Lời nói đầu
Đất nớc Việt Nam ta đã và đang trong thời kỳ đổi mới kinh tế đầy sôi
động. Công cuộc đổi mới này đợc bắt nguồn từ đại hội Đảng lần thứ VI( năm
1986). Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đờng lối đổi mới toàn
diện cho nền kinh tế, đa đất nớc thoát khỏi khủng hoảng và liên tục đạt đợc
nhiều thành tựu rực rỡ. Đóng góp vào thành công này có nhiều yếu tố nhng một
bộ phận vô cùng quan trọng không thể không kể đến đó là việc mở rộng và nâng
cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Điều này đợc thể hiện rõ nhất trong những năm
gần đây, khi mà có nhiều công ty, nhiều tập đoàn đầu t vào Việt Nam, đẩy mạnh
sự phát triển của kinh tế đối ngoại và của các khu công nghiệp. Hơn nữa là việc
Việt Nam đã, đang và chuẩn bị gia nhập các liên kết kinh tế nh ASEAN, WTO,
AFTA,
Xuất nhập khẩu là lĩnh vực cần thiết không thể thiếu đợc đối với bất kỳ
quốc gia nào. Để tăng trởng kinh tế nhanh chóng các quốc gia buộc phải đẩy
mạnh hoạt động xuất nhập khẩu bởi vì xuất khẩu sẽ thúc đẩy nền kinh tế trong n-
ớc còn nhập khẩu sẽ đảm bảo cho quá trình sản xuất đợc liên tục, có hiệu quả
góp phần mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng, từng bớc ổn định và nâng cao
đời sống của nhân dân.
Việt Nam tuy là một nớc giàu tài nguyên với Rừng vàng biển bạc nhng
vẫn cha đảm bảo đầy đủ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trong nớc. Nắm đợc
tình trạng đó ngay từ ngày đầu thành lập, công ty TNHH Thành Long đã rất chú
trọng vào lĩnh vực nhập khẩu các linh kiện điện tử, máy tính, thông tin di động
Công ty đã đầu t rất lớn vào lĩnh vực này và biến nó thành ngành kinh doanh chủ
yếu của công ty nhằm cung cấp cho các hãng sản xuất ti vi, đặc biệt là hàng LG
SEL.
Việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty
TNHH Thành Long không những có ý nghĩa hết sức to lớn và có quyết định trực
tiếp đến sự tồn tại và phát triển của công ty mà còn rất quan trong đến công cuộc
phát triển và đổi mới của nền kinh tế nớc nhà. Chính vì thế, sau một thời gian
thực tập và tìm hiểu về các hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty TNHH
Thành Long em đã quyết định lựa chọn đề tài:
2
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu:
_ Tạo điều kiện thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở vật chất, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hớng từng bớc công nghiệp hoá đất nớc. Bởi vì nhập khẩu đòi
hỏi sự đồng bộ về kỹ thuật nên tạo ra dây chuyền hiện đại kéo theo sự đổi mới
trong đội ngũ cán bộ kỹ thuật và quản lý, tạo ra kỷ luật lao động chặt chẽ trong
đội ngũ công nhân.
_ Tạo điều kiện mở rộng khả năng cung ứng đầu vào cho sản xuất, nâng
cao năng lực sản xuất trong nớc. Đồng thời thông qua nhập khẩu hàng hoá các
quốc gia sẽ tham gia vào thị trờng cạnh tranh quốc tế, điều này bắt buộc các tổ
chức, cá nhân phải năng động, sáng tạo để theo kịp với sự phát triển chung của
toàn thế giới.
_ Làm đa dạng hoá mặt hàng, chủng loại, quy cách, mẫu mãtừ đó dẫn
đến việc góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Nhập khẩu máy
móc thiết bị, đầu t xây dựng là nơi thu hút hàng triệu lao động, vừa giải quyết
công ăn việc làm cho nhân dân, vừa hạn chế tệ nạn xã hội, đẩy mạnh sản xuất
kinh doanh.
_ Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát
triển nền kinh tế cân đối và ổn định. Thực tế cho thấy không có một quốc gia nào
trên thế giới có đợc nền kinh tế đầy đủ tất cả các loại hàng hoá mà không cần
nhập khẩu. Càng những nớc giàu, nớc hiện đại thì nhu cầu nhập khẩu các loại
hàng hoá càng cao. Thông thờng các quốc gia thờng có các chiến lợc phát triển
kinh tế và tập trung trọng điểm vào một số ngành có điều kiện tốt, còn các ngành
khác thì chỉ là bổ trợ. Do đó, vấn đề nhập khẩu để bổ xung cho các mặt thiếu sót
của nền kinh tế là điều tất yếu.
_ Phát huy cao độ tính năng động, sáng tạo của mỗi doanh nghiệp, mỗi tổ
chức, mỗi cán bộ tham gia hoạt động nhập khẩu. Thông qua hoạt động nhập
khẩu mà các luồng thông tin đợc khai thông, các mối quan hệ đợc sử dụng tích
cực. Qua các hoạt động nhập khẩu, giữa các quốc gia có sự giao lu, trao đổi về
kinh tế, về văn hóa, về xã hộiđể từ đó nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của doanh nghiệp, khắc phục đợc những hạn chế đem lại lợi nhuận cao cho
doanh nghiệp. Đây là phơng thức cho các doanh nghiệp tham gia các hoạt động
kinh doanh quốc tế.
3. Một số hình thức nhập khẩu chủ yếu:
Trong sự phát triển đa dạng chung của toàn thế giới thì hoạt động kinh
doanh quốc tế nói chung, hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng cũng phát
triển phong phú và đa dạng dới nhiều hình thức. Có thể kể ra một vài hình thức
nhập khẩu thông dụng đang đợc áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp nh sau:
3.1. Nhập khẩu trực tiếp
Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tự tính toán đầu t, nghiên cứu thị trờng, tính toán chi phí, ký kết và
thực hiện hợp đồng sao cho đúng với luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế. ở
loại hình này, doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí, mọi rủi ro cũng nh phải chịu
trách nhiệm pháp lý về mọi hoạt động nhập khẩu của mình.
4
3.2. Nhập khẩu uỷ thác
Là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp có nhu cầu
nhập khẩu một loại hàng hoá nào đó nhng không có quyền tham gia quan hệ
xuất nhập khẩu trực tiếp và phải uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp
giao dịch ngoại thơng tiến hành nhập khẩu hàng theo yêu cầu của mình. Bên
nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với đối tác nớc ngoài để làm thủ tục nhập
khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và đợc hởng một phần thù lao gọi là
lệ phí uỷ thác. Bên uỷ thác vẫn phải tự mình nghiên cứu thị trờng, lựa chọn mặt
hàng, đối tợng giao dịch và chịu mọi chi phí liên quan.
3.3. Nhập khẩu liên doanh
Là hoạt động nhập khẩu trên cơ sở liên kết kinh tế tự nguyện giữa các
doanh nghiệp( Trong đó có ít nhất một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm
phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các biện pháp có liên quan đến hoạt
động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hớng có lợi cho cả hai
là hoạt động lại xuất khẩu những hàng hoá đã nhập khẩu nhng cha qua chế biến
ở nớc nhập khẩu.
_ Quá cảnh hàng hoá
_ Xuất khẩu tại chỗ
_ Hiệp định thơng mại đặc biệt
II. Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:
1. Hiệu quả kinh doanh
1.1. Khái niệm
Trong cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp đều phải xác định cho mình các
mục tiêu hoạt động kinh doanh cụ thể. Để đạt đợc mục tiêu đó đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tự xây dựng cho mình một chiến lợc kinh doanh cụ thể thích hợp.
Mục tiêu bao trùm lâu dài của mọi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. để đạt
đợc mục tiêu này, trớc hết mọi doanh nghiệp phải xác định tính toán sao cho sử
dụng các yếu tố đầu vào và đầu ra một cách hợp lý nhằm đạt đợc mục đích tối đa
hoá lợi nhuận. Nh vậy, hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh luôn
gắn liền với các yếu tố chi phí đầu vào và kết quả đạt đợc. Mọi khái niệm hiệu
quả kinh doanh đợc đa ra đều chỉ ra mối liên hệ giữa kết quả đạt đợc và chi phí
đầu vào ở những khía cạnh khác nhau.
