Tập đoàn kinh tế và mô hình công ty mẹ công ty con - Pdf 10

1.1. TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm:
“Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh đa dạng, có
quy mô lớn, nó vừa có chức năng sản xuất kinh doanh, vừa có chức năng liên kết
kinh tế nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cao nhất các nguồn lực ban
đầu (vốn, sức lao động, công nghệ…) để tăng khả năng cạnh tranh trên thò trường
và tối đa hóa lợi nhuận. Trong đó có các Tập đoàn kinh tế là tổ hợp các doanh
nghiệp thành viên (công ty con) do một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối
về nguồn lực ban đầu, chiến lược phát triển và hoạt động tại nhiều ngành, lónh
vực ở nhiều lãnh thổ khác nhau”
(1)

Bên cạnh đó, có khái niệm khác đơn giản hơn cho rằng “Tập đoàn kinh tế
bao gồm nhiều công ty liên kết với nhau trên cơ sở cùng góp vốn sản xuất, kinh
doanh dưới sự chi phối của một cổ đông duy nhất, được tổ chức dưới hình thức
công ty (Công ty mẹ hoặc Tổng công ty) có nhiệm vụ quản lý và đònh hướng chiến
lược phát triển của các công ty thuộc tập đoàn.”
(2)

Nhìn chung Tập đoàn kinh tế được đònh nghóa theo cách này hoặc cách
khác nhưng có những đặc trưng cơ bản sau:
- Tập đoàn có cơ cấu tổ chức nhiều tầng nấc;
- Giữa các thành viên trong tập đoàn có mối liên kết nhất đònh;
- Trong tập đoàn có một hạt nhân đóng vai trò nòng cốt;
- Tập đoàn là một liên hiệp các pháp nhân chứ không phải là một pháp
nhân. Tổ chức thành lập tập đoàn phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện,
cùng có lợi, tích cực giúp đỡ nhau, tối ưu hóa tổ hợp, kết cấu hợp lý,
dựa vào khoa học kỹ thuật, làm tăng sức mạnh cho lớp sau. Vì vậy,
(1) GS.TSKH Vũ Huy Từ (2002): Mô hình Tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa. NXB
Chính trò Quốc gia, Hà Nội. Trang 19.
(2) Minh Châu (2005), “Tập Đoàn Kinh Tế và Một Số Vấn Đề Xây Dựng Tập Đoàn Kinh Tế Ở Việt

Phương thức hợp nhất (Unification): khi các công ty có sức mạnh ngang
nhau sẽ từ bỏ pháp nhân của mình để hình thành một pháp nhân mới để thực
hiện những hoạt động của công ty hợp nhất nhằm các mục tiêu như tập trung
vốn hoạt động, giảm số lượng công ty để tập trung hỗ trợ cần thiết, tăng lợi
nhuận do giảm chi phí quản lý, tăng hiệu năng trong sản xuất kinh doanh nhờ lợi
thế về qui mô, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thương trường...

Sơ đồ 1.2: Mô hình hợp nhất
Phương thức mua lại (Acquisition): việc mua lại sẽ không tạo ra một
công ty mới và diễn ra dưới hai phương thức:
 Phương thức mua lại cổ phần: công ty mua lại cổ phần của công ty
bán trực tiếp từ các cổ đông của công ty bán. Việc mua bán này
không phụ thuộc vào sự đồng ý hay không đồng ý của lãnh đạo
công ty bán và thường khó dẫn đến sự sát nhập hay hợp nhất hoàn
toàn vì công ty bán vẫn hoạt động với tư cách pháp nhân của mình.
Quyền lợi của công ty mua lúc này là quyền lợi của nhà đầu tư.
 Phương thức mua lại tài sản: công ty mua lại tài sản trực tiếp từ
công ty bán. Với hình thức mua lại tài sản, công ty mua không cần
thiết phải đánh giá lại nợ của công ty bán, vì nó không phụ thuộc
trách nhiệm của công ty mua.
Hình thức phổ biến của các nước trên thế giới là mua lại cổ phần. Nếu
công ty mua mua lại trên 50% số cổ phần của công ty bán thì quan hệ giữa hai
công ty là quan hệ công ty mẹ- công ty con. Công ty mẹ là công ty thu nhận,
3
Công ty X
Công ty Y
Công ty Z
công ty con là công ty bò thu nhận. Với hình thức mua lại, các công ty con không
bò mất tư cách pháp nhân, sau khi mua lại, công ty mẹ và công ty con cùng tồn
tại và cùng hoạt động với hai tư cánh pháp nhân khác nhau, nhưng có quan hệ

