Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
Mục lục
Trang
Lời mở đầu 4
1. Tính cấp thiết của đề tài 5
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
4. Phơng pháp nghiên cứu 6
5. Nội dung 7
Chơng I: Những vấn đề lý luận về hiệu quả hoạt động dịch vụ thuỷ nông 8
1. Vai trò của thuỷ lợi trong sản xuất nông nghiệp 8
2. Đặc điểm của các Công ty dịch vụ thuỷ nông 9
3. Các mô hình tổ chức Công ty dịch vụ thuỷ nông 11
a. Mô hình Công ty KTCTTL Liên tỉnh, Tỉnh 11
b. Mô hình Công ty KTCTTL Liên huyện 13
C. Mô hình Công ty KTCTTL huyện 14
4. Quá trình hình thành và phát triển thuỷ lợi ở nớc ta 14
5. Hiệu quả hoạt động dịch vụ thuỷ nông 16
5.1. Khái niệm và phân loại hiệu quả 16
a. Khái niệm và bản chất 16
b. Phân loại hiệu quả ` 20
5.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 22
a. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp 22
b. Một số chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh lĩnh vực hoạt động 23
6. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ thuỷ nông 27
7. Chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về phát triển thủy lợi, thuỷ nông 28
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 1 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
Chơng II: Thực trạng hiệu quả hoạt động dịch vụ Thuỷ nông 30
tại Công ty KTCTTL Yên Khánh
I. Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Yên Khánh ảnh hởng đến
1. Phơng hớng phát triển kinh tế - x hội của huyện và ngành thủy lợiã 68
1.1. Phơng hớng phát triển kinh tế - x hội của huyện Yên Khánhã 68
1.2. Phơng hớng phát triển của ngành thuỷ lợi 69
2. Một số chỉ tiêu cụ thể của ngành thuỷ lợi đến năm 2010 69
3. Phơng hớng, mục tiêu phát triển của Công ty 70
II. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ thuỷ nông của
Công ty 70
1. Củng cố, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống công trình thuỷ lợi trong huyện 70
2. Sắp xếp kiện toàn tổ chức Công ty 72
3. Đổi mới một số chính sách đối với các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi 73
4. Nâng cao vai trò của cộng đồng, từng bớc x hội hoá công tác thuỷ lợi phục vụã
sản xuất nông lâm ng nghiệp 74
5. Tăng cờng vai trò quản lý Nhà nớc trên lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình
thuỷ lợi 76
6. Đẩy nhanh tiến độ kiên cố hoá kênh mơng 77
7. Tăng cờng đào tạo, bồi dỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn về ý thức trách
nhiệm cho đội ngũ cán bộ công nhân viên trong Công ty KTCTTL Yên Khánh 78
8. Chính sách thu thuỷ lợi phí hợp lý 78
9. Giải pháp huy động, sử dụng vốn trong công tác thủy lợi 79
Kết luận 82
Tài liệu tham khảo 84
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 3 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nớc là một tài nguyên vô cùng quý báu, không thể thiếu đợc trong cuộc
sống của con ngời cũng nh trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia. Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, nớc là một yếu tố không thể thay thế
đối với bất kỳ phơng thức sản xuất nào bởi nớc là dung môi hoà tan các chất dinh
dỡng, muối khoáng cần thiết cho sự phát triển của cây trồng và nớc tạo điều kiện
gắng nhằm đảm bảo cung cấp nớc thờng xuyên cho sản xuất nông nghiệp của
huyện và cho các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên, quá trình hoạt động Công ty
còn gặp nhiều khó khăn về vấn đề tổ chức, khai thác và quản lý hệ thống các
công trình thuỷ lợi. Để khai thác mọi khả năng thuận lợi của hệ thống thuỷ nông
và phục vụ ngày càng hiệu quả hơn cho sản xuất nông nghiệp em tiến hành
nghiên cứu đề tài: Nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ thuỷ nông ở Công ty
KTCTTL Yên Khánh - Huyện Yên Khánh - Tỉnh Ninh Bình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ vai trò, vị trí của công tác thuỷ nông và hiệu quả hoạt động của nó
đối với sản xuất nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động dịch vụ thuỷ nông ở Công ty
KTCTTL Yên Khánh.
