Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
Kinh tế quốc tế 52A Page 1
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
HỌC PHẦN: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT
NAM 5 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY - GIAI ĐOẠN 2007-2012
Giáo viên hướng dẫn: Lương Thu Hằng
Sinh viên thực hiện:
Đậu Thị Thảo Tiên (nhóm trưởng)
Chu Hà Linh Hàn Huyền Hương
Phạm Hoàng Vân Trang Hà Tú Anh
LỚP: KINH TẾ QUỐC TẾ 52A
HÀ NỘI – NĂM 2013
Kinh tế quốc tế 52A Page 2
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
Lời mở đầu
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Hầu như nước nào cũng phấn đấu cho 4 mục tiêu- còn gọi là tứ giác mục
tiêu- đó là tăng trưởng nhanh, lạm phát thấp, cán cân thanh toán có số dư và thất
nghiệp ít. Có chăng chỉ khác nhau ở thứ tự ưu tiên và liều lượng của từng mục tiêu,
trong từng thời gian mà thôi. Trong nền kinh tế mở cửa và hội nhập kinh tế quốc
tế, mối quan hệ giữa các quốc gia là rất phong phú và đa dạng, bao gồm: thương
mại, đầu tư, dịch vụ, văn hóa….Những mối quan hệ này tạo nên nguồn thu, chi
ngoại tệ cho một quốc gia và được phản ánh chặt chẽ trên cán cân thanh toán quốc
tế của mỗi nước. Trong điều kiện nền kinh tế mở hiện nay, việc theo dõi các luồng
ngoại tệ ra vào là hết sức quan trọng để có được những chính sách đúng đắn, hiệu
quả cho nền kinh tế, điều này khiến cho vai trò của cán cân thanh toán quốc tế trở
phủ các quốc gia (đại sứ quán, tổng lãnh sự quán,…), cho các tổ chức
quốc tế (IMF, WB, UN, WTO…) đều được coi là “người không cư trú”.
- Các công ty xuyên quốc gia có chi nhánh ở nhiều nước khác nhau, thì chỉ
những chi nhánh ở nước sở tại mới được coi là “người cư trú”.
- Công dân của quốc gia này đến quốc gia khác học tập, du học, chữa bệnh
không kể thời gian dài hay ngắn đều được coi là “người không cư trú”.
1.2. Cấu trúc của cán cân thanh toán quốc tế
1.2.1. Phân loại
Có 2 cách phân loại sau:
- Cán cân thời điểm và cán cân thời kỳ:
Cán cân thanh toán trong một thời kỳ là bản đối chiếu giữa những khoản
tiền thực tế thu được từ nước ngoài với những khoản tiền mà thực tế nước đó chi ra
cho nước ngoài trong một thời kỳ nhất định. Vậy, loại cán cân này chỉ phản ánh số
liệu thực thu và thực chi của một nước đối với nước ngoài trong thời kỳ đã qua.
Cán cân thanh toán tại một thời điểm nhất định là bản đối chiếu giữa các
khoản tiền đã và sẽ thu về và chi ra ở một thời điểm cụ thể nào đó. Vậy, trong loại
cán cân thanh toán này chứa đựng cả những số liệu phản ánh các khoản tiền nợ
nước ngoài và nước ngoài nợ nước đó mà thời hạn thanh toán rơi đúng vào ngày
của cán cân.
- Cán cân song phương, cán cân đa phương :
Cán cân song phương được lập cho những giao dịch kinh tế phát sinh giữa
hai quốc gia.
Cán cân đa phương được lập cho một nước với phần còn lại của thế giới,
cho biết cơ cấu tỷ lệ mối quan hệ giữa một quốc gia với quốc gia khác từ đó hoạch
định chính sách để điều chỉnh cơ cấu hợp lý.