Nh vậy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
nhằm phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nh: lao động, vốn, máy móc, thiết
bị, nguyên vật liệu, trong các hoạt động kinh doanh để đạt đợc các mục tiêu
kinh doanh mà doanh nghiệp đã xác định. Có thể biểu diễn khái niệm bằng công
thức sau:
H=K/C (1)
H: Hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh
K: Là kết quả thu đợc từ các hoạt động đó
6
C: Tổng chi phí để đạt đợc kết quả đó
Hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lợng các hoạt động sản xuất kinh
định sự sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Hiệu quả kinh doanh đợc
coi nh là một trong những công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng của
mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết
việc sử dụng các nguồn lực đạt đợc ở trình độ nào mà nó còn cho phép các nhà
quản trị phân tích và tìm ra các nhân tố để đa ra các biện pháp nhằm nâng cao
7
hiệu quả kinh doanh. Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh có thể đợc hiểu là
nhằm tạo ra kết quả cao hơn trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng
của kết quả cao hơn so với tốc độ tăng của các nguồn lực đầu vào.
_ Nguồn lực xã hội là một phạm trù khan hiếm, càng ngày ngời ta càng sử
dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
phục vụ các nhu cầu khác nhau của con ngời. Trong khi các nguồn lực sản xuất
xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con ngời ngày càng đa dạng và tăng lên,
do đó đòi hỏi các nhà sản xuất kinh doanh phải biết tận dụng và sử dụng tiết
kiệm tối đa các nguồn lực đầu vào để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Để làm
đợc điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời chính xác ba câu
hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? Và sản xuất nh thế nào?. Bởi vì thị trờng
chỉ chấp nhận cho phép tồn tại những doanh nghiệp có quyết định sản xuất đúng
loại sản phẩm với số lợng và chất lợng hợp lý. Nếu doanh nghiệp xác định tốt ba
câu hỏi trên thì sản phẩm tạo ra của doanh nghiệp sẽ tiêu thụ tốt trên thị trờng,
không lãng phí các nguồn lực sản xuất. Trong điều kiện khan hiếm các nguồn
lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là không thể thiếu đợc trong mỗi
doanh nghiệp, nó thực sự là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp.
_ Trong điều kiện kinh tế thị trờng, môi trờng cạnh tranh ngày càng gay
gắt do đó muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì các
lợi thế cạnh tranh, đó là chất lợng và sự khác biệt hoá. Để duy trì lợi thế về giá
cả, doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất hơn các doanh
nghiệp khác cùng ngành. Doanh nghiệp càng sử dụng tiết kiệm các nguồn lực thì
càng có các thuận lợi để nâng cao lợi nhuận. Hiệu quả kinh doanh là một phạm
_ Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận
_ Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh ngành
_ Hiệu quả kinh doanh tài chính và hiệu quả kinh doanh xã hội
3. Các nhân tố ảnh hởng đến nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu
3.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
3.1.1. Nguồn lao động của doanh nghiệp
Đây là một nhân tố rất quan trọng, có quyết định trực tiếp đến hiệu quả
của việc thực hiện các nhiệm vụ, công việc của công ty. Nếu công ty có đội ngũ
cán bộ có năng lực, có trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình trong công việc thì sẽ
đạt hiệu quả kinh doanh cao. Để có đợc đội ngũ cán bộ có trình độ, tinh thần, ý
thức trách nhiệm cao, thì buộc doanh nghiệp phải chăm lo đến việc đào tạo, bồi
dỡng và nâng cao trình độ chuyên môn của lực lợng lao động. Bố trí sắp xếp lao
động cả về cật chất lẫn tinh thần. Đặc biệt là trong các hoạt động kinh doanh
nhập khẩu, khi mà các công việc có liên quan trực tiếp đến các vấn đề mang tính
