Hoàn thiện quy trình nhập khẩu nguyên phụ liệu may mặc của công ty Cổ phần may Đức Giang - Pdf 10

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà
nước ta đã đề ra các đường lối phát triển nền kinh tế với mục tiêu: “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ”. Sau hơn 20 năm thực hiện các đường
lối đó, nền kinh tế đã đạt được một số kết quả ban đầu: Cơ chế quản lý quan liêu bao
cấp được chuyển đổi sang cơ chế thị trường, nền kinh tế mở đã và đang từng bước
được kết nối với nền kinh tế thế giới
Để có được những kết quả đó không thể không kể đến vai trò của hoạt
động xuất nhập khẩu, cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, hoạt động
xuất nhập khẩu đã thực sự chiếm một vị trí rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động
kinh tế đối ngoại và trở thành nguồn tích luỹ, bổ sung chủ yếu cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và nhà
nước ta đã khẳng định: “Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đường
đầu tiên cũng như sự phát triển kinh tế trong kỹ thuật và công nghiệp hoá xã hội chủ
nghĩa cuả nước ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần quan trọng
vào việc mở rộng, nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Xuất nhập khẩu là lĩnh vực
không thể thiếu đối với bất kỳ quốc gia nào đặc biệt là đối với những nước đang phát
triển. Để tăng trưởng kinh tế nhanh chóng quốc gia cần đẩy mạnh hoạt động xuất
khập khẩu bởi vì xuất khẩu sẽ thúc đẩy nền kinh tế trong nước còn nhập khẩu sẽ đảm
bảo cho quá trình sản xuất được liên tục có hiệu quả.
Là một doanh nghiệp chuyên sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm về may
mặc,công ty hiểu rõ mặt hàng nguyên phụ liệu may mặc cùng các sản phẩm về may
mặc hiện nay đang rất được ưa chuộng trong sản xuất cũng như tiêu dùng.Thị trường
sản xuất các sản phẩm về may mặc cũng như nguyên phụ liệu may mặc ngày càng
được mở rộng và có sức cạnh tranh lớn về mặt chất luợng sản phẩm .Vì vậy,các
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
1
1
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

các sản phẩm may mặc,trực thuộc tổng công ty dệt may - Bộ công nghiệp .Trụ sở
chính của công ty đặt tại 59 –Thị trấn Đức Giang – Gia Lâm– Hà Nội.
Tên giao dịch quốc tế: DUGARCO (DUC GIANG IMPORT –EXPORT
GARMENT COMPANY)
Địa chỉ: 59 thị trấn Đức Giang – Gia Lâm – Hà Nội
Điện thoại: 8271344 / 8773534 / 8271621 / 8272900
Fax: 8271896 – 8274619
Email:
Công ty có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng tại ngân hàng công thương
khu vực Chương Dương và Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam. Quá trình hình
thành và phát triển của công ty được tóm tắt như sau:
Công ty May Đức Giang tiền thân là Xí nghiệp may Đức Giang được thành lập
vào ngày 2 tháng 5 năm 1989 theo quyết định số 102 CNn/TCLD của Bộ Công
Nghiệp Nhẹ. Vào thời điểm này nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh từ cơ chế kế
hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Các đơn vị kinh tế cơ sở thực hiện quyền
tự chủ trong sản xuất kinh doanh, từ đó vai trò của các tổng công ty và liên hiệp các
xí nghiệp không còn như trước. Để thích ứng với cơ chế mới các cơ quan này phải
sắp xếp lại tổ chức và tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật cùng số lao động dôi dư để
hình thành đơn vị sản xuất kinh doanh mới. May Đức Giang là một đơn vị ra đời
trong bối cảnh ấy.
Cơ sở vật chất ban đầu của xí nghiệp là trạm vật tư May Đức Giang thuộc liên
hiệp các xí nghiệp may gồm 5 nhà kho, 2 dãy nhà cấp 4 trên diện tích đất 18 000 m
2
máy móc thiết bị có 132 máy khâu Liên Xô và số máy cũ đã thanh lý của May 10,
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
3
3
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
May Thăng Long và của liên hiệp các xí nghiệp may điều cho. Tổng giá trị của số tài

