LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Từ công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước khởi xướng và lãnh đạo, đội ngũ
các chủ DN xuất hiện và ngày càng tăng, khẳng định được vai trò to lớn của mình
đối với sự phát triển của đất nước. Họ được đánh giá là nguyên khí của quốc gia,
đội ngũ tiên phong của công cuộc đổi mới. Bác Hồ đã từng viết : “Việc nước, việc
nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau, nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là sự
kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng". Vì thế, Việt
Nam muốn phồn vinh, sánh vai với các cường quốc phát triển trên thế giới thì phải
tạo dựng được một đội ngũ chủ DN hùng mạnh, trong đó có đội ngũ chủ DNV&N.
Trong những năm gần đây các DNV&N đã được hình thành, phát triển và đóng
góp một phần đáng kể cho sự tăng trưởng của nền kinh tế ở Việt Nam trong suốt
thập kỷ qua. Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều nhà kinh tế, các DNV&N hiện
nay chưa phát huy được hết tiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên
nhân một phần do bản thân các DNV&N chưa có nhiều kinh nghiệm nhất định
trong nền kinh tế thị trường, chưa đủ năng động và sáng tạo trong kinh doanh;
mặt khác quan trọng hơn, là do chưa có một khung khổ chính sách rõ ràng của
Nhà nước trong việc đưa ra những biện pháp hữu hiệu tạo điều kiện cho các
DNV&N phát huy hết khả năng của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất
nước.
Từ những cấp thiết đó, nhóm chúng tôi xin chọn đề tài “Cơ hội và thách thức đối
với chủ DNV&N mới thành lập”
2. Mục đích nghiên cứu.
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chủ DNV&N mới thành lập trong khu
vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
1
- Trên cơ sở đó, đề tài hướng tới một cách nhìn đúng đắn hơn về đội ngũ chủ
DNV&N hiện nay. Đề tài đưa ra những thành công, đóng góp và cơ hội của họ đối
với sự phát triển kinh tế đất nước, đồng thời đưa ra những khó khăn, thách thức và
vướng mắc trong kinh doanh. Từ đó đưa ra những giải pháp hỗ trợ, giúp đỡ nhằm
phát huy tối đa sức mạnh tiềm năng của đội ngũ chủ DNV&N.
Nam.
3
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ DNV&N
1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNV&N là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo
pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung
bình hàng năm không quá 300 người.
Tại Việt Nam hiện đang tồn tại các loại hình DNV&N bao gồm: các DN
thành lập và hoạt động theo luật DN, các DN thành lập và hoạt động theo Luật
DNNN, các HTX thành lập và hoạt động theo Luật HTX, các hộ kinh doanh cá thể
đăng ký theo NĐ 02/2000/ NĐ-CP (3/2/2000) của Chính phủ về Đăng ký kinh
doanh.
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, các DNV&N ngày càng khẳng định vị
trí và đóng góp của mình trong nền kinh tế. DN có một số vai trò sau:
Thứ nhất, DN đóng vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm ổn
định, giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội.
Thứ hai, DN huy động triệt để các nguồn lực để phát triển kinh tế bao gồm
vốn, công nghệ, tài nguyên, con người... tạo điều kiện sử dụng tài nguyên sẵn có,
nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư để đầu tư tạo động lực cho sự phát triển kinh tế.
4
Thứ ba, cung cấp hàng hoá và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
người tiêu dùng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước.
Thứ tư, góp phần gia tăng nguồn hàng xuất nhập khẩu, tăng nguồn thu cho
ngân sách nhà nước, nguồn thu ngoại tệ, tạo tiền đề cho sự phát triền của đất nước.
Hệ thống các DN chẳng những có một vai trò to lớn đối với công cuộc xây
dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mà còn giữ vị trí then chốt trong
việc thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước trong
giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên hệ thống đó có phát triển bền vững hay không còn
phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ chủ DN nói chung đội ngũ chủ DNV&N nói riêng,
Theo quan điểm này, chủ DN chính là chủ sở hữu DN đồng thời là giám đốc
DN. Cho nên trong đề tài này đồng hoá 3 khái niệm: chủ DN, chủ sở hữu DN,
giám đốc DN.