1.2.2. Nội dung của cán cân thanh toán quốc tế
Kinh tế quốc tế 52A Page 5
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
(1) Cán cân vãng lai
Ghi chép giá trị các dòng hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu và những khoản thu
- Năng suất lao động, trình độ lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty, chế độ đãi ngộ đối với người lao động
- Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập về đầu tư như: cổ tức, lãi suất…
d. Cán cân chuyển giao vốn một chiều
Phản ánh các khoản quà tặng, quà biếu, các khoản viện trợ không hoàn lại và các
chuyển giao khác bằng tiền và hiện vật với mục đích cho tiêu dùng giữa người cư
trú và người không cư trú. Phản ánh sự phân phối lại thu nhập
* Quy mô và tình trạng chuyển giao vãng lai một chiều phụ thuộc vào mối
quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia và tình trạng kinh tế xã hội giữa các quốc gia
(môi trường kinh tế, tâm lý, tình cảm, chính trị xã hội…)
(2) Cán cân di chuyển vốn
Được tổng hợp toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa “người cư trú” với
“người không cư trú” về chuyển vốn từ nước ngoài vào Việt Nam và chuyển vốn từ
Việt Nam ra nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu tư vào giấy tờ có giá,
vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, chuyển giao vốn một
chiều, các hình thức đầu tư khác và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật
Việt Nam làm tăng hoặc giảm tài sản có hoặc tài sản nợ.
Cán cân di chuyển vốn dài hạn:
Phản ánh các luồng vốn đi ra, đi vào của một quốc gia trong một thời gian dài.
Gồm :
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài dài hạn (mua cổ phiếu, trái phiếu).
- Đầu tư dài hạn khác: cho vay thương mại dài hạn,…
Kinh tế quốc tế 52A Page 7
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
* Quy mô và tình trạng cán cân vốn dài hạn phụ thuộc vào những nhân tố như tỷ
suất lợi nhuận kỳ vọng dài hạn, môi trường đầu tư…
Cán cân di chuyển vốn ngắn hạn:
Phản ánh các luồng vốn ngắn hạn. Gồm nhiều hạng mục phong phú, nhưng chủ
yếu là:
Từ năm 1999 đến năm 2002, cán cân thương mại Việt Nam ở trạng thái cân bằng
hoặc thặng dư, nhưng từ năm 2003 đến nay cán cân thương mại liên tục ở trạng
thái thâm hụt và giá trị thâm hụt ngày càng lớn.
Nếu trong năm 2003 thâm hụt thương mại vào khoảng 2,581 tỷ USD thì đến năm
2008 mức thâm hụt lên đến 12,782 tỷ USD, gấp 5 lần so với năm 2003. Năm 2009
mức thâm hụt là 15,412 tỷ USD, gấp 5,9 lần so với năm 2003.
Trong năm 2010, cán cân thương mại tiếp tục nghiêng về nhập siêu với mức thâm
hụt vào khoảng trên 12 tỷ USD.
Nếu so sánh giá trị thâm hụt thương mại với giá trị GDP qua các năm thì từ năm
2002 (năm bắt đầu có thâm hụt thương mại) tỷ lệ thâm hụt thương mại so với GDP
ngày càng gia tăng và trở nên đáng báo động trong những năm gần đây (2007-
2010), khi tỷ lệ này vượt trên 10%GDP.
Theo IMF, mức độ thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP nếu vượt quá 5%
thì được xem là nghiêm trọng, vì vậy vấn đề thâm hụt thương mại của Việt Nam
cần phải được xem xét thấu đáo.
Kinh tế quốc tế 52A Page 9
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
Hình 1: Cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 1999-2010. Nguồn: GSO
Nguyên nhân thâm hụt thương mại
- Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu
Hơn một thập niên qua, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng nông lâm sản,
công nghiệp nặng và khoáng sản, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp
(TTCN).
Theo thống kê của GSO, trung bình giai đoạn 1999 - 2010F, hàng nông lâm sản
chiếm khoảng 15%, trong đó chủ yếu là hàng nông sản với các sản phẩm chính như
gạo, hồ tiêu, cao su; hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm khoảng 34% mà
chủ yếu là khoáng sản với mặt hàng chính là than đá và dầu thô; hàng công nghiệp
nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 40% với sản phẩm chủ yếu là hàng dệt
may và giầy da (Hình 2).
Hình 2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo nhóm (trung bình) giai đoạn 1999 -
khá lớn hàng năm và kèm theo đó là nhu cầu nhập khẩu trang thiết bị, dây chuyền
sản xuất phục vụ đầu tư. Ngoài những nguyên nhân làm gia tăng việc nhập khẩu
như đã nêu trên, nguyên nhân nhập khẩu tăng cao còn phải kể đến:
Kinh tế quốc tế 52A Page 11
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
• Tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu ở mức khá cao dẫn tới thực tế là
nếu xuất khẩu muốn tăng lên thì nhất thiết nhập khẩu sẽ tăng.
