những vẫn đề kinh tế mang tính toàn cầu và ảnh hưởng tới việt nam (2) - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
NĂM 2013

TÊN ĐỀ TÀI:
NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ TOÀN CẦU
VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆT NAM
Nhóm 3:
1. Vũ Hoàng Lan (Nhóm
trưởng)
7. Nguyễn Quốc Bình
2. Trần Đức Chung 8. Tô Văn Hoan
3. Nguyễn Thị Như Quỳnh 9. Nguyễn Tiến Phương
4. Phan Bảo Ngọc 10. Nguyễn Phương Duy
5. Trương Thị Phương 11. Nguyễn Hữu Toàn
6. Nguyễn Thanh Thủy 12. Vũ Sơn Thái
13. Nguyễn Quang Tuấn
HÀ NỘI - 2013
MỤC LỤC
1. CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ CÓ TÍNH TOÀN CẦU 4
1.1 – Khái quát về những vấn đề có tính toàn cầu 4
1.1.1 – Khái niệm 4
1.1.2 – Những vấn đề có tính toàn cầu nổi bật trong các lĩnh vực 4
1.2 – Những vấn đề kinh tế có tính toàn cầu đáng chú ý hiện nay 5
1.2.1 – Suy thoái và khủng hoảng kinh tế 5
1.2.1.1 – Khái niệm và đặc điểm 5
1.2.1.2 – Thực trạng suy thoái và khủng hoảng kinh tế trên thế giới 6
1.2.1.2.1 – Thực trạng cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008 6
1.2.1.2.2 – Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đến nền kinh tế toàn cầu 8
1.2.2 – Lạm phát 10
1.2.2.1 – Khái niệm và đặc điểm 10


1. CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ CÓ TÍNH TOÀN CẦU
1.1 – Khái quát về những vấn đề có tính toàn cầu
1.1.1 – Khái niệm
Vấn đề có tính toàn cầu là hệ quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới nói
chung và của xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa và quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới nói
riêng. Khi khoa học công nghệ phát triển, phân công lao động quốc tế, quan hệ kinh tế quốc
tế mở rộng sẽ dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và xã hội giữa các quốc gia
Vấn đề có tính toàn cầu là những vấn đề có liên quan đến lợi ích và sự sống còn của tất cả
các quốc gia trên thế giới. Nó hình thành và phát triển một cách khách quan trên cơ sở sự
phát huy tác dụng của các quy luật tự nhiên và cả các quy luật kinh tế - xã hội. Nó không
phụ thuộc vào ý muốn cá nhân của từng người, nhưng chính hoạt động của con người nói
chung lại là một tác nhân quan trọng đưa tới sự hình thành và phát triển của các vấn đề có
tính chất toàn cầu.
1.1.2 – Những vấn đề có tính toàn cầu nổi bật trong các lĩnh vực
Có thể kể ra ngày càng nhiều các vấn đề kinh tế toàn cầu như: thương mại, đầu tư, tiền tệ,
dân số, lương thực, năng lượng, môi trường v.v. Môi trường toàn cầu ngày càng bị phá hoại;
các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị cạn kiệt; dân số thế giới đang gia tăng nhanh
chóng trở thành một thách thức toàn cầu; các dòng vốn toàn cầu vận động tự do không có
sự phối hợp điều tiết tốt đã gây ra các cuộc khủng hoảng liên tiếp ở Châu Âu, châu Mỹ, và
châu Á trong thập niên 90 của thế kỷ XX
Những vấn đề toàn cầu đáng chú ý hiện nay như: Biến đổi khí hậu toàn cầu, khủng hoảng tài
chính, khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực, suy thoái tài nguyên
Vấn đề có tính toàn cầu hết sức đa dạng và tồn tại trong các lĩnh vực khác nhau. Theo quan
điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, có 4 vấn đề toàn cầu nổi bật:
- Giữ vững hòa bình và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh.
- Bảo vệ môi trường sống
- Hạn chế sự bùng nổ dân số
- Phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo.