1.2.2 Đặc điểm của giám đốc DN
Thứ nhất, giám đốc là một nghề.
Mà đã là một nghề cần đòi hỏi phải được đào tạo, nhưng dù đào tạo ở hình
thức nào thì người giám đốc cũng phải nắm cho được một nghề và hơn nữa phải
có tay nghề cao - nghệ thuật.
Đặc điểm này được hiểu là: Giám đốc phải có khát vọng làm giàu- không bao
giờ được thoả mãn với những gì mình đã có mà phải luôn vươn lên để giàu sang
hơn; giám đốc là người có kiến thức cả ở tầm tổng quan vĩ mô và các kiến thức
chuyên môn; giám đốc là người có óc quan sát, tư duy sáng kiến và tự tin, có tầm
nhìn xa trông rộng, khả năng tiên đoán, phân tích những tình huống có khả năng
xảy ra trong tương lai để có thể đưa ra các giải pháp kịp thời; giám đốc là người có
ý chí nghị lực, tính kiên nhẫn và lòng quyết tâm; giám đốc phải gương mẫu có đạo
6
đức trong kinh doanh, giữ chữ tín với khách hàng, tôn trọng cấp trên, thuỷ chung
với bạn bè đồng nghiệp, độ lượng bao dung với cấp dưới.
Thứ hai, giám đốc là một nhà quản trị kinh doanh. Biết tạo vốn và sử dụng
vốn có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Phải xác định được số vốn cần thiết
trong kinh doanh: Chính xác là bao nhiêu, lúc nào và thời gian bao lâu, để có thể
có biện pháp giải quyết và xử lý. Nếu không đủ thì phải huy động và tìm nguồn tài
trợ nhưng phải khẳng định chắc chắn rằng khi kinh doanh doanh nghiệp sẽ có lãi.
Thứ ba, giám đốc là người có năng lực quản lý, biết phân quyền và giao
nhiệm vụ cho cấp dưới và tạo điều kiện cho họ hoàn thành nhiện vụ. Đảm bảo thu
nhập cho người lao động, phát triển nghề nghiệp, tạo điều kiện cho họ tiến bộ.
Biết khơi dậy khát vọng, ý chí và khả năng làm giàu cho doanh nghiệp, cho xã hội
và cá nhân theo pháp luật. Giám đốc còn phải biết sống công bằng dân chủ. Biết
đãi ngộ đúng mức, biết lắng nghe, quyết đoán mà không độc đoán.
Thứ tư, giám đốc là nhà hoạt động xã hội, hiểu thấu đáo và tuân thủ pháp
thiệt hại hàng tỷ đồng của doanh nghiệp.
Theo quan điểm của Khoa học Quản lý, chủ DN có 3 vai trò chủ yếu trong
DN.
Thứ nhất, thể hiện là người có vị trí cao nhất, là khâu trung tâm liên kết các
bộ phận, cá nhân, các yếu tố nguồn lực thành một thể thống nhất, để thực hiện tốt
mục tiêu của doanh nghiệp.
Thứ hai, chủ DN một mặt đại diện cho lợi ích xã hội (lợi ích của Nhà nước,
bạn hàng, khách hàng), lợi ích của DN, mặt khác đại diện cho lợi ích của nhân
viên và những người lao động do họ quản lý (tiền lương, tiền thưởng).
8
Thứ ba, chủ DN thể hiện là người đứng mũi chịu sào, trực tiếp vận dụng các
quy luật khách quan (kinh tế, tâm lý, xã hội…) để đưa ra những quyết định quản
lý, tạo ra thắng lợi cho doanh nghiệp.
b/ Vai trò của chủ DN đối với nền kinh tế.
Thứ nhất, đội ngũ chủ DN là lực lượng xung kích trong công cuộc đổi mới
đất nước
Thứ hai, đội ngũ chủ DN lớn mạnh là hạt nhân của nền kinh tế thị trường.
