Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
và điều trị Hội chứng cai rợu cấp
Ngô Chí Hiếu
1
,
Nguyễn Thị Dụ
1, 2
Phạm Duệ
2
1
Bộ môn HSCC- Đại học Y Hà Nội
2
Khoa Chống độc- Bệnh viện Bạch Mai
Nghiên cứu tiến cứu đợc tiến hành trên 28 bệnh nhân (BN) vào điều trị tại khoa Chống độc bệnh
viện Bạch Mai có chẩn đoán là hội chứng cai rợu cấp. Các nguyên nhân thờng làm (BN) bỏ uống rợu
là sốt, viêm họng (28,8%), nôn-yếu mệt (46,8%). Thời gian từ khi bỏ rợu đến khi xuất hiện hội chứng là
24,22 17,16 giờ. Mức độ nặng thờng thấy ở những BN có thời gian nghiện rợu trên 15 năm và uống
500 - 1000ml/ngày. Dùng bảng điểm Cushman để đánh giá độ nặng, chúng tôi thấy diễn biến lâm sàng
nặng nhất vào ngày thứ 2 với điểm Cushman là 10,18 2,87, trong đó chủ yếu là run (96,5%), hoang
tởng (82,2%), vã mồ hôi (75%), tăng nhịp tim (82,3%). Vã mồ hôi là dấu hiệu báo hiệu mức độ nặng và
nguy cơ rối loạn điện giải. Mức kali máu trung bình thấp (3,26 0,52). Có hiện tợng tăng cao enzym
GGT (625,32 602,7) và các thay đổi enzym gan: GOT 144,6 90,2, GPT là: 68,9 44,4. Enzym CPK
cũng tăng cao nhng nhanh chóng về giá trị bình thờng. Trong điều trị, thuốc an thần đợc dùng theo
đánh giá điểm Cushman, liều lợng thờng cao nhất vào ngày thứ 2 (liều an thần trung bình ngày thứ hai
là 33,7 27,7 mg). Các biện pháp điều trị phối hợp là truyền đờng, bù dịch, liệu pháp vitamin. Thờng
phải bồi phụ kali một lợng lớn, trung bình 4,46g/ngày.
I. Đặt vấn đề
Tác hại bệnh lý của rợu đã đợc Tổ chức y
tế thế giới xếp sau các bệnh tim mạch, ung th
nghiên cứu hệ thống về đặc điểm lâm sàng và
các rối loạn cận lâm sàng của ngời bệnh Việt
Nam và nghiên cứu xây dựng phác đồ điều trị
trong HC cai rợu.
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề
tài nghiên cứu này với mục tiêu:
Tìm hiểu các biểu hiện lâm sàng và cận lâm
sàng của bệnh nhân hội chứng cai rợu cấp
mức độ nặng.
Nhận xét về điều trị BN hội chứng cai rợu
cấp mức độ nặng.
II. Đối tợng và phơng pháp
nghiên cứu
1. Đối tợng:
Các BN vào điều trị tại khoa Cấp cứu và
Chống độc bệnh viện Bạch Mai đợc chọn vào
nghiên cứu có đủ 4 tiêu chuẩn dới đây:
Đợc chẩn đoán là nghiện rợu: Theo tiêu
chuẩn chẩn đoán ICD-10
Đợc chẩn đoán là hội chứng cai rợu cấp
Trong vòng 24-72h sau khi bỏ rợu hoặc
giảm đột ngột lợng rợu uống, BN xuất hiện 3
trong số các dấu hiệu và triệu chứng của HC cai
gồm:
HC cờng adrenergic: nôn, run tay chân, ra
mồ hôi, mạch nhanh, huyết áp (HA) tăng.
Rối loạn tâm thần: lo lắng, kích động, rối
loạn xúc giác, thính giác, thị giác, đau toàn bộ
đầu, rối loạn định hớng.
Xuất hiện cơn co giật ở ngời nghiện rợu.
+ Có tiền sử bệnh tâm thần hay động kinh
+ BN đã dùng thuốc chẹn ò từ trớc.
2. Phơng pháp:
Tiến cứu mô tả theo phơng pháp nghiên cứu
thuần tập.
Khám xét lâm sàng, khai thác các dấu hiệu
Hỏi tiền sử:
+ Thời gian nghiện rợu
+ Số rợu uống mỗi ngày
+ Bệnh lý gan, thần kinh đã đợc chẩn đoán.
Hỏi bệnh sử:
+ Yếu tố khởi phát: nhiễm trùng, stress, các
bệnh mắc phải.
+ Thời gian từ khi bỏ rợu đến khi xuất hiện
triệu chứng đầu tiên, các triệu chứng xuất hiện
tiếp theo, diễn biến ý thức BN.
Thăm khám lâm sàng:
Buồn nôn và nôn
Lo lắng hốt hoảng
Run giật
Vã mồ hôi
Hoang tởng, sảng run (mất định hớng và
rối loạn ý thức)
Khám các dấu hiệu thần kinh (TK) khu trú,
thị lực, vận nhãn.