TĐKT liên kết theo hàng dọc là TĐKT liên kết giữa các ngành trong
cùng một dây chuyền công nghệ. Cùng với sự phát triển của thò trường và nhu
cầu ngày càng gia tăng của người tiêu dùng, các doanh nghiệp sản xuất trong
cùng ngành kinh tế – kỹ thuật có xu hướng ngày càng gia tăng quy mô sản xuất.
Vì vậy tất yếu xảy ra sự liên kết, tập hợp của các doanh nghiệp sản xuất cùng
ngành. Lúc này hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất liên kết với nhau lại
tiếp tục gặp khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu về các đầu vào của quy
trình sản xuất và việc tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Vì vậy, các doanh nghiệp
thương mại được liên kết chuyên đảm nhận các chức năng cung ứng sản phẩm
đầu vào và đảm nhận chức năng tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Sự liên kết các doanh
nghiệp theo quy trình trên, hình thành TĐKT liên kết theo hàng dọc. Trên thế
giới có rất nhiều tập đoàn lớn thuộc dạng này như Concern, Conglomenrate,
Cheabol…
(1)
Chúng vẫn còn phổ biến trong giai đoạn hiện nay và bành trướng
hoạt động SXKD sang hầu hết các nước trên thế giới.
1.1.3.3. Tập đoàn kinh tế liên kết hỗn hợp
TĐKT liên kết hỗn hợp là TĐKT đa ngành liên kết các doanh nghiệp
không cùng lónh vực hoạt động SXKD, không cạnh tranh lẫn nhau và không
cùng dây chuyền công nghệ. Hình thức TĐKT này đang được ưa chuộng và trở
thành xu hướng chính hiện nay, có cơ cấu gồm có ngân hàng hoặc công ty tài
chính, công ty thương mại và công ty sản xuất công nghiệp. Hoạt động tài chính
ngân hàng là một bộ phận rất quan trọng, nó là hoạt động không thể tách rời
trong cơ cấu kinh doanh của các TĐKT lớn.
(1)
Phụ lục 1
5
1.1.4. Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
Qua nghiên cứu về các TĐKT trên thế giới
(1)