quốc tế với sự khác biệt về ngôn ngữ, về văn hoá, thì việc đào tạo và nâng cao
trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên lại càng phải đợc quan tâm. Đó là
những nhiệm vụ hàng đầu của mỗi doanh nghiệp để có thể tạo dựng một đội ngũ
lao động có hiệu suất cao, từng bớc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.1.2. Vốn kinh doanh nhập khẩu
Nếu công ty có nguồn vốn lớn( đặc biệt là vốn lu động) và ổn định thì sẽ
nắm bắt kịp thời cơ hội kinh doanh, có khả năng ký kết các hợp đồng lớn, khả
năng thanh toán tốt, tạo đợc uy tín với các đối tác. Thực tế cho thấy nhiều công
9
ty khi tham gia vào các hoạt động mang tầm cỡ quốc tế thì thờng gặp phải tình
trạng thiếu vốn trầm trọng do các hợp đồng thờng có giá trị lớn và thời hạn thanh
toán nhanh. Trong các hợp đồng kinh doanh nhập khẩu nói chung hay trong các
hợp đồng kinh tế nói riêng thì việc thiếu vốn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thờng bỏ
lỡ mất cơ hội kinh doanh do không chủ động. Mặt khác việc thiếu vốn sẽ dẫn tới
việc phải vay vốn từ nhiều phía và phải trả lãi xuất cho các khoản vay đó. Chính
chiếm vị trí cao trong thơng trờng và thu đợc nhiều lợi nhuận. Và ngợc lại doanh
10
nghiệp nào không có khả năng cạnh tranh tốt trong thơng trờng thì sẽ có lợi
nhuận thấp, kinh doanh không hiệu quả và dẫn tới tình trạng phá sản. Đặc biệt,
đối với các công ty tham gia các hoạt động kinh doanh quốc tế thì mức độ cạnh
tranh càng gay gắt, bởi vì đó là một thị trờng rất rộng lớn, nhiều chủng loại, mẫu
mã đạp, giá thành rẻ,Đứng trớc một hợp đồng nhập khẩu một loại hàng hoá
nào đó, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ xem nhập loại hàng hoá nào, mẫu
mã, chất lợng và giá cả ra sao, để từ đó có những chiến lợc cụ thể nhằm cạnh
tranh với các sản phẩm cùng loại khác trên thị trờng.
Cạnh tranh đợc xét theo hai góc độ: Cạnh tranh trong nội bộ ngành trong
nớc và cạnh tranh với đối thủ nớc ngoài. Trong cùng một thời điểm nhất định,
nếu tồn tại nhiều doanh nghiệp cùng nhập khẩu một loại mặt hàng và tiêu thụ ở
thị trờng nội địa thì sẽ ảnh hởng trực tiếp đến giá cả và khả năng tiêu thụ, do đó
ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhà sản xuất
nớc ngoài khi thâm nhập vào thị trờng nội địa cũng trở thành một đối thủ cạnh
tranh lớn đối với doanh nghiệp trong nớc. Họ cạnh tranh bằng giá cả, chất lợng,
mẫu mã, uy tín nhằm thu hút khách hàng, từ đó tạo ra việc giảm doanh số tiêu
thụ của các doanh nghiệp nội địa.
Để đảm bảo cạnh tranh tốt nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
cho các doanh nghiệp nhập khẩu thì chính bản thân các doanh nghiệp phải
không ngừng nỗ lực vơn lên, tăng cờng khả năng cạnh tranh của mình với các
đối thủ trong và ngoài nớc. Muốn nh vậy thì ngay từ đầu, ngay từ khâu lựa chọn
lĩnh vực kinh doanh, doanh nghiệp nên có hớng lựa chọn đúng đắn và tìm hiểu
kỹ càng để có thể đa ra các biện pháp cạnh tranh vừa lành mạnh vừa có hiệu quả.
3.2.2. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là phơng tiện so sánh về mặt giá trị chi phí sản xuất của
doanh nghiệp với giá cả thị trờng thế giới và dẫn tới tác động tơng quan giữa giá
xuất khẩu và giá nhập khẩu với khả năng cạnh tranh của công ty.
3.2.4.Hạn ngạch
Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của nhà nớc về số lợng hoặc giá trị một
mặt hàng nào đó đợc nhập khẩu trong một thời gian nhất định( thờng là một
năm). Hạn ngạch nhập khẩu thờng đa đến tình trạng hạn chế số lợng nhập khẩu
và ảnh hởng đến giá nội địa của hàng hoá. Do việc hạn chế số lợng nhập khẩu
của hạn ngạch, các nhà sản xuất trong nớc sẽ thực hiện một quy mô sản xuất với
hiệu quả thấp hơn so với điều kiện thơng mại tự do. Đối với cả chính phủ và các
doanh nghiệp thì hạn ngạch sẽ giúp cho việc xác định trớc số lợng nhập khẩu.