Thứ ba, đội ngũ chủ DN đóng vai trò nòng cốt, tạo nên sức sống của toàn bộ
nền kinh tế.
Chính vì thế, TS Vũ Quốc Tuấn - Ban nghiên cứu Chính phủ đã nói " Theo
tôi trong cơ chế thị trường có 3 lớp người cần được tôn vinh: Những người hoạch
định chính sách, các nhà khoa học công nghệ, doanh nhân: những người đưa chính
sách của Đảng và Nhà nước, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế" (Báo diễn
đàn doanh nghiệp số 52 ngày 28/6/2001)
1.2.4. Những yêu cầu đặt ra đối với chủ doanh nghiệp.
Theo quan điểm của trường Thương Mại Harvard, chủ DN cần hội tụ ba
điểm sau:
Về kỹ năng: Chủ DN phải có năng lực suy xét vấn đề một cách sáng tạo có
khả năng xoá bỏ những tư duy cũ và khuân mẫu truyền thống để tư duy một cach
sáng tạo, dám đổi mới.
THỰC TRẠNG CỦA ĐỘI NGŨ CHỦ DNV&N MỚI
THÀNH LẬP VIỆT NAM, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
2.1. Đội ngũ chủ DNV&N đang từng bước khẳng định vị trí của mình trong
lĩnh vực kinh doanh.
2.1.1 Đội ngũ chủ doanh nghiệp ngày càng tăng
Như chúng ta đã biết, sự tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân mới
được chính thức thừa nhận từ 1990, khi luật DN tư nhân và Luật công ty được
thông qua. Từ đó đến nay, loại hình DN ở Việt Nam cũng trở nên phong phú hơn,
với những loại hình như cá nhân và nhóm kinh doanh, DN tư nhân, công ty
TNHH, công ty cổ phần.
Theo kết quả điều tra kinh doanh (Dự thảo báo cáo điều tra kinh doanh tại các
DN, VIE/97/09, Hà Nội, 5/1999) có tới 284 trong số 325 (chiếm 87,4%) DN
phỏng vấn được thành lập từ 1992. Cụ thể có 70 trong số 96 DNNN (72,9%); 36
11
trong số 42 HTX (85,7%); 85 trong số 90 Công ty TNHH (94,4%); 4 (100%),
Công ty TNHH được thành lập trong giai đoạn 1992- 1998.
Luật DN (12/6/1999) thay thế cho Luật Công ty và DN tư nhân có hiệu lực từ
1/1/2003. Khu vưc kinh tế tư nhân trong báo cáo này bao gồm các hộ kinh doanh,
các DN tư nhân, các công ty TNHH và các công ty cổ phần..
Từ đó đến nay về mặt số lượng, chủ DN tăng chủ yếu ở khu vực ngoài quốc
doanh, sau đó là khui vực có vốn đầu tư nước ngoài, DNNN giảm do tổ chức sản
xuất lại và cổ phần hoá chuyển sang khu vực ngoài quốc doanh.