và phân công quốc tế.
1.1.4.2. Hoạt động kinh doanh đa ngành nghề, đa lónh vực
Các tập đoàn hầu hết đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lónh vực.
Ban đầu các tập đoàn có thể hoạt động trong một hoặc một số ngành nghề, trong
quá trình phát triển thì chiến lược phát triển và hướng đầu tư luôn thay đổi để
phù hợp với sự phát triển của tập đoàn và môi trường kinh doanh quốc tế, nhưng
mỗi ngành nghề đều có đònh hướng chủ đạo, lónh vực đầu tư mũi nhọn với những
sản phẩm đặc trưng của tập đoàn.
Bên cạnh các đơn vò sản xuất, thường có các tổ chức tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm, thương mại, dòch vụ, nghiên cứu khoa học và đào tạo,... Ví dụ
tập đoàn Mitsubishi- là một trong những TĐKT lớn của Nhật Bản, các hoạt động
kinh doanh của nó trải rộng trên nhiều lónh vực như sắt thép, cơ khí đóng tàu,
hoá chất và các dòch vụ ngân hàng, bảo hiểm, ngoại thương, vận tải,... Trong đó
ngành mũi nhọn là công nghiệp nặng và phát triển tài nguyên. Tập đoàn
Petronas (Malaysia) hoạt động đa dạng trong nhiều lónh vực như: thăm dò và
khai thác dầu khí, lọc dầu, hoá dầu, kinh doanh thương mại các sản phẩm dầu
khí hàng hải, kinh doanh bất động sản, siêu thò, vui chơi giải trí,… có cả học viện
công nghệ, Học viện hàng hải và Trung tâm đào tạo kỹ thuật công nghệ… Xu
hướng chung là các tổ chức tài chính, ngân hàng và nghiên cứu ứng dụng ngày
càng được chú ý hơn, vì đó là đòn bẩy cho sự phát triển TĐKT.
Hoạt động đa ngành đã góp phần phân tán rủi ro của các tập đoàn, bảo
đảm cho hoạt động của các tập đoàn được an toàn và hiệu quả hơn trên thương
trường kinh doanh quốc tế.
7
1.1.4.3. Về cơ cấu tổ chức
Đa số các tập đoàn được tổ chức theo mô hình công ty mẹ – công ty con.
Công ty mẹ sở hữu số lượng lớn vốn cổ phần trong các công ty con. Nó chi phối
các công ty con về phương diện tài chính, công nghệ và trên cơ sở đó chi phối về
chiến lược phát triển. Công ty mẹ thường là công ty cổ phần được thành lập và
hoạt động theo luật công ty của nước sở tại, có thể có vốn góp của chính phủ.

Các tập đoàn kinh tế là lực lượng chủ đạo trong việc thực hiện quốc tế
hóa sản xuất với sự phân công chuyên môn hóa và hợp tác. Điều này biểu hiện
rõ nét trong ngành công nghiệp điện tử, bán dẫn, ô tô, xe máy mà các Công ty
đa quốc gia (MNC) của Nhật, Mỹ, Tây u thực hiện như quy trình công nghệ
của hãng ô tô Ford được phân chia thành Nhà sản xuất khung xe, chi nhánh ở
Pháp sản xuất hộp số... còn chi nhánh ở Đức sản xuất động cơ và lắp ráp. Chính
quá trình sản xuất được hợp lý hóa trên phạm vi quốc tế, nên các tập đoàn kinh
tế đã khai thác được tiềm năng của nhiều nước, hạ giá thành sản phẩm, làm tăng
sức cạnh tranh trên thò trường quốc tế và do đó làm tăng lợi nhuận của TĐKT.
Các tập đoàn còn là những cầu nối giữa các nền kinh tế khác nhau, ở
đâu có các TĐKT hoạt động, ở đó nền kinh tế cấp tự túc bò phá vỡ và từng bước
chuyển thành nền kinh tế hàng hóa để rồi sản phẩm gia nhập thò trường quốc tế.
Các tập đoàn kinh tế là lực lượng chủ yếu và đi đầu trong thực hiện
cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, bởi vì ngoài đầu tư của nhà nước, các
TĐKT là đầu tư lớn nhất cho những công trình nghiên cứu và phát triển. Những
công trình nghiên cứu khoa học –kỹ thuật, tiết kiệm năng lượng, vật liệu mới,
9
nghiên cứu các phương pháp điều kiển từ xa trong lónh vực tự động hóa... đều có
sự tham gia của các tập đoàn kinh tế trên thế giới.
Ngoài ra, trong nền kinh tế của một nước, tập đoàn kinh tế cũng thể
hiện vai trò rất to lớn:
Cho phép các nhà quản lý kinh doanh huy động các nguồn lực trong nền
kinh tế để phục vụ việc phát triển kinh tế. Việc tập trung các công ty vào trong
một đầu mối làm cho họ có điều kiện thuận lợi trong việc cạnh tranh với các tập
đoàn nước ngoài.
Khắc phục khả năng hạn chế về vốn của từng công ty riêng lẻ. Các tập
đoàn hình thành các công ty tài chính và ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho
việc tài trợ vốn cho các công ty con. Khi có những dự án cần nguồn vốn đầu tư
lớn thì việc huy động vốn của các công ty này được thực hiện dễ dàng hơn, từ đó
sẽ góp phần tăng nguồn thu và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Ở Việt Nam theo Điều 18 Nghò đònh số 153/2004/NĐ-CP ngày 9/8/2004
của Chính phủ: “TCT theo MH TCM-CTC là hình thức liên kết và chi phối lẫn
nhau bằng đầu tư, góp vốn, bí quyết công nghệ, thương hiệu, thò trường giữa các
DN có tư cách pháp nhân, trong đó có một CTNN giữ quyền chi phối các DNTV
khác gọi là CTM và các DNTV khác bò CTM chi phối gọi là CTC hoặc có một
phần VGKCP của CTM gọi là CTLK.”
Theo Điều 3 Luật DNNN thì “CTNN giữ quyền chi phối DN khác là
công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp trên 50% vốn điều
lệ của DN khác, giữ quyền chi phối đối với DN đó” và “Quyền chi phối đối với
DN là
(1)
Phụ lục 3
11
quyền đònh đoạt đối với ĐL hoạt động, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các
chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức quản lý và quyết đònh quản lý quan
trọng khác của DN đó”.
1.2.2. Đặc trưng của mô hình công ty mẹ – công ty con.
Tuy cách diễn giải khác nhau nhưng có thể rút ra một số đặc trưng của
quan hệ công ty mẹ – công ty con như sau:
- Công ty mẹ và công ty con đều là doanh nghiệp độc lập, có tư cách
pháp nhân đầy đủ, có vốn và tài sản riêng, bình đẳng với nhau về đòa vò
pháp lý.
- Mối quan hệ giữa công ty mẹ – công ty con không mang tính cấp trên
cấp dưới, mà là mối quan hệ về sở hữu vốn với doanh nghiệp có vốn
đầu tư của mình và được xác đònh theo các quy đònh của pháp luật và
điều lệ của công ty. Ngoài mối quan hệ về sở hữu thì các mối quan hệ
khác về kinh tế như mua – bán, thuê-cho thuê đều là mối quan hệ giữa
hai pháp nhân kinh tế.
- Công ty mẹ thực hiện quyền kiểm soát, chi phối công ty con tương ứng
với tỷ lệ vốn góp, vốn cổ phần đầu tư ở công ty con và bằng hình thức