Tuy nhiên, bên cạnh 4 vấn đề nêu trên, còn xuất hiện rất nhiều những vấn đề mang tính toàn

sự phát triển kinh tế của từng quốc gia, cũng như của toàn thế giới, thúc đẩy các quốc gia
tham gia mạnh mẽ, tích cực và hiệu quả hơn vào các định chế kinh tế quốc tế và các liên kết
kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, chính toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt các quốc
gia cùng đối mặt với các vấn đề toàn cầu, đặc biệt là vấn đề kinh tế toàn cầu.
Các vấn đề kinh tế toàn cầu ở đây được hiểu là những khó khăn, rủi ro, thách thức trên lĩnh
vực kinh tế có liên quan đến lợi ích và sự sống còn của tất cả các quốc gia trên thế giới do
mặt trái của xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế mang lại. Đó là vấn đề nợ nước ngoài,
khủng hoảng tài chính – tiền tệ, suy thoái kinh tế, vấn đề lạm phát, thất nghiệp, vấn đề chiến
tranh thương mại, chiến tranh tiền tệ
1.2.1 – Suy thoái và khủng hoảng kinh tế
1.2.1.1 – Khái niệm và đặc điểm
Khái niệm:
Suy thoái kinh tế và khủng hoảng kinh tế là hai khái niệm khác nhau
Suy thoái kinh tế: là sự suy giảm tổng sản phẩm quốc nội thực (thu nhập) trong thời gian hai
hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm(tốc độ tăng trưởng kt âm liên tục trong 2 quý liên tiếp)
Khủng hoảng kinh tế: là sự suy thoái kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn suy thoái kinh tế.
Đặc điểm:
Suy thoái kinh tế:
- Các chỉ số GDP, CPI giảm
- Thất nghiệp gia tăng,đầu tư trong nước và nước ngoài giảm
- Lạm phát hoặc giảm phát gia tăng:khi chính phủ thực hiện các gói kích thích thích kinh
tế như bơm tiền có thể gây ra tình trạng lạm phát,hoặc khi chính phủ thực hiện chính
sách thặt lưng buộc bụng cắt giảm chi tiêu,người dân cũng giảm chi tiêu có thể gây ra
tình trạng giảm phát.
- Cán cân thương mại của các nước bị ảnh hưởng do tình hình sản xuất khó khăn,thu
nhập giảm và lạm phát,ảnh hưởng đến tình trạng xuất nhập khẩu giữa nước này với
nước khác…
- Đầu tư nước ngoài giảm …
Khủng hoảng kinh tế
- Các công ty,doanh nghiệp,các tổ chức tài chính bị giảm lợi nhuận,sản xuất kinh doanh

Tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ lạm phát của Mỹ giảm dần vào các tháng cuối năm 2008 khi mà cầu tiêu dùng sụt giảm.
Tháng 11, chỉ số giá tiêu dùng Mỹ chỉ còn tăng 1,07% so với cùng kỳ năm 2007, mức giảm
tương đối lớn nếu so với thời kỳ tháng 7,8 khi mà tỷ lệ lạm phát lên tới trên 5%. Trong tháng
12 chỉ số giá tiêu dùng Mỹ chỉ tăng nhẹ 0,3% so với cùng kỳ và rất có thể các tháng đầu năm
2009, chúng ta sẽ chứng kiến chỉ số giá tiêu dùng tại Mỹ suy giảm so với cùng kỳ năm 2008.
Tỷ lệ thất nghiệp
Tính đến hết tháng 12/2008, tổng số việc làm bị cắt giảm trong năm 2008 ở Mỹ đã lên tới 2,6
triệu, đẩy tỷ lệ thất nghiệp lên mức 7,2%. Đây là mức cao nhất trong khoảng 10 năm trở lại
đây. Số người thất nghiệp của Mỹ tăng dần đều trong suốt 12 tháng năm 2008 và dự báo tiếp
tục tăng trong năm 2009 do các tập đoàn tài chính, công nghiệp hàng đầu nước Mỹ vẫn tiếp tục
kế hoạch cắt giảm nhân công.