Hạn ngạch nhập khẩu có tác động tơng đối giống với thuế quan nhập
khẩu tức là do hạn ngạch nên giá cả của hàng nhập khẩu sẽ tăng lên. Hạn ngạch
có tác động khác thuế quan ở hai điểm:
_ Thứ nhất, chính phủ sẽ bị thất thu ngân sách từ các khoản thuế nhập
khẩu do việc nhập khẩu một loại hàng hoá nào đó có giới hạn. Giá cả của hàng
hoá nhập khẩu tăng lên là do mức độ khan hiếm của hàng hoá trên thị trờng, ng-
ời đợc hởng lợi lại là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
_ Thứ hai, hạn ngạch có thể làm cho các doanh nghiệp kinh doanh nhập
khẩu biến thành những nhà độc quyền. Và do đó họ có thể áp dụng chế độ giá
độc quyền và hởng lợi nhuận không chính đáng.
Hạn ngạch làm hạn chế số lợng nhập khẩu của các doanh nghiệp. Với
mức cung thấp, giá cân bằng sẽ cao hơn trong điều kiện thơng mại tự do. Vì vậy,
12
nếu tính về kết quả thu đợc từ việc bán một đơn vị hàng hoá nhập khẩu ở thị tr-
ờng nội địa thì các doanh nghiệp này có kết quả kinh doanh khá cao. Tuy nhiên,
đó là xét theo góc độ lợi ích trớc mắt, về lâu dài thì không có lợi cho doanh
nghiệp vì quy mô của doanh nghiệp không thể phát triển một cách tối đa đợc.
Hạn ngạch cho biết trớc số lợng hàng nhập khẩu, từ đó các doanh nghiệp có thể
tự chủ đa ra các chiến lợc kinh doanh cụ thể nhằm nâng cao đến mức tối đa hiệu
quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp.
3.2.5. ảnh hởng của hệ thống tài chính ngân hàng
13
Chính sách tài chính tín dụng cũng có ảnh hởng rất lớn đến các doanh
nghiệp nhập khẩu . Hệ thống tín dụng ở Việt Nam hiện nay đợc phát triển theo
hớng đa dạng hoá, đa thành phần. Hệ thống tín dụng này có thể đáp ứng mọi nhu
cầu về vốn của các thành phần kinh tế. Do đó, nếu tỷ lệ lãi xuất ổn định, hợp lý
thì sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mạnh dạn vay vốn đầu t để phát triển
sản xuất kinh doanh. Ngợc lại, nếu tỷ lệ lãi xuất của ngân hàng không ổn định sẽ
khiến cho các doanh nghiệp phải đắn đo trong việc vay vốn kinh doanh, dẫn đến
lỡ mất cơ hội kinh doanh, không phát triển.
Ngoài ra còn có rất nhiều các chính sách có ảnh hởng trực tiếp và gián tiếp
đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiêp trong nớc nói chung và các
doanh nghiệp nhập khẩu nói riêng nh: thuế quan, hạn ngạch, kế hoạch phát triển
của quốc gia,
Kết luận:
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải chịu ảnh hởng của rất nhiều
yếu tố. Các yếu tố này có ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
theo hai chiều tích cực và tiêu cực. Điều quan trong đối với doanh nghiệp là phải
hạn chế tối đa các ảnh hởng tiêu cực và phát huy triệt để các mặt tác động tích
cực.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là mục tiêu cao nhất mà các doanh
nghiệp hớng tới. Vì vậy nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực phấn đấu, phát
huy hết khả năng để đạt đợc mục tiêu đó.
4. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
4.1. Nhóm chỉ tiêu tổng hợp
4.1.1. Các chỉ tiêu phản ánh chất lợng
4.1.1.1. Hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
HNK= QNK/ CNK (1)
HNK= QNK- CNK (2)
HNK: Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
QNK: Kết quả đạt đợc của các hoạt động kinh doanh nhập khẩu
cách lấy lợi nhuận từ các hoạt động nhập khẩu chia cho tổng vốn kinh doanh của
các hoạt động nhập khẩu. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp sẽ thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận.
4.1.2. Các chỉ tiêu phản ánh số lợng
_ Tổng doanh thu từ các hoạt động nhập khẩu
_ Tổng chi phí bỏ ra để thu đợc doanh thu từ các hoạt động nhập khẩu
_ Tổng lợi nhuận từ các hoạt động nhập khẩu
15
Giá trị của các chỉ tiêu trên càng lớn thì hiệu quả kinh doanh nhập
khẩu của doanh nghiệp càng cao và ngợc lại.