- Đa ra định hớng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động dịch vụ thuỷ nông ở Công ty KTCTTL Yên Khánh.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a. Đối tợng nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề kinh tế, tổ chức trong việc sử dụng các công trình thuỷ
lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp ở Công ty KTCTTL Yên Khánh. Trên cơ sở đó
đa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ thuỷ nông.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Yên Khánh -
Tỉnh Ninh Bình.
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thực trạng hiệu quả hoạt động dịch vụ
thủy nông qua 5 năm 2000 - 2004 và đa ra những định hớng, giải pháp cho
những năm tiếp theo.
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 5 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
4. Phơng pháp nghiên cứu
a. Phơng pháp duy vật biện chứng
Là phơng pháp nhằm xem xét, phân tích, đánh giá các vấn đề một cách
e. Phơng pháp so sánh
Là phơng pháp đợc dùng nhiều trong phân tích kinh tế, số liệu thu thập
đợc dùng để so sánh đối chiếu mô tả sự biến động của hiện tợng. Sau đó, đa ra
những kết luận, kiến nghị, giải pháp cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu
và ứng dụng sản xuất.
5. Nội dung chủ đề bao gồm 3 chơng
Chơng I: Những vấn đề lý luận về hiệu quả hoạt động dịch vụ thuỷ nông.
Chơng II: Thực trạng hiệu quả hoạt động dịch vụ thuỷ nông tại Công ty
KTCTTL Yên Khánh.
Chơng III: Phơng hớng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
dịch vụ thuỷ nông của Công ty KTCTTL Yên Khánh.
Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm hớng dẫn tận tình của các thày,
cô giáo trong khoa KTNN & PTNT trờng ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội, đặc
biệt là giáo viên hớng dẫn: PGS.TS. Trần Quốc Khánh cùng các bác, cô, chú
trong Công Ty Khai thác công trình thuỷ Lợi Yên Khánh đã giúp đỡ em hoàn
thành luận văn tốt nghiệp./.
Em xin trân trọng cảm ơn!
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 7 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
Chơng I: Những vấn đề lý luận về hiệu quả hoạt
động dịch vụ thuỷ nông
1. Vai trò của thủy lợi trong sản xuất nông nghiệp
Nớc ta là một nớc nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp đợc coi là mặt trận
hàng đầu, là cơ sở cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nớc. Nhng nền nông nghiệp n-
ớc ta hiện nay còn nghèo nàn, lạc hậu. Đất nông nghiệp bình quân đầu ngời thấp,
phân bổ manh mún trong khi đó sản xuất lại rất bấp bênh, thờng xuyên bị thiên
tai nhất là hạn, úng, lụt, bão đe doạ nên năng suất lao động xã hội trong nông
nghiệp thấp. Trớc tình hình đó đòi hỏi nông nghiệp - nông thôn phải có một cơ
sở hạ tầng đảm bảo mà trớc hết là hệ thống thuỷ lợi thuỷ nông.
Thuỷ nông là các biện pháp về thuỷ lợi đợc áp dụng để phục vụ cho các
2. Đặc điểm của các Công ty dịch vụ thuỷ nông
Các Công ty dịch vụ thuỷ nông là các doanh nghiệp nhà nớc hoạt động
công ích đã đợc cấp có thẩm quyền quyết định bao gồm các doanh nghiệp độc
lập, các doanh nghiệp hạch toán độc lập là thành viên của Công ty (gọi tắt là
doanh nghiệp công ích). Vì vậy, các Công ty dịch vụ thủy nông mang đầy đủ các
đặc điểm của một Doanh nghiệp nhà nớc:
+ Danh sách doanh nghiệp công ích do Bộ trởng, thủ trởng cơ quan ngang
Bộ, thủ trởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ơng quyết định theo các tiêu thức đợc quy định tại Điều 1
và Điều 2 Nghị định số 56/ CP ngày 02/10/1996 của Chính phủ.