Đầu tư và tiêu dùng tư nhân
Tiêu dùng cá nhân, một yếu tố đóng góp lớn vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ, trong quý
3/2008 đã sụt giảm tới 3,8% so với quý trước đó. Trong đó, hàng hóa lâu bền như nhà cửa, ôtô,
máy móc đã sụt giảm rất mạnh trong quý 3/2008 lên tới 14,8% sau khi đã giảm liên tiếp từ quý
1 và quý 2/2008 với mức giảm tương ứng là 4,3% và 2,8% so với quý liền trước đó. Dịch vụ là
khoản chi tiêu ít bị ảnh hưởng hơn cả, chỉ giảm 0,1% vào quý 3, trong khi hàng hóa khác giảm
tới 7,1% trong quý 3/2008. Trong quý 4/2008, chúng tôi dự đoán tiêu dùng cá nhân tiếp tục
suy giảm do doanh số tại các cửa hàng bán lẻ Mỹ đã giảm 6 tháng liên tiếp. Riêng trong tháng
12/2008, doanh số bán lẻ ở Mỹ giảm gấp đôi so với dự báo của các chuyên gia và ở mức giảm
2,7% bởi tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, người Mỹ thắt chặt chi tiêu với mọi mặt hàng.
Đầu tư tư nhân nội địa của Mỹ đã tăng nhẹ trở lại vào quý 3 sau khi sụt giảm 3 quý liên tiếp
tính từ quý 4/2007. Tuy nhiên đầu tư xây dựng nhà ở của khu vực tư nhân vẫn sụt giảm mạnh
trong quý 3 ở mức -16% sau khi đã giảm 25,1% và 13,3% trong 2 quý trước đó. Đầu tư tài sản
cố định giảm tới 5,3% trong quý 3 và dự báo trong quý 4/2008 và 2 quý đầu năm 2009, đầu tư
nội địa Mỹ tiếp tục suy giảm ở mức độ sâu hơn.
Xuất nhập khẩu
Trong các năm qua, xuất khẩu và tiêu dùng đóng góp rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế
Mỹ. Xuất khẩu của Mỹ vẫn đạt được sự tăng trưởng trong suốt 3 quý đầu năm 2008 mặc dù

Một là, hệ thống tài chính bị đổ vỡ hàng loạt với số lượng các ngân hàng bị đổ vỡ , sáp nhập,
giải thể, hoặc quốc hữu hóa tăng nhanh chóng. Từ 15/9/2008 đến 6/1/2009 ở Mỹ đã có 14 ngân
hàng , tính chung các nước như Mỹ, Châu Âu và Nhật là 23 ngân hàng.
Hai là, thị trường chứng khoán suy giảm mạnh mẽ, chỉ tính riêng từ khi bắt đầu khủng hoảng
các thị trường chứng khoán toàn cầu suy giảm mạnh. Trong 2008, cũng do tác động cuộc
khủng hoảng nên thị trường chứng khoán toàn cầu đã mất khoảng 17000 tỷ USD. Thị trường
chứng khoán các nước mới nổi giảm 54,72%, thị trường các nước phát triển giảm 42,72%.
Mức sụt giảm cao nhất rơi vào các nước Brazil, Ấn Độ, Nga, và Trung Quốc khoảng hơn 70%
Ba là , giá cả bất động sản suy giảm mạnh mẽ. Tính riêng tại Mỹ, trong tháng 11 giá bất động
sản giảm từ 21-50%, số lượng nhà giao bán tăng do có nhiều người không có khả năng thanh
toán khiến các ngân hàng bán ra mạnh hơn
Bốn là, cuộc khủng hoảng khiến cho giá cả của hầu hết các mặt hàng trên thế giới đều sụt giảm
mạnh. Giá dầu giảm mạnh do nhu cầu suy yếu trước bối cảnh kinh tế toàn cầu rơi vào suy
thoái, đồng USD hồi phục so với các đồng tiền chủ chốt khác, hoạt động đầu cơ cũng phần nào
giảm trước bối cảnh không sang sủa của nền kinh tế thế giới. Mức thấp nhất của giá dầu trong
thời kì này là 30,28USD/thùng vào ngày 23/12/2008, tình hình suy giảm nghiêm trọng kéo
theo đó là hàng loạt các mặt hàng khác cũng sụt giảm theo. Chỉ tính riêng giá vàng có diễn biến
tăng trong thời kì trên là do tâm lí của nhà đầu tư lựa chọn chuyển đổi sang kênh đầu tư an toàn
