: [
30
]
- Khách hàng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh;
- Tổ chức tín dụng đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo cam kết bảo lãnh;
- Việc bảo lãnh được huỷ bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;
- Thời hạn của bảo lãnh đã hết;

[30]
: Điều 20 Quy chế bảo lãnh ngân hàng
- Bên nhận bảo lãnh đồng ý miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên bảo lãnh
hoặc nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt theo quy định của pháp luật;
- Theo thoả thuận của các bên.
Quy chế bảo lãnh ngân hàng cũng quy định rõ ràng các trường hợp được miễn
nghĩa vụ bảo lãnh tại Điều 19 như sau: Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh miễn việc
thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh thì bên được bảo lãnh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối
với bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định phải liên
đới thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Trong trường hợp một trong số các tổ chức tín dụng cùng bảo lãnh liên đới cho một
nghĩa vụ của khách hàng được miễn việc thực hiện phần nghĩa vụ bảo lãnh của mình thì

Kết quả của quá trình này này có thể là mâu thuẫn được giải quyết hoặc không được
giải quyết, thậm chí mâu thuẫn giữa các bên ngày càng trầm trọng hơn, dẫn đến quan hệ
hợp đồng có thể được tiếp tục hoặc không thể tiếp tục được nữa. Mặc dù vậy, khi các bên
cùng thiện chí và cùng mong muốn giữ quan hệ kinh doanh lâu dài, cuộc thương lượng sẽ
dễ dàng đạt kết quả. Vì thế vụ tranh chấp sẽ được giải quyết dứt điểm bằng sự xác định rõ
ràng phần quyền, nghĩa vụ tài sản của mỗi bên. Hơn thế nữa, do sự thống nhất ý chí cao
giữa các bên cho nên những quyền và nghĩa vụ này được thực hiện dễ dàng, đầy đủ và làm
cơ sở để giải quyết dứt điểm vụ tranh chấp.
2.7.2. Giải quyết tranh chấp bằng hoà giải.
Hòa giải là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng, bởi vì nó
được thực hiện ngoài hoạt động của các cơ quan xét xử do chính Nhà nước lập ra là các tòa
án. Đây là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai
bên cùng chấp nhận hoặc chỉ định, hòa giải viên này đóng vai trò trung gian để hỗ trợ cho
các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột. Những
người hòa giải phải độc lập, không bị lệ thuộc bất kỳ ai ngoài nguyên tắc khách quan và
công bằng bởi vì nhiệm vụ của họ là đạt được sự hòa giải giữa các bên. Những đề xuất của
hòa giải viên là kết quả của quá trình trao đổi ý kiến với các bên và từng bên, có thể được
đưa ra ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình hòa giải.
Hòa giải có tính chất tự nguyện của các bên, thể hiện từ khi lựa chọn phương thức
tới việc tiến hành phương thức, cuối cùng là thừa nhận kết quả của nó. Hòa giải cũng mang
tính chất ôn hòa thể hiện trong quá trình hòa giải các bên không coi nhau như là các bên
tranh chấp quyền lợi với mình mà coi nhau như là những người có cùng chí hướng để tìm
ra sự thật nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của cả hai bên và quyết định của người hòa giải
không có ý nghĩa bắt buộc với các bên mà nó chỉ có ý nghĩa khi các bên chấp nhận một
cách tự nguyện.
2.7.3. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Trọng tài thương mại được thành lập để giải quyết các tranh chấp thương mại. Tuy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status