của công ty con. Hơn nữa CTM có vốn góp chi phối ở CTC, có thể thông qua
CTC đó để đầu tư vốn vào công ty cháu và CTM có thể nắm quyền chi phối ở
các công ty cháu đó. Với kiểu quan hệ nhiều tầng bậc như thế CTM có thể
khống chế và điều tiết được một lượng vốn lớn hơn rất nhiều lần so với vốn điều
lệ của CTM.
13
-Thông qua công ty tài chính trong tập đoàn, tập đoàn có thể tập trung, điều
hòa vốn, khắc phục được tình trạng hạn chế vốn ở từng đơn vò riêng lẻ. Các công
ty trong tập đoàn có thể huy động vốn trong nội bộ tập đoàn dể dàng, nhanh
chóng và giảm chi phí sử dụng vốn hơn so với huy động vốn trên thò trường.
-Mô hình này làm tăng sức mạnh và khả năng cạnh tranh của các công ty
trong tập đoàn. Mối quan hệ trong các công ty thành viên hạn chế tối đa sự cạnh
tranh giữa các công ty thành viên trong tập đoàn, tạo điều kiện thống nhất
phương hướng, chiến lược SXKD của cả tập đoàn.
-Mô hình TCM-CTC góp phần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng
dụng kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh của cả tập đoàn. Vì việc
nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, đòi hỏi khả năng tài chính lớn với đội
ngũ cán bộ nghiên cứu chuyên môn cao mà mỗi công ty thành viên không có khả
năng thực hiện được.
1.2.3.2. Nhược điểm:
Tuy mô hình công ty mẹ công ty con có những ưu điểm trên nhưng cũng
phát sinh một số nhược điểm:
Khi công ty mẹ tái bố trí lại cơ cấu đầu tư thì công ty con có thể bò gạt
bỏ ra khỏi tập đoàn thông qua việc bán phần vốn góp của công ty mẹ.
Có thể nảy sinh một số mâu thuẫn giữa các công ty con và cả tập đoàn.
Một số hoạt động của một công ty con sẽ có lợi cho công ty đó, nhưng lại bất lợi
cho cả tập đoàn. Một công ty con có thể muốn đầu tư phát triển sản phẩm mới,
vì có thể các hoạt động này được thực hiện ở công ty khác có lợi hơn.
Mô hình này thường dẫn đến độc quyền, hạn chế cạnh tranh, nên có thể
gây tổn thất cho nền kinh tế. Vì thế chính phủ các quốc gia phải thực hiện tốt vai