Số DN thức tế đang hoạt động trong các ngành kinh doanh tăng bình quân
25,8%/năm (2 năm tăng 23,1 ngàn DN) Trong đó: DNNN giảm 4,8% (2 năm giảm
498 DN); DNNQD tăng 30,3% (2 năm tăng 22,85 ngàn DN); DN có vốn đầu tư
nước ngoài tăng 22,8% ( 2 năm tăng 775 DN)
Bảng 1: Bảng chi tiết từng khu vực và từng ngành kinh tế
Nguồn: Phát triển doanh nghiệp trong các ngành kinh tế 2000-2003
12
Số DN đang hoạt động
19.281
3.984
1.789
2.871
51.057
5.067
43.993
3.614
22.554
16.189
1.636
1.997
3.424
12.951
22.849
5.588
2.535
3.710
62.892
5.033
55.555
4.112
24.818
23.587
3.038
2.304
1.566
3.376
15.818
27.633
2.46
24.80
40.14
1.22
3.79
32.70
2.44
4.71
1.09
51.27
4,00
0,48
1,96
22,88
1,31
7,19
1,31
53,59
11,76
0,01
12,49
48,07
8,72
11,20
2,14
12,80
4,58
0,20
9,62
21,19
8.Khách sạn, nhà hàng 4,46 3,72 2,61 0,68 13,09
9.Vận tải, kho bãi và thông tin liên
lạc
1,08 4,55 1,31 13,44 7,62
10.Tài chính, tín dụng 0,19 0,07 26,14 5,48 0,01
11.Hoạt động khoa học và công nghệ 0,01 0,22 0,00 0,00 0,00
12.Hđộng lquan đến kdoanh tài sản,
dịch vụ tư vấn
0,42 3,17 5,88 0,01 1,21
13.Giáo dục và đào tạo 0,00 0,01 0,00 0,00 0,02
14.Y tế và các hoạt động cứu trợ xã 0,01 0,03 0,00 0,00 0,56
14
hội
15.Hoạt động văn hoá, thể thao 0,04 0,10 0,00 0,03 1,05
16.Hoạt động phục vụ các nhân và
cộng đồng
2,21 0,92 0,00 0,24 2,21
Phần trăm tổng số 100
(1,22)
100
(0,48)
100
(0,01)
100
(0,20)
100
(98,0
9)
Nguồn: Báo cáo nghiên cứu DNV&N, Hà Nội 5/2000
Điều đáng lưu ý là có 21% số DN tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thuỷ sản
của một nghiên cứu cho thấy DNV&N giải quyết khoảng 26% lao động cả nước
(không kể lao động trong hộ gia đình, một lực lượng đông đảo ở Việt Nam hiện
nay). Con số này cho thấy vai trò quan trọng của DNV&N lớn hơn 2,5 lần so với
các DNNN về số lượng lao động (7,8 triệu so với 3 triệu). ậ Việt Nam theo ước
tính có khoảng 7,8 triệu lao động được thu hút vào làm việc cho các DNV&N.
Đây là một cách phát triển góp phần giải quyết tốt sức ép thất nghiệp đang ngày
càng gia tăng do dân số đông. Bảng dưới đây cho thấy tỷ lệ đóng góp của
DNV&N thuộc các lĩnh vực khac nhau trong việc thu hút lao động.
Bảng 4: Tỷ lệ lao động của các DNV&N trong các ngành.
Ngành Tỷ trọng lao động (%)
Công nghiệp khai thác mỏ 2,4
Công nghiệp chế biến 35,7
Sản xuất, phân phối điện, nước 2,6
Xây dựng 15,6
Thương mại, dịch vụ sửa chữa 19,5
Khách sạn, nhà hàng 5,1
Vận tải, kho bãi 11,1
Tài chính, tín dụng 3,7
Khoa học và công nghệ 0,1
Kinh doanh tài sản, tư vấn 2,7
16
Văn hoá, thể thao 0,6
Dịch vụ phục vụ các nhân công 0,8
Tổng số 100
Nguồn: Giải pháp phát triển DNV&N ở Việt Nam, NXB CTQG, tr.23
6 tháng đầu năm 2003 khu vực kinh tế tư nhân đã gải quyết việc làm cho
257.5 ngàn người (tăng 6,5% so với cùng kỳ 2002) trong đó số người có việc làm
ổn định là 77% (tăng 7,1%). Số người đăng ký xin làm việc ước tính cuối tháng 6
tăng 8,4% (so với tháng 6/2002); số người đăng ký xin việc làm là bộ đội hoàn
thành nghĩa vụ quân sự tăng 2,3% và học sinh thôi học tăng 0,5% (Nguồn: Con số
Cổ phần
HTX Kinh tế
Cá thể
1.Vùng núi và trung du
2.Đồng bằng sông Hồng
3.Khu Bốn cũ
4.Duyên hải Miền Trung
5.Tây Nguyên
6.Đông Nam Bộ
7.Đồng bằng sông Cửu
Long
7,43
7,49
4,71
17,17
2,95
28,68
31,57
4,03
23,00
2,54
6,13
1,09
58,62
4,59
0,06
12,15
0,18
2,96
0,10
tắc luật lệ của cơ chế thị trường.