4.2. Nhóm chỉ tiêu bộ phận
4.2.1. Sức sinh lợi của vốn lu động trong các hoạt động kinh doanh nhập khẩu
MSL= DTNK/ VLĐBQ
Mức sinh lợi của vốn lu động trong các hoạt động kinh doanh nhập khẩu
của công ty đợc tính bằng cách lấy doanh thu từ các hoạt động nhập khẩu chia
cho vốn lu động bình quân. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lu động trong
các hoạt động kinh doanh nhập khẩu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong
kỳ.
4.2.2. Hiệu quả sử dụng vốn lu động(HVLĐ) của các hoạt động kinh doanh nhập
khẩu
HVLĐ= DT/ VLĐBQ
Chỉ tiêu này nhằm xác định tốc độ luân chuyển của vốn lu động trong các
hoạt động kinh doanh nhập khẩu
4.2.3. Năng suất lao động của các hoạt động nhập khẩu
_ NSLĐ theo doanh thu từ các hoạt động nhập khẩu. Chỉ tiêu này đợc tính
bằng cách lấy tổng doanh thu chia cho số lao động trong cùng một thời điểm. Nó
cho biết vào thời điểm đó, một lao động của công ty sẽ tạo ra đợc bao nhiêu
đồng doanh thu.
_ NSLĐ theo lợi nhuận từ các hoạt động nhập khẩu. Chỉ tiêu này đợc tính
đại lý mua bán ký gửi hàng hoá, sản xuất, chế biến lơng thực, thực phẩm.
1. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của công ty:
1.1. Các mặt hàng linh kiện điện tử:
Các linh kiện điện tử mà công ty nhập về bao gồm: tụ điện gốm, cuộn từ
trờng mành, cuộn từ trờng dò, điốt, bộ lọc kênh, bộ lọc hình, bộ lọc tiếng, mạch
tích hợp, điện trở, bóng bán dẫn, biến áp ngang, biến áp cuộn, biến trở, Ngoài
ra còn có một số mặt hàng nguyên chiếc nh: Máy chiếu LCD, Chuông báo động,
Đây là những mặt hàng kinh doanh chủ yếu của công ty, kim ngạch nhập khẩu
của nó hàng năm chiếm khoảng 50_80% tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty.
Các mặt hàng này đều có xuất xứ từ các công ty LG của các nớc ASEAN, trong
đó thì lợng hàng nhập từ các công ty của Hàn Quốc là chiếm đa số (năm 2003
chiếm 74,45% tổng kim ngạch nhập khẩu).
17
1.2. Các mặt hàng linh kiện máy tính:
Mặt hàng này bao gồm: Các loại ổ cứng, ổ CD, ổ ghi VCD, ổ ghi DVD, ổ
VCD, ổ DVD,chủ yếu là các mặt hàng mang tính chất nguyên chiếc và khi
nhập về có thể xuất trực tiếp cho khách hàng.Về chủng loại mặt hàng này thì
công ty không chuyên sâu vào lĩnh vực máy tính mà chỉ nhập một số loại linh
kiện thuộc về máy vi tính và sau đó bán lại cho các đại lý điện tử tin học trên thị
trờng, chính vì thế mà kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng này vẫn còn là những
con số còn rất khiêm tốn. Năm 2003 trị giá kim ngạch nhập khẩu của linh vực
linh kiện máy vi tính chỉ đạt 543.977 $ chiếm 16,25% tổng kim ngạch nhập khẩu
năm 2003.