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
- Nộp ngân sách 25 triệu đồng
- Số lượng lao động 380 người
- Thu nhập bình quân đầu người 40 800 đ/ tháng
Năm 1992, trước yêu cầu thực tế trong quan hệ với bạn hàng,Bộ công
nghiệp nhẹ đã cho “xí nghiệp sản xuất và dịch vụ may Đức Giang” đổi tên thành
“Công ty may Đức Giang” theo quyết định 1274/QDCN – TCLĐ ngày 12/12/1992.
Tháng 3 /1993 Bộ trưởng Bộ công nghiệp nhẹ có quyết định số 211/CN –
TCLĐ v/v thành lập doanh nghiệp nhà nước.Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991
của chủ tịch HĐBT nay là thủ tướng chính phủ , theo quyết định này Công ty may
Đức Giang đã trở thành một doanh nghiệp nhà nước có con dấu riêng.
Tháng 4/1993 Công ty được cấp giấy phép kinh doanh XNK số
1021046 của Bộ trưởng thương mại 6/9/1993.Từ đó, Công ty may Đức Giang lấy
tên giao dịch là “ Công ty xuất – nhập khẩu may mặc Đức Giang” (DUC GIANG
IMPORT – EXPORT GARMENT COMPANY) như ngày nay.
Từ những căn cứ pháp lý trên, Công ty được phép xuất nhập khẩu trực
tiếp, hợp tác liên doanh, liên kết với các bạn hàng trong và ngoài nước.
Ngày 28/11/1994 Bé trưởng Bộ công nghiệp nhẹ có quyết định số 1579 / CN
–TCLĐ v/v chuyển đổi tổ chức bộ máy quản lý và cơ cấu sản xuất bộ máy của
công ty.
Với sự điều hành của bộ máy mới và sự nỗ lực của toàn bộ cán bộ công nhân
viên, công ty đã hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh.
Năm 1996, Bộ trưởng thương mại đã có văn bản số 12901/ TM –
XNK, ngày 14/12/1996 về việc “ Bổ sung ngành kinh doanh XNK và chuyển
đổi loại giấy phép ”. Như vậy, đến năm 1996, Công ty may Đức Giang trở
thành công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh tổng hợp. Tuy nhiên, sản
phẩm may mặc vẫn là chủ yếu.
Năm 1996: Liên doanh may xuất khẩu Việt Thành ( Bắc Ninh)
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11

Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
6
6
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
trường xuất khẩu gồm 22 nước trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Hông Công, Khối EU, Trung Cận Đông, Bắc Mỹ. Hệ thống tiêu thụ trong cả nước có
39 đại lý ở các tỉnh và thành phố ngoài ra đơn vị còn có 4 đơn vị liên doanh tại các
tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Thái Bình giải quyết việc làm cho hơn
3000 lao động tại các địa phương.
Sau gần hai thập kỉ phát triển, công ty đã được nhà nước tặng thưởng danh
hiệu Anh hùng và nhiều huân chương các loại.
1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty
1.2.1 Đặc điểm về quy trình công nghệ của công ty
Quy trình sản xuất của công ty có đối tượng chế biến là vải được cắt và may
thành các chủng loại mặt hàng khác nhau, kỹ thuật sản xuất các cỡ vải của mỗi
chủng loại mặt hàng có mức độ khác nhau, phụ thuộc vào số lượng chi tiết của loại
hàng đó. Do mỗi mặt hàng, kể cả kích cỡ của mỗi mặt hàng có yêu cầu sản xuất
riêng về loại vải, về thời gian hoàn thành cho nên tuỳ từng chủng loại mặt hàng khác
nhau, được sản xuất trên cùng một dây chuyền ( cắt, may, là ) nhưng không được tiến
hành đồng thời cùng một thời gian và mỗi mặt hàng được may từ nhiều loại khác
nhau hoặc nhiều loại khác nhau được may cùng một loại vải. Do đó cơ cấu chi phí
chế biến và định mức kỹ thuật của mỗi loại chi phí cấu thành sản lượng sản phẩm
của từng mặt hàng là khác nhau.
Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty là sản suất phức tạp kiểu liên tục, sản
phẩm được trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau. Các mặt hàng mà công ty sản xuất
có nhiều kiểu cách, chủng loại khác nhau. Song tất cả đều phải trải qua các giai đoạn
cắt, là may, đóng gói riêng với mặt hàng có yêu cầu giặt mài hoặc thêu thì được
thực hiện ở các phân xưởng sản xuất kinh doanh phụ. Ta có thể thấy được quy trình
công nghệ sản suất sản phẩm ở Công ty May Đức Giang qua sơ đồ sau:

theo yêu cầu không . Khi đã qua bộ phận KCS thì tất cả các sản phẩm được chuyển
đến phân xưởng hoàn thành để đóng gói, đóng kiện.
1.2.2 Các lĩnh vực kinh doanh chính của công ty
Tổng Công Ty Đức Giang chuyên hoạt động trong các lĩnh vực sau:
- Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm dệt may, nguyên phụ
liệu, máy móc, thiết bị, phụ tùng, linh kiện ngành dệt may;
- Kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, sản phẩm
nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản, thực phẩm công nghệ;
- Kinh doanh các sản phẩm dân dụng, thiết bị văn phòng, phương tiện vận tải,
vật liệu điện, điện tử, điện lạnh, cao su;
- Nhập khẩu sắt thép gỗ, máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu cho sản xuất
kinh doanh, kinh doanh kim loại màu (kẽm, nhôm, đồng, chì) làm nguyên liệu cho
sản xuất;
- Kinh doanh vận tải đường bộ và đường thuỷ;
- Dịch vụ xuất nhập khẩu;thương mại, siêu thị
- Kinhdoanh bất động sản, xây dựng và kinh doanh cho thuê làm văn phòng,
trung tâm và nhà ở;
- Kinh doanh khách sạn, nhà hàng, lưu trú du lịch; kinh doanh du lịch lữ hành
nội địa và quốc tế;
1.2.3 Đặc điểm sản phẩm sản xuất của công ty
Trong điều kiện cạnh tranh của cơ chế thị trường, Công ty cổ phần may
Đức Giang đã sản xuất kinh doanh thoe phương thức đa dạng hóa sản phẩm để tạo ra
sự linh hoạt,thích ứng nhanh chóng với nhu cầu người tiêu dùng nhằm thâm nhập thị
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
9
9
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
trường mới đồng thời mở rộng thị trường truyền thống của mình. Hiện nay, công ty
sản xuất hơn 20 chủng loại sản phẩm may mặc khác nhau. Tuy nhiện,Công ty cũng

vật chất kỹ thuật,tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đến nay,công ty
đã có tông 5154 máy may công nghiệp và các thiết bị chuyên dùng. Trong đó có đến
80 % là thiết bị hiện đại gồm máy JUKI của Nhật,máy PEAFF. Đặc biệt công ty có 4
đầu máy thêu TAJIMA hiện đại nhất trị giá hàng triệu đô của Nhật Bản phục vụ sản
xuất các sản phẩm cao cấp áo jacket, áo khoác nữ để xuất khẩu. Công ty cũng có
máy : Hệ thống máy nến khí, máy thổi form jacket, 6 máy Dpmex, máy lộn cổ sơ mi,
máy Đp cổ, máy Đp sec, máy Đp thân và băng chuyền tự của dây chuyền gấp gói sơ
mi.
Hiện nay,công ty có 9 xí nghiệp sản xuất như may 1 ,may 2, may 4 ,may
6, may 8, may 9, xí nghiệp giặt mài, xí nghiệp thêu điện tử,phân xưởng bao bì
carton.
Bảng 1.1 : TSCĐ của công ty tại ngày 31/12/2012
Số dây chuyền may 144
Máy may 1 kim 4701
Máy may 2 kim 453
Máy vắt sổ 325
Máy thùa khuyết 88
Máy đính cúc 104
Máy chuyên dùng khác 1320
[ Nguồn : Phòng sản xuất – Công ty cổ phần may Đức Giang ]
1.3 Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
Ban Ki m soátểH i ng qu n trộ đồ ả ị
C quan t ng Giám cơ ổ đố
Các phòng t i May cạ Đứ
Giang
11
11
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