Đánh giá mức độ nặng theo bảng điểm
Cushman.
Cận lâm sàng:
+ Ghi điện tim, đánh giá các rối loạn điện
tim khi bắt đầu nghiên cứu (NC), hàng ngày
B
12
1000/ngày.
III. Kết quả
Trong thời gian 2 năm 2001 - 2002, có 28
trờng hợp đợc chẩn đoán HC cai rợu cấp vào
điều trị tại khoa Chống độc và Cấp cứu bệnh
viện Bạch Mai, trong đó điều trị khỏi 27 ca, tử
vong 1 ca.
1. Tình hình chung
1.1. Giới:
100% BN của chúng tôi là nam. Theo các tài
liệu nớc ngoài thì phân bố giới thờng là 90%
là nam, 10% là nữ. Có lẽ do đặc điểm phong tục
dân tộc nên nữ nớc ta uống rất ít rợu.
1.2. Tuổi
Tuổi trung bình (TB): 45,96 10,16. Cao
nhất: 68 thấp nhất: 34
Trung bình BN có số năm uống rợu 15,32
7,4 (năm)
Lợng rợu uống TB trong ngày: 478,6
178 (ml/ngày)
1.3. Phân bố theo địa d:
Trong 28 BN có: 9 BN khu vực nội thành Hà
Nội
17 BN khu vực ngoại thành
2 BN ở các tỉnh khác
2. Các đặc điểm lâm sàng
Bảng 1: Các bệnh lý dẫn đến BN phải bỏ rợu làm khởi phát hội chứng
Các loại bệnh n %
Run bàn tay 5 17,9 16 57,1 <0,05
Không run 1 3,6 11 39,3 <0, 02
Bảng 5: Đặc điểm ra mồ hôi
Lúc nhập viện Lúc xuất viện
Số lợng Tỷ lệ (%) Số lợng Tỷ lệ (%)
P
Mồ hôi toàn thân 2 7,1 0 0 >0,05
Gan bàn tay + trán 8 28,6 1 3,6 <0,05
Gan bàn tay 11 39,3 1 3,6 <0,02
Không có 7 25 26 92,9 <0,05
Bảng 6: Dấu hiệu kích thích vật v
Lúc nhập viện Lúc xuất viện
Số lợng Tỷ lệ (%) Số lợng Tỷ lệ (%)
P
Toàn thân không kiểm soát 5 17,9 0 0 <0,01
Toàn thân + kiểm soát đợc 4 14,3 0 0 <0,05
Kín đáo 8 28,6 2 7,1 >0,05
Không vật vã 11 39,3 25 89,3 <0,05
Bảng 7: Rối loạn giác quan
Lúc nhập viện Lúc xuất viện
Số lợng Tỷ lệ (%) Số lợng Tỷ lệ (%)
P
Hoang tởng 16 57,1 1 3,6 < 0,01
Khó chịu bởi KT 7 25 3 10,7 < 0,02
Không 5 17,9 25 89,3 < 0,01
Bảng 8: Mức độ diễn biến nặng giữa các ngày
40,7 7,12 36,8 5,55
Điện giải đồ
Na (mmol/l)
K (mmol/l)
Cl (mmol/l)
140,07 4,68
3,26 0,52
99,2 19,5
140,26 3,69
4,13 0,46
105,1 4,69
Lợng kali cần bù:
Ngày 1: 4,66 2,1 mmol/l
Ngày 2: 4,46 1,63 mmol/l
Ngày 3: 3,52 1,85 mmol/l
IV. Bàn luận
BN HC cai rợu cấp gặp chủ yếu ở nông
thôn (60,71%) so với thành thị (35,7 %) và hay
gặp ở công nhân và nông dân (75%). Có lẽ do
đặc điểm này mà những BN nhập viện thờng
rất nặng do thời gian nghiện rợu lâu năm và
không kiểm soát đợc lợng rợu uống trong
ngày [1].
Có mối liên quan tỷ lệ giữa tuổi BN, số năm
nghiện rợu và lợng rợu uống trung bình
trong ngày với mức độ nặng của BN khi nhập
viện và điều trị. 4 BN có số điểm Cushman trên
hiệu kể đến của bảng điểm Cushman, chúng tôi
thấy hay gặp nhất lúc nhập viện là dấu hiệu run
(96,5%) và có thay đổi trớc và sau điều trị
(60,71%) với p < 0,01 (bảng 2). Tiếp đến là các
dấu hiệu rối loạn giác quan (82,2%) và vã mồ
hôi (75%). Các dấu hiệu này đều thay đổi trớc
và sau điều trị một cách có ý nghĩa thống kê với
p< 0,01.
Điểm đặc biệt là tuy dấu hiệu vã mồ hôi ít
gặp hơn nhng theo chúng tôi nó lại báo hiệu
một tình trạng nặng do BN có nhiều nguy cơ
mất nớc, rối loạn điện giải và toan máu. Cả 2
BN có vã mồ hôi toàn thân (bảng 5) đều có số
điểm Cushman cao nhất (trên 15) trong đó có 1
BN tử vong.