công ty là thành viên.
Thời gian gần đây, với sự phát triển của nền kinh tế thò trường, đặc biệt
là sự phát triển của thò trường chứng khoán, khá nhiều các TĐKT tư nhân hình
thành và phát triển mạnh như: tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, tập đoàn Hoà Phát,
tập đoàn Gạch Đồng Tâm, tập đoàn Mai Linh… Bên cạnh đó, các tập đoàn kinh
tế Nhà nước hàng đầu cũng đã được hình thành từ việc chuyển đổi các TCT Nhà
nước như: tập đoàn Điện Lực, tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông, tập đoàn Dầu
Khí, …
1.3.2. Những thành quả và hạn chế.
1.3.2.1. Những thành quả đạt được
Sau năm năm, kể từ năm 2001, vừa làm vừa rút kinh nghiệm các TĐKT
theo mô hình CTM-CTC, chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực. Theo như
sơ kết của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, tính đến tháng
9/2005, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép 52 DN thí điểm mô hình CTM-CTC,
trong đó, thành phố Hồ Chí Minh là nơi thí điểm nhiều nhất 15DN, trong đó Bộ
Giao Thông vận tải có 06DN; Hà Nội cũng có 5DN. Sau khi nghò đònh số
153/2004/NĐ-CP ngày 09/08/2004 về việc tổ chức quản lý TCT Nhà nước và
chuyển đổi TCT Nhà nước được ban hành, 15DN khác đã và đang tiếp tục triển
khai theo mô hình này.
Theo như sơ kết của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, mặc
dù chưa đủ thời gian để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mô hình CTM-CTC,
nhưng sau một thời gian chuyển đổi kết quả bước đầu về sản suất, kinh doanh
của các CTM đạt khá tốt. Doanh thu tăng bình qn 48%, lợi nhuận tăng 24% so
với trước khi chuyển đổi. Tỷ suất lợi nhuận bình qn trên vốn của các cơng ty mẹ
đạt 10,83%, trong đó tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư tài chính
16
đạt 16,39%, tỷ suất lợi nhuận từ trực tiếp sản xuất, kinh doanh đạt 8,44%. Lợi nhuận
từ đầu tư tài chính chiếm 40,67% tổng lợi nhuận hoạt động của cơng ty mẹ - cơng ty
con, trong khi đó, vốn đem thực hiện đầu tư tài chính chỉ chiếm 26,16% tổng vốn nhà
nước tại các cơng ty mẹ - con