+ Doanh nghiệp công ích có trách nhiệm sử dụng vốn và các nguồn lực do
Nhà nớc giao cho để thực hiện việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công ích cho
các đối tợng theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nớc quy định.
+ Doanh nghiệp công ích có quyền tận dụng đất đai cảnh quan, vốn và tài
sản Nhà nớc sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ công ích và huy động vốn để tổ
chức hoạt động kinh doanh phù hợp với khả năng của doanh nghiệp và nhu cầu
của thị trờng với điều kiện:
- Đợc cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp đồng ý bằng văn bản.
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 9 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
- Không làm ảnh hởng đến việc thực hiện nhiệm vụ công ích Nhà nớc đã
giao hoặc đặt hàng.
- Đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định hiện hành.
- Hạch toán riêng phần hoạt động kinh doanh thêm.
- Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với phần hoạt động kinh doanh thêm
theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh những đặc điểm chung giống các Công ty khác thì các Công ty
dịch vụ thủy nông còn mang một số đặc trng riêng đó là các đặc điểm của các
công trình thuỷ lợi mà chỉ có các Công ty loại này mới có:
* Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật
thuật tới phù hợp với yêu cầu kỹ thuật của nông nghiệp, ngăn ngừa đợc hiện tợng
đất bị lầy hoá, tái mặn hoặc bị rửa trôi do tình trạng sử dụng nớc bừa bãi gây
nên.
3. Các mô hình tổ chức Công ty dịch vụ thủy nông
Căn cứ vào tình hình công trình, điều kiện quản lý ở các hệ thống công trình
thuỷ lợi hiện nay Công ty KTCTTL đợc tổ chức quản lý theo các mô hình sau:
a. Mô hình Công ty KTCTTL Liên tỉnh, Tỉnh
* Công ty KTCTTL Liên tỉnh: Là Công ty quản lý hệ thống công trình tới,
tiêu cho diện tích thuộc 2 tỉnh trở lên, gồm 2 loại:
- Quản lý công trình đầu mối và trục chính tới, tiêu, phần công trình còn
lại phân cấp cho địa phơng quản lý.
- Quản lý toàn bộ hệ thống từ đầu mối đến cống đầu kênh của hộ dùng n-
ớc quản lý (theo quy định phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi hiện hành của Bộ
NN & PTNT).
Hệ thống công trình thuỷ lợi Liên tỉnh đợc Bộ NN & PTNT xem xét quyết
định phân cấp cho tỉnh có diện tích đợc hởng lợi lớn tổ chức Công ty KTCTTL
quản lý hoặc Bộ NN & PTNT trực tiếp tổ chức quản lý.
* Công ty KTCTTL Tỉnh: Là Công ty quản lý các hệ thống công trình
thuỷ lợi vừa và nhỏ, diện tích tới, tiêu phân bổ rải rác trong phạm vi toàn tỉnh, có
quy mô hợp lý và hoạt động có hiệu quả, trực thuộc Sở NN & PTNT quản lý.
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 11 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
* Cơ cấu tổ chức của Công ty KTCTTL Liên tỉnh, Tỉnh.
+ Giám đốc, Phó giám đốc.
+ Bộ máy giúp việc (các phòng, ban).
- Phòng Tổ chức lao động tiền lơng, hành chính, quản trị (gọi tắt là Phòng
Tổ chức - Hành chính): Quản lý công tác tổ chức, lao động, công tác hành chính
quản trị.
- Phòng quản lý nớc & công trình: Quản lý, điều hành nớc, quản lý vận
hành, bảo vệ công trình thuỷ lợi.
nguồn dịch vụ trong và ngoài hệ thống.