Tình trạng hạ Kali máu đợc thấy ở hầu hết
các BN khi mới nhập viện với mức kali huyết là
3,26 0,52 mmol/l (bảng 9). Giá trị này khác
biệt một cách có ý nghĩa thống kê với kết quả
sau điều trị 4,13 0,46 mmol/l với p <0,01.
Tình trạng hạ Kali máu này là do kết hợp
của nhiều yếu tố vã mồ hôi, toan chuyển hoá,
nôn nhiều, ỉa chảy, dinh dỡng kém trong thời
gian dài [3].
Các hoang tởng đợc thấy trong 82,2% BN
(bảng 1), trong đó chúng tôi thấy chủ yếu là ảo
thị và ảo thanh, dấu hiệu này phù hợp với những
nghiên cứu trớc của các tác giả chuyên khoa
tâm thần [1], [2]. Bệnh nhân thấy hoa mắt và có
nhiều tiếng ong ong trong tai [2]. ở những ngày
Enzym CK tăng thoáng qua trong những
ngày đầu do tình trạng tăng trơng lực cơ, run
cơ và nhanh chóng trở về bình thờng. Chúng
tôi cha gặp biến chứng suy thận do tăng CK
làm tắc ống thận. Tuy nhiên vẫn cần hết sức đề
phòng nó khi ở ngời già, chức năng thận kém.
Trong quá trình điều trị, liều an thần chúng
tôi sử dụng thay đổi tuỳ theo mức độ nặng theo
bảng điểm Cushman (bảng 8). Chúng tôi thấy
liều cao nhất vào ngày thứ 2: 33,7 27,7 mg
phù hợp với diễn biến lâm sàng là giai đoạn
nặng nhất. Trong điều trị, chúng tôi đặc biệt lu
ý tới mất nớc và điện giải ở những BN này. Đã
có BN cần bù dịch tới 4000ml/ngày và bù kali
11g/ngày. Có 4 bệnh nhân phải thông khí nhân
tạo (14,3%), trong đó 2 bệnh nhân nhập viện vì
viêm phổi nặng, hai bệnh nhân còn lại vào viện
trong tình trạng hội chứng cai rợu nặng
(Cushman 13-14 điểm) bắt buộc phải dùng an
thần liều cao (
70mg/ngày trong 2 ngày đầu).
Vậy phải chăng một trong các nguyên nhân dẫn
đến suy hô hấp ở 2 bệnh nhân phải dùng an thần
liều cao trên là do tác dụng gây mệt cơ của
benzodiazepin trên nền bệnh nhân quá suy kiệt.
Tuy nhiên, các bệnh nhân này cũng chỉ cần thở
máy trong thời gian ngắn (không quá 3 ngày).
Điều này đặt ra vấn đề cần theo dõi sát hô hấp
trong quá trình điều trị.
(1999) Diagnosis and management of acute
alcohol withdrawal, Canadian Medical
Association Journal, 160 (5), pp 675-680
5. Wayne Hall, Deborah Zador (1997), The
alcohol withdrawal syndrome, The Lancet. Vol
349. June 28, 1997. Pp 1897-1997.
6. Bernard Rueff (1995, Le syndrome de
sevrage alcoolique, Les malades de l'alcool un
guide pratique, pp 155-164.
7. Gille Sylvain (1996), Les thÐrapeutiques
du sevrage alcoolique, ThÌse, Universite Henri
Poincare, Nancy.
Abstract
Evaluation of clinical manifestations and management of
alcohol withdrawal syndrome
Our study included 28 patients with acute alcohol withdrawal syndrome (AAWS) admitted Bach
Mai Poison Control Center in 2 years 2001-2002. The common causes made patients stop using
alcohol as following: sore throat, common cold (28.8%), vomiting, weakness (46.8%). Mean of
time from discontinuing alcohol to developing withdrawal syndrome was 24.22 ± 17.16 hrs. Severe
conditions was observed in patients exposed to alcohol over 15 years and drunk about 500-1000 ml
a day. Using Cushman scale to evaluate severity of AAWS, we realized that clinical cause was most
severe on the second day with the Cushman score was 10.18 ± 2.87 including tremor (96.5%),
hallucination (82.2%), sweating (75%), tachycardia (82.3%). Therefore, the highest doses was also
used on this day (33.7 ± 27.7 mg). The sweating was the indicator sign of severe state and high risk
of electrolyte disturbances. The serum potassium level was 3.26 ± 0.52 mmol/L. There was high
level of serum GGT (625.32 ± 602.7 U/L-37°C (normal < 50 U/L-37 °C) and elevation of liver
enzym: AST: 144.6 ± 90.2, ALT 68.9 ± 44.4 U/L-37°C. CPK was also at high level, but it dropped
to normal range quickly. Supportive therapies were replaced fluid, glucose and multivitamin supply.