hơn
Năm là, lãi suất biến động mạnh do các điều kiện trên thị trường tài chính thế giới bước vào
giai đoạn khủng hoảng sâu sắc nhất trong nhiều thập kỉ qua buộc 1 loạt NHTW các nước thực
hiện nới lỏng bằng cách liên tục cắt giảm lãi suất để đối phó với suy thoái kinh tế và bơm thanh
khoản vào hệ thống ngân hàng . Lãi suất SIBOR kì hạn qua đêm ngày 17/9 tăng lên kỉ lục
6,75% năm , ngày 5/1/2009 giảm xuống mức thấp kỉ lục 0,105% năm, lãi suất Libor kì hạn qua
đêm tăng kỉ lục 6,87%/năm ngày 30/9/2008 giảm xuống mức thấp kỉ lục là o,11%/năm vào
ngày 19/12/2008
Sáu là, những diễn biến ngoài dự đoán của thị trường tài chính làm bùng nổ khủng hoảng tài
chinh toàn cầu đã khiến nhu cầu thanh khoản USD của các ngân hàng trên toàn thế giới tăng
đột biến ,đẩy đồng USD tăng giá mạnh so với các đồng tiền khác. Diễn biến đồng USD từ lúc
bắt đầu khủng hoảng đến 12/1 lên giá 6,99% so với EUR , lên giá 18,06% so với GBP nhưng

lượng chi tiêu lớn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất vào nhiều lĩnh vực do vậy việc in
thêm tiền để chi tiêu là không thể tránh khỏi, điều đó khiến lạm phát xuất hiện ở cả quốc gia
phát triển hay đang phát triển. Tuy nhiên có thể khống chế được mức lạm phát ở mức độ phù
hợp tùy thuộc vào mục đích chi tiêu của Chính phủ.
Lạm phát đang cùng xuất hiện ở cả các nước phát triển và đang phát triển và gần như không có
ngoại lệ, đó là một đặc trưng hết sức nổi trội.
- Lạm phát của các nước đang phát triển trầm trọng hơn các nước phát triển
Mức lạm phát cao nhất ở các nước phát triển chưa tới 5% trong khi mức lạm phát thấp nhất của
các nước đang phát triển cũng đã sớm bỏ xa con số 5% này. Lý do cho đặc điểm này phải kể
đến căn nguyên của lạm phát toàn cầu là do giá dầu thô (năng lượng) và giá lương thực tăng,
các nước đang phát triển có tỷ suất tiêu hao năng lượng cao, tỷ lệ chi cho tiêu dùng thực phẩm
trong tổng tiêu dùng cũng cao và do đó mức lạm phát của họ đều vượt các nước phát triển.
Cách giải thích này có lý trong một chừng mực nhất định, nhưng không hoàn toàn. Mức lạm
phát của các nước đang phát triển cao hơn các nước phát triển cần phải tìm nguyên nhân chủ
yếu từ cơ chế vận hành của hệ thống tiền tệ quốc tế mà đặc biệt là luồng di chuyển của nguồn
vốn đầu cơ quốc tế.
- Các nước có đồng tiền lên giá và các nước có đồng tiền xuống giá đều cùng xảy ra lạm
phát. Hơn thế, lạm phát của các nước có đồng tiền tăng giá còn nghiêm trọng hơn ở
các nước có đồng tiền mất giá.
Nhiều quốc gia sử dụng chính sách tỷ giá để khống chế lạm phát. Ví dụ việc điều chỉnh tỷ giá
sao cho đồng nội tệ tăng giá so với ngoại tệ sẽ làm hàng hóa nhập khẩu rẻ đi 1 cách tương đối,
hạn chế xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu, giảm nhu cầu nội tệ, tăng cầu ngoại tệ => lạm
phát khó xảy ra. Tuy nhiên, để đạt được sự khống chế lạm phát như vậy buộc phải điều chỉnh
tỷ giá cho đồng nội tệ tăng giá với biên độ lớn, và phải tăng một cách nhanh chóng. Mà điều
kiện này là không khả thi. Có thể dùng chính sách tỷ giá để hạn chế lạm phát chứ không thể
triệt tiêu lạm phát.