- Xí nghiệp xây lắp: Đợc tổ chức với Công ty có nhiều yêu cầu dịch vụ
xây lắp, sửa chữa cơ điện. Công ty có ít yêu cầu dịch vụ xây lắp, sửa chữa thì tổ
chức Đội sửa chữa công trình, cơ điện.
Xí nghiệp t vấn, xí nghiệp xây lắp hoặc đội sửa chữa đều là đơn vị có t
cách pháp nhân không đầy đủ, hạch toán phụ thuộc Công ty, đợc Công ty trang
bị nhà xởng, phơng tiện vận chuyển, máy móc, dụng cụ sửa chữa tại xởng và lu
động trong hệ thống.
Các Công ty hạng III trở xuống không đủ điều kiện để tổ chức Xí nghiệp
hoặc Đội sửa chữa thì tổ chức một tổ sửa chữa có 6-8 lao động trong số định biên
hoạt động công ích để đáp ứng yêu cầu sửa chữa đột xuất trong hệ thống.
Ngoài các đơn vị ghi trên, Công ty có thể tổ chức các đơn vị kinh doanh
phụ khác nh: Phát điện, trồng cây, nuôi cá, du lịch, khách sạn
Công ty KTCTTL chịu trách nhiệm trớc pháp luật về toàn bộ các hoạt
động và sự cam kết của các đơn vị này.
b. Mô hình Công ty KTCTTL liên Huyện
Là Công ty KTCTTL quản lý hệ thống có diện tích tới, tiêu từ hai huyện trở
lên trực thuộc Sở NN & PTNT quản lý. Công ty liên Huyện đợc tổ chức nh sau:
+ Giám đốc, Phó giám đốc.
+ Bộ máy giúp việc đợc tổ chức nh Công ty Liên tỉnh, Tỉnh, số lao động đ-
ợc định biên tơng xứng nhiệm vụ đợc giao.
+ Tổ chức sản xuất.
- Đối với hệ thống lớn tổ chức Xí nghiệp thành viên hạch toán phụ thuộc,
dới Xí nghiệp thành viên là các Cụm thuỷ nông. Đối với Công ty từ hạng III trở
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 13 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
xuống không tổ chức xí nghiệp thành viên mà chỉ tổ chức Trạm thuỷ nông trực
thuộc Công ty, dới trạm thuỷ nông là các Cụm thuỷ nông, đối với hệ thống nhỏ
thì tổ chức Cụm thuỷ nông trực thuộc Công ty, không tổ chức trạm thuỷ nông.
- Việc tổ chức kinh doanh phụ khác: Đợc thực hiện theo Điều 10 Nghị
Đến các triều đại phong kiến (thời nhà Lý, Trần )đã trực tiếp lãnh đạo
đôn đốc việc đắp đê, đào sông ngòi.
Sự hình thành các công trình thuỷ lợi cùng với việc khai thác, quản lý, sử
dụng và bảo dỡng chúng là kết quả của quá trình đúc kết những tri thức và kinh
nghiệm của con ngời nhằm đảm bảo nguồn nớc cho sản xuất nông nghiệp và cho
các ngành kinh tế khác.
Dới triều đại phong kiến, hệ thống công trình thuỷ lợi đợc phát triển mạnh
mẽ dới các hình thức đắp đê, đào sông ngòi nh thời nhà Lý đắp đê sông Nh
Nguyệt, năm 1108 đắp đê Cơ Xá, năm 1129 đào sông Tô Lịch. Thời nhà Trần
cũng chú trọng đến việc đào sông ngòi nh năm 1256 và năm 1284 đã khơi đào
lại sông Tô Lịch và khơi lại kênh Hào. Đến cuối thế kỷ XVIII đã đào các kênh
Bảo Đình (1765), kênh Thơng Mai (1785), kênh Ruột Ngựa (1792). Sang đầu thế
kỷ XIX các kênh mới đào thêm nh kênh Thoại Hà (1818), kênh Vĩnh Tế (1819-
1822).