• Thu nhập ở Việt Nam tăng lên sẽ tạo thêm nhu cầu đối với hàng tiêu dùng và
xa xỉ phẩm.
• Đầu cơ bất động sản và các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng là lý do
dẫn tới nhập khẩu gia tăng trong những năm gần đây.
• Sự biến động trong giá hàng hoá thế giới dẫn tới hoạt động đầu cơ hàng hoá,
nên nhiều hàng hoá được nhập khẩu để tích trữ trước khi giá tăng.
Hình 3: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu khẩu theo nhóm (trung bình) giai đoạn
1999 - 2010F. Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu GSO
Các nhân tố vĩ mô tác động đến cán cân thương mại Việt Nam
(Dưới góc độ thương mại quốc tế, có nhiều nhân tố vĩ mô tác động gây ra thâm
hụt hoặc thặng dư thương mại )
Tỷ giá hối đoái
Ngày nay, quan hệ thương mại là đa phương, một nước có quan hệ buôn bán với
Kinh tế quốc tế 52A Page 12
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
rất nhiều nước trên thế giới, để có cái nhìn toàn diện hơn về vị thế cạnh tranh của
hàng hóa trong nước với các đối tác thương mại khác người ta dùng tỷ giá thực đa
phương (tỷ giá trung bình), tỷ giá thực đa phương là một chỉ số phản ánh mức độ
cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng nội tệ bị định giá
cao hay thấp.
REER (Real Effective Exchange Rate) tỷ giá hối đoái hiệu lực thực tế. Chỉ số này
cho phép đánh giá và dự báo tỷ giá thực theo hướng xem xét sức mua đối ngoại
thực tế của đồng tiền quốc gia và sự tác động đến cạnh tranh xuất khẩu của quốc
Tăng trưởng kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển nhanh với mức tăng trưởng
trung bình hằng năm khoảng 7%. Công nghiệp hóa đặt ra yêu cầu về trang bị cơ sở
vật chất hiện đại nên việc nhập khẩu máy móc thiết bị từ bên ngoài là khó tránh
khỏi, chưa kể một số ngành nguyên liệu sản xuất phải nhập khẩu vì nguồn trong
nước không đủ đáp ứng như sản xuất thép, phân bón.
Bên cạnh đó, chính sách mở cửa hội nhập trong những năm gần đây đã tạo nhiều
cơ hội cho xuất khẩu trong nước nhưng cũng làm gia tăng nhập khẩu, nhất là từ khi
Việt Nam ký kết các hiệp định thương mại song phương, đa phương như với các
nước ASEAN, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),
Hình 5 cho thấy, tương quan thuận giữa tăng trưởng kinh tế và gia tăng nhập khẩu
Kinh tế quốc tế 52A Page 14
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
trong giai đoạn 1999 - 2010 và mức gia tăng nhập khẩu mạnh mẽ sau khi Việt Nam
chính thức là thành viên của WTO (so với năm 2006, vào năm 2007 mức nhập
khẩu đã tăng 38% và 77% trong năm 2008).
Hình 5: GDP thực và nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn Q1 1999 – Q1 2010.
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của IMF và GSO.
Ngoài việc gia tăng nhập khẩu đối với máy móc thiết bị, nguyên vật liệu khi thu
nhập gia tăng, những sản phẩm tiêu dùng xa xỉ cũng có xu hướng gia tăng.
Hình 6 cho thấy mức gia tăng ôtô nhập khẩu (mạnh nhất là ôtô 12 chỗ ngồi trở
xuống trong khoảng 3 năm gần đây) khi thu nhập bình quân đầu người tăng.
Kinh tế quốc tế 52A Page 15
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
Hình 6: Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam và số lượng ô tô nhập khẩu
giai đoạn 2000 - 2009. Nguồn: Số liệu thống kê của WB và GSO.