c GiangĐứ
12
12
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
- Tổng giám đốc : Là đại diện pháp lý của công ty, chịu trách nhiệm cao nhất
trước pháp luật và cấp trên về mọi hoạt động của công ty.
- Ba phó tổng giám đốc do Tổng giám đốc đề nghị cấp trên bổ nhiệm gồm :
- Phó tổng giám đốc điều hành sản xuất
- Phó tổng giám đốc điều hành kinh doanh
- Phó tổng giám đốc điều hành xuất nhập khẩu
- Các phòng ban chức năng (khối chức năng ) có nhiệm vụ tham mưu cho
ban giám đốc về lĩnh vực mang tính chất chuyên môn hoá gồm :
- Phòng tổ chức hành chính ( văn phòng tổng hợp )
- Phòng tài chính kế toán
- Phòng kế hoạch
- Phòng kỹ thuật
- Phòng xuất nhập khẩu
- Phòng thời trang
- Ban điện
- Ban cơ
- Đội xe
- Các đơn vị thành viên gồm 6 Xí nghiệp may chuyên sản xuất các sản phẩm
may mặc theo chỉ đạo của ban lãnh đạo công ty
Qua mô hình tổ chức bộ máy quản lý của công ty cho thấy đó là hình thức tổ
chức quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng. Ưu điểm của nó là : Thay vì toàn bộ
công việc đều đến tay Tổng Giám Đốc, Giám Đốc giải quyết chịu trách nhiệm thì
nay được chia xẻ bớt cho các phòng ban chức năng gánh vác và chịu trách nhiệm đối
với khối lượng công việc được giao trước tổng giám đốc, giám đốc vì thế sẽ hạn chế
được những quyết định sai lầm gây thiệt hại, thói cửa quyền, độc đoán, nhằm vụ lợi
cá nhân. Mặt khác việc chia sẻ bớt quyền lực cho những người đứng đầu các phòng

1.4.1 Lao động
Bảng 1.2 : Đánh giá cơ cấu lao động của công ty
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
14
14
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Chỉ tiêu
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011/2010 2012/2011
số
người
tỷ trọng
(%)
số
người
tỷ trọng
(%)
số
người
tỷ trọng
(%)
tuyệt
đối
tương
đối(%)
tuyệt
đối
tương
đối(%)

6550
700
90,3
9,7
7020
1470
82,4
17,4
7590
1250
85,8
14,2
470
770
7,1
110
570
- 220
8,1
- 17,6
Tổng lao động của
công ty
7250 8490 8840 1240 17,1
[Nguồn : Phòng TCHC của Công ty cổ phần may Đức Giang]
Qua bảng số liệu trên ta thấy tình hình lao động của công ty qua một số năm
như sau :
- Tổng số CBCNV của công ty đã tăng trung bình % một năm.
- Tỷ lệ số lao động nam và lao động nữ ở công ty có số chênh lệch lớn. Tuy
nhiên, trong một số năm gần đây tỷ lệ số lao động nam đang có chiều hướng tăng
lên.

thu
619.090.245.88
0
901.016.004.47
2
901.477.522.7
68
288.176.758
.388
45,5 461.518.300 0,05
2 Tổng
chi phí
548.737.876.15
6
792.584.539.05
8
816.689.419.7
17
243.864.666
.292
44,4 24.104.880.659 3,04
3 Lợi 70.352.378.724 108.404.942.42 84.764.149.16 38.052.563 54,08 -23.640.793 - 21,8
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
16
16
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
nhuận
0 0 .686 .240
4 Lương