Thời pháp thuộc, các hệ thống thuỷ nông đợc xây dựng có năng lực thiết
kế phục vụ tới, tiêu cho 298.000 ha ở Bắc Kỳ và 124.000 ha ở Trung Kỳ nhng
thực tế ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ mới tới, tiêu đợc 300.000 ha. ở thời kỳ này các hệ
thống thuỷ nông xây dựng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu cấp nớc tới, còn về tiêu
hầu nh cha đặt ra. Sông Nhuệ là hệ thống duy nhất trong số 13 hệ thống thủy
nông lớn ở nớc ta ra đời từ những năm 30 trở về trớc có thêm nhiệm vụ tiêu tự
chảy ra sông Đáy.
Từ ngày hoà bình lặp lại các hệ thống thuỷ nông xây dựng mới đều có cả
hai chức năng tới và tiêu nớc. Những hệ thống đã xây dựng từ trớc đợc bổ sung
thêm các trạm bơm tiêu cho một số diện tích thấp không có khả năng tiêu tự
chảy.
Đến trớc năm 1973 do trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, nhiều vùng
trũng rộng lớn còn bỏ hoang hoá hoặc chỉ cấy một vụ lúa, trong khi vào mùa lũ
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 15 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
lợng nớc cần tiêu trong đồng nhiều. Vì vậy, hàng loạt cống tiêu tự chảy đợc xây
chế kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện nay mọi doanh nghiệp kinh doanh đều có mục
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 16 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận. Để đạt đợc mục tiêu này doanh nghiệp
phải xác định chiến lợc kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển phù hợp với
những thay đổi của môi trờng kinh doanh, phải phân bổ và quản trị có hiệu quả các
nguồn lực và luôn kiểm tra quá trình đang diễn ra là có hiệu quả? Muốn kiểm tra
tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh phải đánh giá đợc hiệu quả kinh
doanh ở phạm vi doanh nghiệp cũng nh ở từng bộ phận của nó.
Có thể nói rằng mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù
hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lợng của hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp song lại khó tìm thấy sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả
kinh doanh. Chúng ta hãy bắt đầu bằng các khái niệm khác nhau về hiệu quả
kinh tế. Có quan điểm cho rằng: Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể
tăng sản lợng một loại hàng hoá mà không cắt giảm sản lợng của một loại hàng
hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của
nó. Thực chất quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các
nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Trên giác độ này rõ ràng phân bổ các nguồn
lực kinh tế sao cho đạt đợc việc sử dụng mọi nguồn lực trên đờng giới hạn khả
năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả và rõ ràng xét trên phơng diện
lý thuyết thì đây là mức hiệu quả cao nhất mà mỗi nền kinh tế có thể đạt đợc.
Xét trên giác độ lý thuyết, hiệu quả chỉ có thể đạt đợc trên đờng giới hạn năng
lực sản xuất của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đạt đợc mức hiệu quả kinh doanh
này sẽ cần rất nhiều điều kiện, trong đó đòi hỏi phải dự báo và quyết định đầu t
sản xuất theo quy mô phù hợp với cầu thị trờng. Thế mà không phải lúc nào điều
này cũng trở thành hiện thực.