Dưới góc độ xuất nhập khẩu hàng hóa cho thấy có rất nhiều yếu tố tác động đến
cán cân thương mại của Việt Nam, từ các yếu tố nội tại như mất cân đối giữa xuất
khẩu và nhập khẩu đến tác động của các yếu tố vĩ mô như tỷ giá hối đoái, tăng
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
Hình 8: Kim ngạch, xuất khẩu, nhập khẩu, cán cân thương mại từ tháng 1
đến tháng 7/2012 và tốc độ tăng(*) kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu lũy kế so
với cùng kỳ của năm 2011
Ghi chú: Tốc độ tăng xuất khẩu, nhập khẩu là tốc độ tăng tại thời điểm đó so với
cùng kỳ của năm 2011.
Tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) trong 7 tháng qua là 67,8 tỷ USD, chiếm 53,4% tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Trong đó, xuất khẩu là 34,64 tỷ USD, tăng
42,5% và nhập khẩu là 33,16 tỷ USD, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm trước.
Năm 2012: Theo Bộ Công thương, tổng KNXK 11 tháng của cả nước đạt 104 tỷ
USD, tăng 18,4% so với cùng kỳ, trong đó KNXK của doanh nghiệp (DN) FDI
(không kể dầu thô) chiếm gần 57,85 tỷ USD, tăng 34,5%. Đóng góp đáng kể vào
tăng tổng KNXK là nhóm hàng công nghiệp chế biến với giá trị gần 67 tỷ USD,
chiếm tỷ trọng hơn 64%; nhóm điện thoại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện
tử đóng góp 8,5 tỷ USD. Dự kiến, tổng KNXK cả năm sẽ đạt 114,5 tỷ USD, tăng
Kinh tế quốc tế 52A Page 18
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
18,2% so với năm 2011. Trong khi đó, KNNK 11 tháng đạt 103,9 tỷ USD, tăng
6,8% so với cùng kỳ (DN trong nước NK 49,03 tỷ USD, giảm 7,8% so với cùng
kỳ, DN FDI NK 54,96 tỷ USD, tăng 24,3% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng gần
53% tổng KNNK cả nước). Đáng chú ý, KNNK của nhóm hàng cần kiểm soát đã
giảm hơn 35%, nhóm hàng hạn chế đã giảm 5,5% nhưng tổng giá trị NK của hai
nhóm này vẫn là 8,62 tỷ USD. Việt Nam vẫn nhập siêu chủ yếu từ Trung Quốc (15
tỷ USD), Hàn Quốc (9,1 tỷ USD) và ASEAN (3,4 tỷ USD)…
- Nguyên nhân:
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu (XK) tiếp tục cao hơn so với tăng trưởng nhập khẩu
(NK), nhóm hàng công nghiệp chế biến đóng góp đáng kể vào tổng kim ngạch xuất
khẩu 2012 như hàng dệt may, giày dép,điện thoại các loại và linh kiện, gạo….
Ví dụ: Hàng dệt may: Xuất khẩu trong tháng đạt 1,44 tỷ USD, tăng 5,8% so với
12/165
Kinh tế quốc tế 52A Page 20
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
Theo thống kê từ Tổng cục thống kê, tổng giá trị xuất khẩu dịch vụ năm 2008 ước
tính đạt 7,1 tỷ USD, tăng 9,8% so với năm 2007, trong đó dịch vụ du lịch đạt 4 tỷ
USD, tăng 7,2%; dịch vụ vận tải hàng không đạt 1,3 tỷ USD, tăng 23,7%; dịch vụ
vận tải biển đạt 1 tỷ USD, tăng 27,7%.
Tổng giá trị nhập khẩu dịch vụ năm 2008 ước tính đạt 7,9 tỷ USD. Tăng 10,3% so
với năm 2007, trong đó dịch vụ du lịch 1,3 tỷ USD, tăng 6,6%; dịch vụ vận tải
hàng không 800 triệu USD , giảm 2,4%; dịch vụ hàng hải 300 triệu USD, tăng
20%. Nhập siêu dịch vụ năm 2008 là 0,8 tỷ USD.
Năm 2009 chứng kiến sự khó khăn của hầu hết các ngành trong đó du lịch dịch vụ
bị ảnh hưởng khá mạnh.
6 tháng đầu năm
2008
6 tháng đầu năm
2009(thực hiện)
6 tháng đầu năm
2009(so với cùng
kỳ năm 2008)
Xuất khẩu 3682 2737 74.3
Dịch vụ hàng
không
562 359 62.4
Dịch vụ vận tải
biển
575 359 62.4
Dịch vụ bưu chính
viễn thông
45 37 82.2
1,24 tỷ USD.