- Lạm phát xuất hiện ở cả những nước thâm hụt ngân sách và thặng dư ngân sách
Kinh tế học thông thường cho rằng: một quốc gia có thặng dư ngân sách và không có biến
động về in tiền thì có thể khống chế được lạm phát. Ngược lại, một quốc gia có ngân sách thâm
hụt sẽ luôn đi kèm với lạm phát. Các nước đang phát triển càng đúng như vậy, ngân hàng trung

Tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc đã lên tới 3,5% trong năm 2010 và 4,9% trong 2 tháng đầu
năm 2011.
Lạm phát ở các nước phát triển
Không chỉ các nước mới nổi và đang phát triển, các nước phát triển cũng đối mặt với lạm
phát gia tăng, nhất là Hàn Quốc, Anh và Mỹ. So với năm 2010, tỷ lệ lạm phát tháng 1/2011
của các nước này đã tăng tương ứng từ 3,0% lên 4,1%, 2,6% lên 4,0% và 0,5% lên 1,6%.
Lạm phát của khu vực đồng Euro có xu hướng tăng kể từ quý III/2009, tỷ lệ lạm phát đã
tăng từ 0,4% trong quý IV/2009 lên tới 2,0% trong quý IV/2010, 2,4% trong tháng 1/2011
và 2,5% trong tháng 2/2011. Lạm phát khu vực đồng Euro tăng chủ yếu do giá lương thực
và năng lượng tăng cao. Chính sách nới lỏng tiền tệ cũng là một nhân tố gây lạm phát ở khu
vực này
So với các nước phát triển khác, Hàn Quốc chịu sức ép gia tăng lạm phát lớn hơn. Sau khủng
hoảng kinh tế thế giới 2008, lạm phát cũng có dấu hiệu tăng trở lại một cách nhanh chóng
kể từ quý III/2009, từ 2% lên 3,6% trong quý IV/2010. Trong tháng 1 và 2/2011, lạm phát
của Hàn Quốc đã lên tới 4,1% và 4,5%, mức cao nhất trong 25 tháng gần đây.
- Khoảng 6 tháng đầu năm 2011, lạm phát trên thế giới, đặc biệt tại nhóm thị trường mới
nổi tăng nóng. Nguyên nhân chính bởi nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tăng cao, tác động từ các
gói kích thích kinh tế.
Tại Ấn Độ, lạm phát tháng 5/2011 chạm mức 9,6%; lạm phát tại Trung Quốc lập đỉnh 6,4%
vào tháng 6/2011; tại Nga, lạm phát lập đỉnh trên 9% Lạm phát tại eurozone cũng vượt
mức mục tiêu 2% của ECB…
Trong những tháng cuối năm 2011, lạm phát tại nhiều nền kinh tế hạ nhiệt khi nhu cầu yếu
đi, khủng hoảng châu Âu căng thẳng hơn khiến đồng USD tăng mạnh, giá hàng hóa giảm
theo.
-Theo báo cáo của WB, lạm phát của các nền kinh tế trên thế giới đã giảm mạnh trong nửa
cuối năm 2011 và nửa đầu năm 2012
Ở các nước phát triển, mức độ giảm lạm phát không nhiều, từ2,7% xuống còn 2,5% cùng kì.
Còn tại các nước đang phát triển, lạm phát giảm mạnh xuống còn 5% trong 3 tháng đầu
năm 2012 từ mức trung bình 7,2 % của năm 2011.
Lạm phát trong khu vực Đông Á và Châu Á- Thái Bình Dương giảm từ 8% từ đầu 2011

Các đồng tiền thế hệ bốn được lưu hành cùng với các đồng thế hệ ba, vẫn được sử dụng cho
tới ngày 30 tháng 6 năm 2009.
1.2.3 – Thất nghiệp
1.2.3.1 – Khái niêm, đặc điểm
Khái niệm:
Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, mong muốn làm
việc nhưng lại không tìm được việc làm.