Điều đáng lưu ý là doanh thu của khu vực Miền Đông Nam Bộ, gồm cả thành
phố Hồ Chí Minh chiếm tới 51% tổng doanh thu của khu vực tu nhân trên cả
nước. Tiếp đến là vùng ĐBSCL (22%) và vùng ĐBSH (12%). Như vậy, xét về
doanh thu, thì hoạt động của khu vực tư nhân ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở
miền Nam Việt Nam.
19
Bảng 6: Doanh thu các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh phân theo cùng
lãnh thổ
Đơn vị: %
Phân theo vùng lãnh thổ
Loại hình DN
DNTN TNHH CP HTX Cá
thể
1.Vùng núi và trung du
2.Đồng bằng sông Hồng
3.Khu Bốn cũ
4.Duyên hải Miền Trung
5.Tây Nguyên
6.Đông Nam Bộ
7.Đồng bằng sông Cửu Long
2,90
2,97
1,40
6,19
1,98
41,44
43,11
17,18
1,34
40,60
3,12
11,73
3,05
6,12
2,43
51,46
22,08
100
Tổng số 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Báo cáo nghên cứu DNV&N, Hà Nội 5/2000
Xét về ngành nghề kinh doanh, thì doanh thu của khu vực kinh tế tư nhân chủ
yếu tập trung ở 3 ngành, đó là thương mại, sửa chữa xe động cơ, xe máy, xe mô tô
(61%) và ngành công nghiệp chế biến (23%) và khách sạn, nhà hàng (khoảng 4%).
Xét về nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước, thì số thuế của cá nhân và nhóm
kinh doanh chiếm 54% tổng số thuế của khu vực kinh tế tư nhân, không kể thuế
của khu vực nông nghiệp, tiếp đến là công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân
(40%)
Phần lớn thuế mà các đơn vị kinh doanh của khu vực ngoài quốc doanh nộp
đều tập trung ở 2 ngành: thương mại dịch vụ (50% tổng số thuế của khu vực tư
nhân) và công nghiệp chế biến (26%).
20
Bảng 7: Nộp thuế các loại hình kinh doanh ngoài quốc doanh phân theo
ngành kinh tế (đến 31/12/1996)
Đơn vị: %
Phân theo ngành kinh tế
Loại hình doanh nghiệp
DNTN TNHH Cổ phần HTX Cá thể
1.Nông nghiệp 0,05 0,23 0,00 0,08 0,20 0,18
2.Thuỷ sản 5,34 0,04 0,02 0,40 2,08 1,99
15,65 24,09 3,05 2,81 54,39 0,01
c/ Góp phần tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế:
DN nghiệp phát triển là yếu tố quyết định đến tăng trưởng cao và ổn định của
nền kinh tế những năm qua. Doanh thu thuần tăng bình quân 26,8% (năm 2000 đạt
1.188.187 tỷ đồng), tổng nguồn vốn tăng 16,4%/năm, nộp ngân sách Nhà nước
tăng 15,5%/năm. Lợi ích lớn hơn mà tăng trưởng DN mang lại là tạo ra khối lượng
21
hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, góp phần quan trọng cải thiện và
nâng cao mức tiêu dùng tăng trong nước và tăng xuất khẩu, đó cũng là yếu tố giữ
cho nền kinh tế ổn định và phát triển những năm qua.