-Nguyên nhân:
Xuất khẩu dịch vụ tuy có tăng nhưng quy mô xuất khẩu còn rất nhỏ, tỷ trọng kim
ngạch xuất khẩu dịch vụ trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ vừa
nhỏ lại có xu hướng giảm đi. Trong khi đó chi phí nhập khẩu dịch vụ tăng rất
nhanh qua các năm khiến cho nước ta luôn ở trong tình trạng nhập siêu. Chi dịch
vụ tăng phần lớn là do kim ngạch xuất khẩu tăng đã làm tăng các chi phí về vận tải,
bảo hiểm bởi hầu hết các giao dịch nhập khẩu của Việt Nam đều thực hiện theo
điều kiện CIF.
2.1.3. Cán cân thu nhập
Bảng 1. Cán cân thu nhập của Việt Nam 2007-2011
(Đơn vị: Tỷ USD)
Năm 2007 2008 2009 2010 2011
Các khoản thu 1,09 1,36 0,8 0,5 0,4
Các khoản chi 3,26 5,76 3,8 5,0 5,4
Thu nhập ròng -2,17 - 4,4 -3,0 -4,6 -5,1
(Nguồn: IMF Country Report Vietnam No 03/382, 06/423, 07/386, 09/110, 10/281,
12/165)
Kinh tế quốc tế 52A Page 22
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
Theo nguyên tắc chung của IMF, cán cân thu nhập của Việt Nam bao gồm
các khoản thu nhập của người lao động (các khoản tiền lương, tiền thưởng) và thu
nhập của nhà đầu tư (lãi từ hoạt động đầu tư trực tiếp, gián tiếp) thuộc các đối
tượng người Việt Nam cư trú ở nước ngoài và người không cư trú ở Việt Nam.
Nhưng do thiếu sót thống kê, các số liệu về thu nhập lao động không có sẵn. Do
đó, trong cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam cũng như các nước khác thường
chỉ tổng hợp và cung cấp số liệu về thu nhập ròng nói chung và thu nhập ròng đầu
tư. (Bảng 1)
Nhìn vào Bảng 1, ta có thể thấy được cán cân thu nhạp ròng của Việt Nam
giai đoạn 2007-2011 luôn thâm hụt. Riêng năm 2012, chỉ tính riêng đến quý III,
hạn phải trả và các khoản lợi nhuận phải chia cho các nhà đầu tư nước ngoài tăng
mạnh, dẫn đến sự thâm hụt trong cán cân thu nhập.
Ðối với các khoản thu nhập của người lao động ở nước ngoài, mặc dù số
lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam sang các nước khác tăng nhanh qua các
năm nhưng hầu hết lao động đều chỉ ở trình độ phổ thông nên thu nhập từ tiền
lương của họ rất thấp. Trong khi đó, các lao động là người không cư trú ở Việt
Nam chủ yếu là đội ngũ lao động có chất lượng cao từ các nước phát triển nên
khoản thu nhập mà phía Việt Nam phải chi trả cho họ là không nhỏ. Ðây cũng là
một nguyên nhân gây nên tình trạng thâm hụt cán cân thu nhập của Việt Nam.
2.1.4. Cán cân chuyển giao vãng lai ròng
Hạng mục chuyển giao vãng lai một chiều bao gồm các khoản chuyển giao
bằng tiền, hiện vật mang ý nghĩa là quà tặng, viện trợ, bồi thường của tư nhân và
chính phủ. Bảng dưới đây cung cấp số liệu về tình hình cán cân chuyển giao vãng
lai một chiều của Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2011.
Năm 2007 2008 2009 2010 2011
Chuyển giao tư
nhân (ròng)
6,18 6,80 6,02 7,6 7,6
Chuyển giao chính
thức (ròng)
0,25 0,51 0,4 0,3 0,3
Chuyển giao vãng
lai ròng
6,43 7,31 6,42 7,9 7,9
Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều của Việt Nam 2007-2011
(Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: IMF Country Report Vietnam No 03/382, 06/423, 07/386, 09/110,
10/281, 12/165)
Kinh tế quốc tế 52A Page 24
Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2007-2012
Kinh tế quốc tế 52A Page 25