17
17
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
2013 khi nền kinh tế dần phục hồi sẽ tạo điều kiện cho công ty đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hóa sang các quốc gia lớn như Mỹ,Canada

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH NHẬP KHẨU NGUYÊN PHỤ
LIỆU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY ĐỨC GIANG

2.1 Cơ sở lí luận chung về xuất nhập khẩu hàng hóa
2.1.1 Khái niệm
Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa, các doanh nghiệp mở rộng địa
bàn kinh doanh ra nước ngoài là một xu thế khách quan không thể đảo ngược. Khi
nghiên cứu sự phát triển của “tư bản” Các Mác đã định nghĩa thương mại quốc tế
(ngoại thương) là sự mở rộng thương mại ra khỏi phạm vi một nước.
Thương mại quốc tế đóng vai trò lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân, vì nó mở rộng khả năng tiêu dùng và sản xuất của mỗi nước, gắn quá trình
kinh tế trong nước với kinh tế khu vực và thế giới , làm thay đổi cơ cấu kinh tế giúp
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
18
18
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
cho việc sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực quốc gia, là động lực tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Đối với doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế chủ yếu
thông qua xuất khẩu và nhập khẩu các hàng hóa, dịch vụ.
Kinh doanh thương mại quốc tế là hình thức mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa
các cá nhân, tập thể , doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau nhằm thu được lợi
nhuận.

với chi phí nhập khẩu bỏ ra để đạt được kết quả đó, nó phản ánh kết quả của quá
trình nhập khẩu.
- Hiệu quả nhập khẩu là sự chênh lệch giữa chi phí ngoại tệ nhập khẩu và
giá trị nội tệ của hàng hoá nhập khẩu.
Hiệu quả nhập khẩu còn góp phần vào việc sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh
tế, tăng năng suất lao động, tăng doanh thu cho ngân sách, giải quyết công ăn việc
làm… Như vậy thông qua nhập khẩu cho ta thấy rõ khả năng và trình độ quản lý của
doanh nghiệp đối với từng lĩnh vực kinh doanh cụ thể.
2.1.2 Đặc điểm cơ bản của hoạt động xuất nhập khẩu
- Hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được tiến hành với đối tác ở nước
ngoài.
Nghĩa là việc buôn bán diễn ra giữa các đối tác có ngôn ngữ, phong tục tập
quán, tôn giáo khác nhau. Đặc điểm này đòi hỏi trong buôn bán các đối tác phải lựa
chọn ngôn ngữ chung để giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng. Sự khác nhau về
văn hóa dễ dẫn tới hiểu lần đáng tiếc và rủi ro khi không chung một ngôn ngữ, hệ
thống luật pháp, nếp nghĩ, thói quen và cả những giá trị mà các bên theo đuổi giữ
gìn.
Trong buôn bán với nước ngoài, hàng hóa được chuyển từ trong nước ra nước
ngoài hoặc ngược lạ, đòi hỏi bao bì, ký mã hiệu phải tuân theo tiêu chuẩn quốc tế,
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
20
20
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
bền chăc để có thể chuyển tải qua nhiều phương thức vận tải, nhiều phương tiện vận
chuyển khác nhau. Nội dung của hợp đồng phải cụ thể, phải thể hiện ý chí của cả hai
bên và theo mẫu quy định của hoạt động thương mại quốc tế.
- Phương thức thu nợ, thanh toán trong kinh doanh thương mại quốc tế phức
tạp và đa dạng hơn so với kinh doanh trong nước
Cũng vì vậy khả năng rủi ro lớn hơn.Theo ước tính , nếu rủi ro trong buôn bán