chuyên môn trước đây có ở tất cả các thành viên nay chỉ tồn tại ở CTM. Các
TCT Bia, rượu, nước giải khát đã rất hiệu quả xét trên khía cạnh này.
Mô hình CTM-CTC cũng làm thay đổi căn bản quan hệ, trách nhiệm,
quyền hạn, lợi ích giữa CTM với các CTC, công ty liên kết từ điều hành quản lý
kiểu CTM tham gia quản lý CTC với tư cách là cổ đông, thành viên góp vốn,
nhận cổ tức từ CTC theo tỷ lệ vốn góp, xóa bỏ việc thu phụ phí quản lý từ các
CTC, CTC tự chủ trong hoạt động kinh doanh, mọi quan hệ về thương mại với
CTM đều thông qua hợp đồng kinh tế, từ đó tạo ra sự liên kết chặc chẽ giữa các
thành viên trong tổ hợp với CTM đó là sự gắn kết bằng lợi ích kinh tế.
Về phía mình, các công ty thành viên đã được cổ phần hoá và hoạt động
theo mô hình mới, là pháp nhân độc lập, tự chủ, tự chòu trách nhiệm trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, đã khắc phục được tình trạng trông chờ, ỷ lại vào
CTM về mọi vấn đề sản xuất kinh doanh như trước kia. Các CTC đã thật sự linh
hoạt trong quản lý, điều hành, chuyên môn hóa sản phẩm để tối đa hóa lợi
nhuận, tự do nâng cao năng lực cạnh tranh cho cả tổ hợp.
Chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình CTM-CTC, tạo điều kiện cho các
công ty Nhà nước độc lập làm ăn có hiệu quả có thể mở rộng hoạt động kinh
doanh của mình bằng cách tách các bộ phận độc lập tương đối để hình thành
những thực thể kinh doanh mới và qua đó cho phép các công ty có tiềm lực có
thể vươn lên để thành những tổ hợp tập đoàn lớn có sức cạnh tranh mạnh.
18
Mô hình CTM-CTC tạo động lực và điều kiện để các TCT Nhà nước
đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa công ty thành viên. Trước đó các TCT còn rất e
ngại cổ phần hóa, vì càng cổ phần hóa càng giảm bớt doanh nghiệp thành viên.
Mô hình mới tạo điều kiện cho các TCT, công ty Nhà nước thực hiện việc đa
dạng hóa các khoản vốn đầu tư nhằm phân tán rủi ro, linh hoạt hơn trong điều
chỉnh vốn từ những nơi kém hiệu quả từ công ty con, công ty liên kết thua lỗ
chuyển sang doanh nghiệp có hiệu quả hơn, huy động rộng rãi tiềm năng về vốn
ngoài xã hội cho sự phát triển của cả TCT.
Việc thí điểm cho thấy những mặt được và tác dụng của chuyển đổi sang

hoạt động và báo cáo của người đại diện chủ sở hữu chưa rõ, dẫn đến CTM
không nắm chắc được toàn bộ hoạt động kinh doanh của CTC.
Hiện nay, ở nước ta chưa có CTM chuyên kinh doanh tài chính, đầu tư
vốn vào một CTC, mà chỉ có CTM vừa đầu tư vốn vừa kinh doanh. Bộ máy
chuyên môn nghiệp vụ của CTM ở một số TCT, công ty chưa theo kòp yêu cầu
thực hiện đồng thời 2 chức năng của CTM là vừa trực tiếp sản xuất kinh doanh,
vừa đầu tư tài chính. Do đó CTM lúng túng trong việc tìm ra phương pháp để có
thể vừa hỗ trợ các CTC, công ty liên kết về thò trường, thương hiệu, cán bộ, tín
dụng, vừa đảm bảo sự bình đẳng, không can thiệp vào công việc điều hành của
CTC, đặc biệt là chưa phát huy được hiệu quả của việc đầu tư tài chính vào
doanh nghiệp khác. Đa số CTM chưa tổ chức được bộ phận nghiệp vụ để chuyên
theo dõi việc đầu tư vốn vào các CTC, CTLK.
20
Đặc biệt là chưa tạo ra được cơ chế thay đổi đội ngũ cán bộ điều hành
nhất là cán bộ chủ chốt, khi chuyển sang mô hình tổ chức kinh tế mới. Đây cũng
là tình trạng thường thấy khi cổ phần hóa doanh nghiệp. Những cán bộ cũ tuy có
kinh nghiệm nhưng đã đònh hình quá lâu trong lối suy nghó về điều hành của cơ
chế cũ nên vừa bảo thủ vừa kém năng động, hiện đang là một lực cản cho mô
hình kinh tế mới.
Nhiều CTM chưa đủ vốn điều lệ theo yêu cầu. Một số CTM tuy tiềm
lực tài chính yếu nhưng vẫn cứ duy trì là công ty Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ
nên khả năng chi phối, hỗ trợ các công ty con rất hạn chế, làm cho hiệu quả hoạt
động chung của tổ hợp không cao. Trong một vài trường hợp, khi các CTC có
nhu cầu nâng quy mô vốn để đầu tư phát triển bằng cách phát hành thêm cổ
phiếu thì công ty mẹ không đủ khả năng tiếp tục đầu tư vốn mua cổ phần để chi
phối CTC. Khi đó, CTM có thể sẽ dùng quyền phủ quyết để không tăng vốn.
Đây là một nguy cơ cản trở CTC phát triển đã diễn ra trong thực tế.
Vấn đề cơ cấu tổ chức của CTM
Hiện nay tại Việt Nam mô hình CTM có HĐQT được áp dụng phổ biến
nhất và cũng là mô hình được quy đònh trong Luật DNNN 2003. Tuy nhiên, theo