Phân loại:
Thất nghiệp tự nhiên: là thất nghiệp đáng mong muốn, không thay đổi theo thời gian hoặc
không bị ảnh hưởng bởi chính sách kinh tế. Trong đói có: thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp
cơ cấu, thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển.
Thất nghiệp chu kỳ: là tình trạng thất nghiệp khi nền kinh tế lâm vào suy thoái. Dấu hiệu
của thất nghiệp chu kỳ đó là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi
ngành nghề và gắn với sự lên xuống ngắn hạn của chu kỳ kinh doanh.
Điều này được giải thích như sau:
Khi nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái, tổng cầu giảm xuống làm giảm mức giá vì vậy
mức lương thực tế sẽ tăng lên. Với mức lương thực tế tăng lên, doanh nghiệp sẽ thuê ít lao
động đi thất nghiệp sẽ tăng.
Đặc điểm
Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát
Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động
sản xuất kinh doanh tăng lên; là sự lãng phí lao động xã hội- nhân tố cơ bản để phát triển
kinh tế – xã hội. Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa là nền kinh tế đang suy thoái- suy thoái
do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư ( vì vốn
ngân sách vị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất
nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến bờ vực của lạm phát.
Tăng trưởng, lạm phát và thất nghiệp là 3 mục tiêu của chính sách tiền tệ, đòi hỏi phải có sự
đánh đổi. Để tăng trưởng kinh tế, Chính phủ thực hiện kích cầu, tạo nhiều việc làm cho
người lao động. Tuy nhiên sẽ xảy ra hiện tượng lạm phát do cầu kéo.
Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động.

thất nghiệp cao nhất (10,3%) năm 2008 là ở Bắc Phi; Còn theo số liệu của Liên hợp quốc thì
tỉ lệ thất nghiệp cao nhất trong năm 2008 lại là ở Zimbabwe với 94% số người đang ở trong
độ tuổi lao động không có việc làm, dân số Zimbabwe là 11,35 triệu người và chỉ có hơn 600
nghìn người có việc làm.
* Tại Mỹ trong năm 2008 đã có tới 2,6 triệu người bị mất việc làm. Theo số liệu của Bộ Lao
động, tính cho tới tháng 11/2008 đã có 6,7% số người trong độ tuổi lao động không có việc
làm.
* Tại các nước công nghiệp phát triển tỉ lệ tăng trưởng của các chỗ làm mới ở mức độ âm,
tức là số chỗ làm mới được tạo ra ít hơn số những chỗ làm vừa bị xoá bỏ. Trong khu vực sử
dụng đồng euro, theo số liệu của hãng Eurostat, tỉ lệ thất nghiệp trong tháng 12/2008 đã
lên tới 8%, cao nhất kể từ tháng 11/2006. Số lượng những người thất nghiệp trong Liên
minh châu Âu (EU) tháng 12/2008 là 17,91 triệu người.
* Tại Tây Ban Nha, nước có nền kinh tế đứng thứ năm ở châu Âu, trong quý IV năm 2008, tỉ
lệ thất nghiệp là 13,91%. Số người thất nghiệp trong năm qua ở nước này là 3,2 triệu.
Tháng 1/2009, số người thất nghiệp ở Tây Ban Nha đã tăng thêm 6,35% so với tháng
12/2008, cao nhất trong vòng 12 năm qua có tới hơn 3,3 triệu người Tây Ban Nha thất
nghiệp.
* Ở vùng Trung Đông trong năm 2008,tỷ lệ thất nghiệp là 9,4%. Các nước Đông Âu và Trung
Âu (không nằm trong Liên minh châu Âu) và các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập
(SNG)3 đạt tỷ lệ thất nghiệp cao thứ 3 thế giới. Tại đó tỉ lệ thất nghiệp là 8,8% trong số dân
có khả năng lao động.
*Tỉ lệ thất nghiệp thấp nhất trong năm 2008 là ở khu vực Đông Nam Á: 3,8%. Cũng cần
phải thấy rằng, trong năm 2008 đã có tới 57% chỗ làm mới trên thế giới được tạo ra ở châu
Á.
Một thực trang đáng lo ngại đối với nền kinh tế toàn cầu đó là tỷ lệ thất nghiệp ở giới
trẻ các nước đang ngày càng tăng cao.