tế, tính toán chính xác các chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, tranh
thủ đúng chính sách, luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế. Trong hình thức này
doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối
tác, đàm phán, kí kết hợp đồng và phải bỏ vốn để tổ chức kinh doanh hàng nhập
khẩu. Khi sử dụng hình thức này, các doanh nghiệp nhập khẩu phải hoàn toàn chịu
trách nhiệm đối với các hoạt động của mình. Để nhập khẩu trực tiếp, doanh nghiệp
phải tự bỏ vốn, chịu mọi chi phí giao dịch, giao nhận, lưu kho, tiêu thụ hàng hoá, nộp
thế… Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần thận trọng xem xét và cân nhắc cẩn thận
trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh. Độ rủi ro của hoạt động nhập khẩu trực
tiếp là rất cao nhưng lại có thể đạt được lợi nhuận cao hơn so với hình thức nhập
khẩu uỷ thác. Khi tiến hành nhập khẩu trực tiếp doanh nghiệp chỉ lập một hợp đồng
với bên nước ngoài, còn hợp đồng bán hàng trong nước sẽ lập sau khi hàng về.
b. Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong
nước có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một số loại hàng hoá nhưng lại
không có khả năng nhập khẩu trực tiếp, họ muốn uỷ thác cho một doanh nghiệp khác
làm nhiệm vụ giao dịch trực tiếp và tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của
mình: bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài và làm thủ
tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác, bên nhận uỷ thác sẽ được
hưởng một phần thù lao gọi là phí uỷ thác.
Đối với hình thức này, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu nhận uỷ thác sẽ
không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (quota), không cần quan tâm đến thị
trường tiêu thụ cho hàng hoá mà chỉ đại diện cho bên nhận uỷ thác tiến hành giao
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
22
22
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng, làm thủ tục nhập hàng cũng như thay mặt bên uỷ
thác khiếu nại đòi bồi thường đối với đối tác nước ngoài khi có tổn thất trực tiếp. Chỉ

d. Nhập khẩu tái xuất
Là hoạt động nhập hàng vào trong nước nhưng không để tiêu thụ trong nước
mà để xuất sang một nước nào đó nhằm thu lợi nhuận, những hàng nhập này không
được qua chế biến ở nước tái xuất. Như vậy, nhập khẩu tái suất luôn thu hút 3 nước
tham gia: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.
Đặc điểm: Doanh nghiệp nước tái xuất phải lập hai hợp đồng:
- Một hợp đồng nhập khẩu
- Một hợp đồng xuất khẩu
Doanh nghiệp nước tái xuất phải tính toán chi phí ghép mối bạn hàng xuất nhập
sao cho có thể thu được số tiền lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động.
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch xuất và nhập,
doanh số tính trên giá trị hàng xuất do đó phải chịu thuế doanh thu.
Hàng hóa không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà có thể chuyển thẳng về
nước thứ 3, nhưng trả tiền thì phải luôn do người tái xuất thu từ người nhập khẩu trả
cho người xuất khẩu. Nhiều khi người tái xuất còn thu được lợi tức về tiền hàng do
thu được nhanh và trả chậm.
Trên đây là một số hình thức nhập khẩu thường gặp khi bất kì doanh nghiệp nào
tham gia vào lĩnh vực kinh doanh có sử dụng hình thức nhập khẩu. Cho dù nhập
khẩu theo hình thức nào đi nữa thì các bước tiến hành hoạt động nhập khẩu ở các
doanh nghiệp cũng phải theo một trình tự chung của nó. .
2.1.4 Vai trò của hoạt động nhập khẩu hàng hóa

Nhập khẩu là một trong hai hoạt động cấu thành nên nghiệp vụ xuất nhập khẩu,
là bộ phận không thể thiếu trong hoạt động ngoại thương của mỗi quốc gia. Nó có
tác động trực tiếp đến sản xuất và đời sống, thể hiện sự gắn bó lẫn nhau giữa nền
kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. Nó có tác dụng tích cực đến sự phát triển
cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của mỗi quốc gia về sức lao động, vốn cơ
Sinh viên : Bùi Thị Hồng Liên
Lớp : KTNTB K11
24

25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status