Bảng 8: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội của cả nước 9 tháng
năm 2003
9 tháng năm
2003 (Tỷ đồng)
Cơ cấu
(%)
Tỷ lệ so với cùng
kỳ năm trước (%)
Tổng số 27.281 100.0 111,7
Phân theo loại hình kinh tế
Nhà nước
Tập thể
Cá thể
Tư nhân
KV có vốn đầu tư nước ngoài
38.240
2.102
146.801
36.067
4.071
quyết định là DNNN, các ngành khác hoạt động của cá thể, hộ gia đình là chính
chiếm từ 85-95% sản lượng toàn ngành (như nông lâm nghiệp, thuỷ sản, thương
mại….). Đến năm 2002, hoạt động của loại hình DN có mặt ở hầu hết các ngành
sản xuất kinh doanh; trong đó ngành công nghiệp, DN chiếm trên 90% giá trị sản
xuất toàn ngành, thương mại, khách sạn nhà hàng chiếm từ 20-30%, xây dựng,
vận tải trên 60%, hoạt động tài chính ngân hàng chiếm 95-98%....Một số ngành
22
như hoạt động khoa học công nghệ, văn hoá thể thao, cứu trợ xã hội, hoạt động
phục vụ cá nhân và cộng đồng, cũng xuất hiện trên 700 DN với số vốn gần 7.700
tỷ đồng, nộp ngân sách 183 tỷ đồng.
Các loại hình kinh tế trong DN phát triển đa dạng gồm nhiều thành phần,
trong đó DNNN và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn nhất, các
loại hình DN tư nhân tuy còn nhỏ nhưng phát triển nhanh và rộng khắp ở các
ngành và các địa phương trong cả nước, loại hình kinh tế tập thể đang được khôi
phục và có bước phát triển mới.
Cơ cấu một số loại hình trong các chỉ tiêu kinh tế cảu doanh nghiệp như
sau (số liệu năm 2002)
Số doanh
nghiệp
Lao động Nguồn vốn Doanh
thu
Nộp
ngân
sách
Tổng số
1.Khu vực DNNN
2.Khu vực DN ngoài
quốc doanh
Trong đó
-Hợp tác xã
49,4
31,4
1,0
7,8
17,2
5,5
19,2
100,0
46,1
12,5
0,3
1,7
7,6
2,8
41,4
Nguồn: Phát triển doanh nghiệp trong các ngành kinh tế năm 2000-2003
đ/ Về xuất khẩu:
Trong những năm gần đây các DNV&N đã đóng góp đáng kể vào kim ngạch
xuất khẩu cả nước nhất là các mặt hàng như thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản,
thuỷ sản, hàng may mặc… Ví dụ công ty TNHH Đỉnh Vàng kim ngạch xuất khẩu
năm 1999 là 17 triệu USD. Công ty Vũng Tàu Sinhaco kim ngạch xuất nhập khẩu
là 46 triệu USD. Qua đó đã góp phần làm giảm mức thâm hụt của cán cân thương
23
mại, cán cân thanh toán quốc tế cũng như giảm sức ép đối với tỷ giá đồng tiền
Việt Nam. Tạo ra sự ổn định và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
(Nguồn: Vốn bài toán khó cho các DNV&N – Thương nghiệp thị trường Việt
Nam, số tân niên, phần đầu tư- phát triển, tr.32-33)
2.1.5 Một số DN và chủ DNV&N
Trong tình hình đổi mới phát triển kinh tế của đất nước, các DN và chủ
DNV&N đã có những thành công nổi bật trong kinh doanh và góp phần không
Cty TNHH Phương Trinh TP Hồ Chí Minh
4 Phạm Hồng Điệp,
Chủ tịch HĐQT
Cty CP Công Nghiệp tàu
thuỷ SHINEC
Tổng Cty công
nghiệp tàu thuỷ
Việt Nam
5 Đỗ Anh Dũng,
Tổng GĐ
Cty TNHH TM&DV
Khách Sạn Tân Hoàng
Minh
Hà Nội
6 GĐ Hoàng Anh Tuấn Cty công nghệ thông tin
HANOICTT
Hà Nội
7 GĐ Võ Thị Mượt Cty TNHH Hưng Phát Tây Ninh
8 Trần Mạnh Hùng,
Phó TGĐ
Cty CP xây dựng và đầu
tư Việt Nam (CAVICO
Vietnam)
Tổng Cty xây
dựng Việt Nam
9 GĐ Trần Nghĩa Vinh Cty CP bảo hiểm
Petrolimex
Bộ Thương Mại
10 GĐ Nguyễn Thị Thanh
Nhàn