Nhiều nhà quản trị học quan niệm hiệu quả kinh doanh đợc xác định bởi tỉ
số giữa kết quả đạt đợc và chi phí phải bỏ ra để đạt đợc kết quả đó. Manfred
Kuhn cho rằng: Tính hiệu quả đợc xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn
vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh. Từ các quan điểm trên có thể hiểu một
3
, lít, Các đơn vị giá trị có thể là đồng, triệu đồng,
ngoại tệ, Kết quả cũng có thể phản ánh mặt chất lợng của sản xuất kinh doanh
hoàn toàn định tính nh uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, chất lợng sản
phẩm, Cần chú ý rằng không phải chỉ kết quả định tính mà kết quả định lợng
của một thời kỳ kinh doanh nào đó thờng là rất khó xác định bởi nhiều lý do nh
kết quả không chỉ là sản phẩm hoàn chỉnh mà còn là sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm, Hơn nữa, hầu nh quá trình sản xuất lại tách rời quá trình tiêu thụ
nên ngay cả sản phẩm sản xuất xong ở một thời kỳ nào đó cũng cha thể khẳng
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 18 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
định đợc liệu sản phẩm đó có tiêu thụ đợc không và bao giờ thì thì tiêu thụ đợc
và thu đợc tiền về
Trong khi đó hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn
lực sản xuất. Trình độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện
vật hay giá trị mà là một phạm tù tơng đối. Cần chú ý rằng trình độ lợi dụng các
nguồn lực chỉ có thể đợc phản ánh bằng số tơng đối: Tỉ số giữa kết quả và hao
phí nguồn lực. Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối, phạm trù
này chỉ phản ánh mức độ đạt đợc về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là
kết quả của quá trình kinh doanh và không bao giờ phản ánh đợc trình độ lợi
dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất
kinh doanh thì hiệu quả là phơng tiện để có thể đạt đợc các mục tiêu đó.
Hao phí nguồn lực của một thời kỳ trớc hết là hao phí về mặt hiện vật,
cũng có thể đợc xác định bởi đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị. Tuy nhiên, thông
thờng ngời ta hay sử dụng đơn vị giá trị vì nó mang tính so sánh cao. Rõ ràng,
việc xác định hao phí nguồn lực của một thời kỳ xác định cũng là vấn đề không
đơn giản. Không đơn giản ở ngay sự nhận thức về phạm trù này: Hao phí nguồn
lực đợc đánh giá thông qua phạm trù chi phí, chi phí kế toán hay chi phí kinh
doanh? Cần chú ý rằng trong các phạm trù trên chỉ phạm trù chi phí kinh doanh
là phản ánh tơng đối chính xác hao phí nguồn lực thực tế. Mặt khác, việc có tính
giờ hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh cũng vận động cùng chiều. Có thể
từng doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh cao song cha chắc nền kinh tế đã đạt
hiệu quả kinh tế cao bởi lẽ kết quả của một nền kinh tế đạt đợc trong mỗi thời kỳ
không phải lúc nào cũng là tổng đơn thuần của các kết quả của từng doanh
nghiệp.
Thứ ba, hiệu quả kinh tế- xã hội. Hiệu quả kinh tế- xã hội phản ánh trình
độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để đạt đợc các mục tiêu kinh tế xã hội
nhất định. Hiệu quả kinh tế- xã hội gắn với nền kinh tế hỗn hợp và đợc xem xét ở
góc độ quản lý vĩ mô.
* Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và lĩnh vực hoạt động.
Thứ nhất, hiệu quả kinh doanh tổng hợp. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp
phản ánh khái quát và cho phép kết luận hiệu quả kinh doanh của toàn bộ quá
SV: Đoàn Thị Luyến - NN 43B 20 Khoa KTNN&PTNT
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD Hà Nội
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (một đơn vị bộ phận của doanh
nghiệp) trong một thời kỳ xác định.
Thứ hai, hiệu quả kinh doanh lĩnh vực hoạt động. Hiệu quả kinh doanh
lĩnh vực hoạt động là hiệu quả chỉ đánh giá ở từng lĩnh vực hoạt động (sử dụng
vốn, lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, ) cụ thể của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh lĩnh vực hoạt động không phản ánh hiệu quả tổng hợp mà
chỉ phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.
Giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh lĩnh vực hoạt
động có mối quan hệ biện chứng với nhau. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp cấp
doanh nghiệp phản ánh hiệu quả của tất cả các lĩnh vực hoạt động cụ thể ở cấp
doanh nghiệp và các đơn vị bộ phận trong doanh nghiệp. Trong nhiều trờng hợp
có thể xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh
doanh ở từng lĩnh vực hoạt động, khi đó chỉ có chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng
hợp là phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu hiệu quả
kinh doanh lĩnh vực hoạt động chỉ có thể phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt
động của doanh nghiệp mà thôi.