mỗi quốc gia trong các lónh vực kinh tế, chính trò, văn hoá,… đều có sự chi phối, tác
động ảnh hưởng của nền kinh tế các nước trong khu vực và thế giới. Trong bối cảnh
đó, việc hình thành các TĐKT mạnh trong các ngành kinh tế mũi nhọn, xương sống
của nền kinh tế là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho mỗi quốc gia có thể tồn tại
và tiếp cận được các nguồn vốn, công nghệ từ bên ngoài tận dụng được các cơ hội
hợp tác và phân công quốc tế trong kinh doanh để phát triển và hội nhập thành
công với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Việc thành lập mới các TĐKT hoặc hình thành TĐKT trên cơ sở chuyển đổi
các Tổng Công ty hiện có thành TĐKT mạnh có sức cạnh tranh cao, đạt hiệu quả và
thực sự là chỗ dựa của nền kinh tế, đòi hỏi phải được xây dựng, thực hiện và điều
chỉnh một cách hợp lý về ngành nghề, quy mô trên cơ sở chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của đất nước. Đặc biệt trong giai đoạn thí điểm cần phải được thực hiện
một cách chắc chắn, tránh hiện tượng vội vã, mang tính phong trào và thiếu sự
chuẩn bò. Luận văn sẽ đi vào phân tích thực trạng hoạt động của TCT Xây Dựng Số
1 – Đơn vò trực thuộc Bộ Xây Dựng.
23
2.1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY
XÂY DỰNG SỐ 1 THỜI KỲ 2002-2005
2.1.1. Giới thiệu khái quát Tổng Công Ty Xây Dựng Số 1
Ngày 20/11/1995 theo sự ủy quyền của Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ
Trưởng Bộ Xây Dựng ký quyết đònh số 995/BXD-TCLD thành lập Tổng Công
Ty Xây Dựng Số 1 trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các đơn vò của Tổng Công Ty
Xây Dựng Số 1 và một số đơn vò khác thuộc Bộ Xây Dựng.
Tên Doanh Nghiệp : Tổng Công Ty Xây Dựng Số 1
Tên giao dòch : Construction Corporation No.1
Tên viết tắt : CCN
o
1
Trụ sở chính : 51 Nguyễn Thò Minh Khai, Quận 1, TP.HCM
Hình thức sở hữu : Doanh Nghiệp Nhà Nước

CÁC CÔNG TY
PHỤ THUỘC
CÁC PHÒNG BAN
CHỨC NĂNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
CÁC CÔNG TY THÀNH VIÊN

Trích đoạn CÁC CÔNG TY THÀNH VIÊN ĐANG THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔ Công ty Liên Doanh (Vốn Nhà nước – CTM– chiếm 50%VĐL) Quan hệ giữa Tổng Công Ty Xây Dựng Số 1 và các Công ty phụ thuộc: Về quan hệ nội bộ giữa các công ty trong toàn TCT Về huy động vốn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status