Tỷ lệ thất nghiệp của giới trẻ trên toàn cầu và trong các khu vực.
Trong báo cáo của ILO mang tên "Xu hướng toàn cầu về việc làm của thanh niên 2010" đã
thống kê, trong số 620 triệu thanh niên ở độ tuổi 15-24, có tới 81 triệu người không có việc
làm vào thời điểm cuối năm ngoái. Đây là con số cao nhất từ trước tới nay, tăng 7,8 triệu so

trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước).
Việc đi vay của chính phủ có thể được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính phủ
để vay từ các tổ chức, cá nhân. Ngoài việc vay bằng cách phát hành trái phiếu nói trên, chính
phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại , các thể chế tài chính quốc
tế, chẳng hạn Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), WB . Hình thức vay này thường được chính phủ của
các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát
hành trái phiếu chính phủ của họ không cao.
Nợ nước ngoài:
nợ nước ngoài là tổng số tiền mà 1 quốc gia có trách nhiệm và bị ràng buộc phải thanh toán
cho các chủ thể có quyền sở hữu chính thức đối với khoản tiền đó.
Phân loại: Căn cứ vào chủ thể đứng ra vay nợ, được chia thành:
- Nợ nhà nước (nợ chính phủ): là nợ do nhà nước và các tổ chức nhà nước đứng ra vay
hoặc bảo lãnh.
- Nợ tư nhân: là các khoản nợ do các DN tư nhân đứng ra vay ko cần có sự bảo lãnh của
CP. Các DN này thường là các ngân hàng, các DN công thương có nhiều hoạt động trong
quan hệ kinh tế.
*, Khoản tiền vay chủ yếu bằng các ngoại tệ mạnh: USD, EURO, JPY…
Đặc điểm:
- Một là, khủng hoảng nợ công mang bản chất là khủng hoảng kinh tế, làm suy giảm các
hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế.
- Hai là, khủng hoảng nợ công không phân biệt quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát
triển. Điều này có nghĩa là, bên cạnh vấn đề thiếu nợ thường xuyên tái diễn ở các quốc gia
thuộc “Thế giới thứ ba”, khủng hoảng nợ hoàn toàn có khả năng xảy ra ở những nước phát
triển, nơi nền kinh tế tăng trưởng một cách tương đối cao và ổn định.
- Ba là, khủng hoảng nợ công một khi đã diễn ra thường kéo dài trong một thời gian, kéo
theo nhiều hệ lụy không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn trong chính trị - văn hóa - xã hội.
- Bốn là, khủng hoảng nợ công gắn liền với mức độ tín nhiệm của chính phủ quốc gia xảy ra
sự kiện. Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo cáo của các
tổ chức chuyên đánh giá tín nhiệm công ty và quốc gia, niềm tin của người dân và giới đầu
tư bị lung lay; khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc

công, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng đang đứng trước nguy cơ này. Hy Lạp hiện đang
được EU giám sát đặc biệt, với nhiều biện pháp khẩn cấp nhằm giảm thâm hụt ngân sách
đang ở mức kỷ lục là 12,7% GDP. Tây Ban Nha cũng đang có tỷ lệ thâm hụt là 9,3%, cao nhất
từ năm 1974.
"Cơn giận dữ đường phố" ở Hy Lạp, Tây Ban Nha bùng nổ từ hệ lụy chính sách "thắt lưng
buộc bụng" mà các chính phủ Eurozone buộc phải thực thi để đổi lấy các gói giải cứu khổng
lồ từ EU và IMF. Người lao động, người nghèo và giới trẻ Tây Ban Nha, Hy Lạp hay I-ta-li-a
trở thành đối tượng chịu thiệt thòi, sẵn sàng tham gia các cuộc "tuần hành giận dữ". Làn
sóng bạo loạn ở Anh là dấu hiệu cơn thịnh nộ âm ỉ trong xã hội bất bình với các biện pháp
cắt giảm phúc lợi xã hội.