1.3. Các mặt hàng điện thoại di động:
Bên cạnh đó trong năm 2003 công ty nhập khẩu thêm mặt hàng điện thoại
di động. Đây là một mặt hàng mà Hàn Quốc có thế mạnh do chất lợng cao, mẫu
mã đẹp, giá thành lại rẻ. Tỷ trọng kim ngach nhập khẩu của mặt hàng này khá
lớn, năm 2003 là 1.051.700 USD( chiếm 31,42%) trong tổng kim ngạch nhập
khẩu của công ty. Các loại điện thoại di động mà công ty nhập khẩu chủ yếu là
cấp lớn nhất, thờng xuyên nhất là hai công ty LG của Hàn Quốc với kim ngạch
nhập khẩu( năm 2003) là: 2.495.091,84 USD chiếm 74,55% tổng kim ngạch
nhập khẩu năm 2003. Hiện tại quan hệ kinh doanh của công ty vẫn còn giới hạn
trong bốn quốc gia chính là: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Indonesia. Ngoài
ra còn có một số nớc khác nh: Trung Quốc, Đài Loan, Sinhgapore,tuy nhiên
việc quan hệ làm ăn còn nhỏ lẻ và không thờng xuyên
3. Một kết quả đạt đợc của công ty:
Sau hơn một năm thành lập và phát triển, công ty TNHH Thành Long đã
đạt đợc rất nhiều thành tựu trong việc nâng cao hiệu quả các hoạt động kinh
doanh nhập khẩu của mình. Điều này không những đợc thể hiện thông qua các
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của công ty mà còn đợc thể
hiện thông qua việc tăng cả về chất lẫn về lợng của quy mô kinh doanh nhập
khẩu của công ty. Đặc biệt là trong năm 2003, khi mà Việt Nam đã và đang từng
bớc gia nhập AFTA. Trong thời kỳ này, bên cạnh việc không ngững tăng mạnh số
lợng nhập khẩu các mặt hàng truyền thống nh: Linh kiện điện tử, linh kiện máy
tính công ty còn tham gia kinh doanh thêm một số mặt hàng đang đợc phát triển
trên thị trờng trong nớc, đó là các loại điện thoại di động, các loại chuông báo
động.
Có thể nói, kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty TNHH
Thành Long thật đáng khích lệ. Tổng doanh thu, tổng kim ngạch nhập khẩu, lợi
nhuận, nguồn thu cho ngân sách nhà nớc, không ngừng tăng. Chúng ta có thể
xem xét thông qua bảng sau:
Bảng 1 : Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Thành Long:
(Đơn vị: tỷ đồng)
Năm
Chỉ tiêu
2003 9 tháng 2004
Tổng doanh thu nhập khẩu 41,40 45,48
Nộp NSNN 4.75 5.26
Tổng lợi nhuận 0.923 1.428
thuộc khu vực ASEAN nên công ty đã tranh thủ nhận đợc sự ủng hộ của họ.
Tuy nhiên bên cạnh đó công ty còn gặp phải rất nhiều khó khăn do nhiều
nguyên nhân đem đến. Những khó khăn này đã gây rất nhiều trở ngại cho công
ty trong công tác nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu. Những khó khăn đó
bao gồm:
_ Một trong những khó khăn nổi bật của công ty là hiện tợng thiếu vốn, do
nguồn vốn của công ty còn nhiều hạn chế nên công ty còn phải dựa nhiều vào
20
các khoản vốn vay và từ đó dẫn đến tình trạng phải bỏ ra những khoản chi phí
không cần thiết. Ngoài ra việc huy động các nguồn vốn vay còn có nhiều khó
khăn và hạn chế do phải thực hiện các thủ tục rờm rà, điều này thờng xuyên dẫn
đến các tình trạng bỏ lỡ cơ hội kinh doanh của công ty.
_Chính sách và những quy định về pháp luật của nớc ta còn nhiều bất cập
cha đợc giải quyết kịp thời, sự hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính
phủ cha đợc thoả đáng.
_ Đội ngũ cán bộ tuy có sức trẻ và lòng nhiệt tình, song về kinh nghiệm
thì còn nhiều hạn chế. Nhất là trong hoạt động nhập khẩu và đối ngoại mà đây
lại là một trong những hoạt động chủ yếu của công ty. Chính vì thế mà công ty
cha thể phát huy hết những khă năng vốn có.
_ Công ty cha đáp ứng đợc các điều kiện cạnh tranh, đặc biệt là trong quá
trình đất nớc đang chuẩn bị gia nhập khu vực mậu dịch tự do AFTA. Hiện nay lộ
trình cắt giảm thuế gia nhập AFTA của nớc ta đang tiến hành từng ngày từng giờ,
điều này tạo điều kiện cho công ty trong những hợp đồng ngoại thơng, tuy nhiên
nó lại đòi hỏi công ty phải có một khả năng cạnh tranh rất cao, trong khi cơ sở
vật chất, khả năng về vốn của công ty còn nhiều khiêm tốn.