+ TL
VV
)/V
KD
(1)
Trong đó:
D
VKD
- Doanh lợi toàn bộ vốn của một thời kỳ.
R
- Lãi ròng thu đợc của thời kỳ tính toán.
TL
VV
- Lãi trả vốn vay của thời kỳ đó.
V
KD
- Tổng vốn của doanh nghiệp.
Đối với các Doanh nghiệp Nhà nớc, theo quy định của Bộ tài chính còn
cần phải tính chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nớc.
D
VNN
=
R
/ V
NN
(2)
Trong đó:
D
VNN
doanh nghiệp. Các chỉ tiêu trên cũng đợc xác định dễ dàng đặc biệt ở các đơn vị
bộ phận hạch toán độc lập.
Tiêu chuẩn hiệu quả tốt nhất của các chỉ tiêu trên là giá trị bình quân đạt
đợc của ngành, của khu vực hay của quốc tế trong thời kỳ đánh giá.
b. Một số chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh lĩnh vực hoạt động
Thứ nhất, nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn.
Một là, số vòng quay toàn bộ vốn.
SV
VKD
= TR / V
KD
(4)
Trong đó:
SV
VKD
- Là số vòng quay của vốn. Số vòng quay càng lớn chứng tỏ hiệu
quả sử dụng vốn càng cao.
Hai là, hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định đợc đánh giá trớc hết bởi chỉ tiêu hiệu suất
sử dụng tài sản cố định:
H
TSCĐ
=
R
/ TSCĐ
G
(5)
Trong đó:
H
TSCĐ
TSCĐ
- Sức sản suất của tài sản cố định.
TR - Doanh thu bán hàng.
TSCĐ
G
- Tổng giá trị tài sản cố định bình quân trong kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng giá trị tài sản cố định đem lại mấy đồng
doanh thu.
Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định để xác định tính hiệu
quả và nguyên nhân của việc sử dụng không có hiệu quả tài sản cố định. Thông
thờng, trớc hết đó là do đầu t tài sản cố định quá mức cần thiết, đầu t vào tài sản
cố định không dùng đến, sử dụng tài sản cố định không hết công suất,
Ba là, hiệu quả sử dụng vốn lu động.
Hiệu quả sử dụng vốn lu động của thời kỳ tính toán đợc xác định:
H
VLĐ
=
R
/ V
LĐ
(7)
Trong đó:
H
VLĐ
- Hiệu quả sử dụng vốn lu động.
V
LĐ
- Vốn lu động bình quân của kỳ tính toán.
Vốn lu động bình quân của kỳ tính toán chính là giá trị bình quân của vốn
lu động có ở đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lu động tạo
Trong đó:
SN
LC
- Số ngày bình quân của một vòng luân chuyển vốn lu động.
Tuy nhiên, các chỉ tiêu hiệu quả này cũng còn đang tiếp tục đợc tranh cãi.
Bốn là, hiệu quả sử dụng vốn lu động tính theo lợi nhuận.
Chỉ tiêu này đợc xác định bằng tích của tỷ suất lợi nhuận trong tổng giá trị
kinh doanh với số vòng luân chuyển vốn lu động:
R
TR
H
VLĐ
=
_______
x
_______
(10)
TR V
LĐ
Nh vậy, nếu cố định chỉ tiêu tỷ trọng lợi nhuận trong vốn kinh doanh thì
hiệu quả sử dụng vốn lu động tỷ lệ thuận với số vòng quay của vốn lu động.
Tăng số vòng quay của vốn lu động sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng vốn
lu động.
Thứ hai, Hiệu quả sử dụng lao động. Lao động là nhân tố sáng tạo trong
sản xuất kinh doanh, số lợng và chất lợng lao động là nhân tố quan trọng nhất
tác động đến hiệu quả của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng lao động đợc biểu
hiện ở các chỉ tiêu năng suất lao động, mức sinh lời của lao động và hiệu suất
tiền lơng.
Một là, năng suất lao động.