Với những khó khăn hạn chế trên, các hoạt động kinh doanh quốc tế của
công ty còn gặp phải rất nhiều khó khăn và nhiều khi không thể phát huy hết
những khả năng vốn có của mình.
II. Phân tích hiệu quả các hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí trong các hoạt động kinh doanh nhập
khẩu thì sẽ đem về bao nhiêu đồng doanh thu. Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
của công ty trong hơn 1 năm qua đều lớn hơn 1 và ngày càng tăng.
Nh vậy ta thấy rõ hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của công ty qua các năm
đợc phát triển một cách rõ rệt. Năm 2003, 1 đồng chi phí sẽ tạo ra đợc 1,023
đồng doanh thu trong các hoạt động kinh doanh nhập khẩu, đến 9 tháng 2004 thì
tạo ra đợc 1,032 đồng doanh thu.
HNK= QNK- CNK ( Tuyệt đối)
Đây là phơng pháp tính hiệu quả kinh doanh nhập khẩu bằng cách tính lợi
nhuận ròng của các hoạt động nhập khẩu. Theo các số liệu từ bảng trên ta có:
HNK2003= 41,4- 40,477= 0,932 (tỷ đồng)
HNK9 tháng 2004= 45,48- 44,052= 1,428 (tỷ đồng)
Nh vậy ta thấy lợi nhuận ròng của công ty trong hơn 1 năm qua phát triển
khá nhanh và ổn định, đặc biệt là vào năm 2003. Có đợc kết quả này la do năm
2003 công ty đã mở rộng lĩnh vực kinh doanh. Ngoài ra thì năm 2003 là năm mà
Việt Nam áp dụng thuế suất u đãi AFTA cho các mặt hàng linh kiện điện tử nên
công ty có rất nhiều thuận lợi từ các khoản thuế.
22
1.1.2. Tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu theo doanh thu nhập khẩu
Bảng3: Các chỉ tiêu tính tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu theo doanh thu
nhập khẩu
đơn vị: tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu
2003
9 tháng
2004
Tổng lợi nhuận nhập khẩu 0.923 1.428
Tổng doanh thu nhập khẩu 41,40 45,48
1.1.4. Tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu theo vốn kinh doanh nhập khẩu
Bảng5: Các chỉ tiêu tính tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu
2003 9 tháng 2004
Tổng lợi nhuận nhập khẩu 0.923 1.428
Tổng vốn kinh doanh 48.32 54.97
(Nguồn: Phòng kế toán của công ty Thành Long)
TSLNNK= TLNNK/ VKDNK* 100%
TSLNNK2003= 0,932/ 48,32* 100%= 1,9%
TSLNNK9 tháng 2004= 1,428/ 54,97* 100%= 2,6%
Qua việc tính toán trên cho ta thấy: Năm 2003 cứ một đồng vốn kinh
doanh của công ty sẽ tạo ra đợc 1,9 đồng lợi nhuận, 9 tháng 2004 là 2,6 đồng.
Điều này cho thấy việc huy động và sử dụng các nguồn vốn của công ty là rất có
hiệu quả.
1.2. Các chỉ tiêu phản ánh số lợng
1.2.1. Tổng doanh thu từ các hoạt động nhập khẩu
Doanh thu của công ty không ngừng tăng, đặc biệt là trong năm 2003 khi
doanh nghiệp tăng cờng mở rộng lĩnh vực kinh doanh và Việt Nam đẩy mạnh
quá trình gia nhập AFTA. Ngoài ra còn có một nguyên nhân rất quan trọng, đó là
bạn hàng chính của công ty_ Công ty LG SEL đã và đang từng bớc mở rộng và
chiếm lĩnh thị trờng Việt Nam. Chính điều này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho
công ty trong công tác tiêu thụ sản phẩm.
24
1.2.2. Tổng lợi nhuận từ các hoạt động nhập khẩu
Cùng với việc tăng doanh thu qua các năm thì lợi nhuận nhập khẩu của
công ty cũng tăng theo tỷ lệ thuận với doanh thu. Năm 2003 lợi nhuận của công
ty đạt 0,923 tỷ đồng, 9 tháng 2004 đạt 1,428 tỷ đồng. Điều này cho thấy các hoạt