Tại Nhật Bản
Nợ công (nợ quốc gia) Nhật Bản bao gồm trái phiếu chính phủ do nhà nước phát hành, các
khoản vay và chứng khoán ngắn hạn nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách. Từ
thập kỷ 1990, tài chính công của Nhật Bản ngày càng đi xuống và Nhật Bản trở thành một
trong những quốc gia có vấn đề tài chính đáng lo ngại nhất trong số các nền kinh tế phát
triển. Theo IMF, tổng nợ công của chính phủ Nhật Bản hiện đã lên đến 229% GDP (7/2011).
So với nợ công châu Âu, nợ công Nhật Bản có sức công phá và lan tỏa gấp bội. Nợ công
Nhật Bản không chỉ ở mức vài trăm triệu USD như ở Hy Lạp, Ailen và Bồ Đào Nha mà đã lên
tới mức cao kỷ lục 924.000 tỉ yên (khoảng hơn 11.354 tỉ USD) tính đến tháng 3/2011
Ảnh hưởng của tình hình nợ công đến nền kinh tế thế giới
Từ khi nổi lên vấn đề khủng hoảng nợ Hy Lạp vào cuối năm ngoái, đồng Euro đã liên tục
trượt giá so với USD, khiến các cơ quan chức năng của Mỹ và EU lo ngại có bàn tay của các
quỹ đầu cơ lớn. Cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu cũng đe dọa đảo lộn trật tự tài chính, chính
trị và quyền lực ở châu lục này. Đức và Pháp là những quốc gia có khả năng giải cứu cao
nhất, các nhà lãnh đạo ở 2 nước này có thể sẽ là những người quyết định chính sách tài
khóa cho Bồ Đào Nha, Ireland, Italy, Hy Lạp và Tây Ban Nha. Tuy nhiên, hai nước này cũng
đang phải đương đầu với nhiều khó khăn về tăng trưởng và ngân sách. Thâm hụt ngân sách
của Đức và Pháp lần lượt ở mức 6,3% và 7,5% GDP.
Châu Á - Thái Bình Dương, "điểm sáng kinh tế"
Với các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khủng

sự với Tokyo.
Tuy cuộc chiến chưa bùng nổ, những con số thiệt hại đã xuất hiện sau những cuộc biểu tình
chống Nhật kèm theo đập phá, hôi của tại hàng chục đô thị lớn nhỏ ở Trung Quốc. Các
doanh nghiệp Nhật Bản có cơ sở hoạt động ở Trung Quốc đã báo cáo với các hãng bảo hiểm
rằng họ đã bị thiệt hại gần 130 triệu USD.
Việc thua lỗ trong kinh doanh của các hãng xe hơi Nhật ở Trung Quốc cũng không nhỏ. Chỉ
tính đến hết tháng 9/2012, các đại lý của 3 hãng xe Toyota, Nissan và Honda ở Trung Quốc
bị thiệt hại khoảng 250 triệu USD, tương đương 14.000 chiếc (giá trung bình 18.000
USD/chiếc. Mức độ thiệt hại đang tiếp tục gia tăng lên bởi chưa có dấu hiệu người tiêu dùng
Trung Quốc thôi tẩy chay xe hơi Nhật.
Nhiều lĩnh vực chiến lược khác của Nhật ở Trung Quốc cũng bị thiệt hại khá nặng. Các hãng
Sony, Canon và Panasonic đã ngưng hoạt động tại nước đông dân nhất thế giới. Nhiều cửa
hàng bán lẻ hàng hóa Nhật đóng cửa vì lo sợ bị tấn công đập phá và cướp của. Chuỗi cửa
hàng Fast Retailing, chủ sở hữu nhãn hiệu quần áo Uniqlo, đã đóng cửa 42/145 cửa hàng
khiến 200 nhân viên thất nghiệp; hai chuỗi cửa hàng Seven & I và Jusco của Nhật cũng đóng
cửa.
Tại sao nó là vấn đề toàn cầu?
Nếu xảy ra chiến tranh thương mại Nhật - Trung, kinh tế thế giới sẽ đứng trước một đợt
“sóng thần” với những hậu quả khó lường - Bà Janet Hunter, nhà sử học kinh tế ở trường
Đại học London nhận định. Toàn bộ nền kinh tế thế giới sẽ gánh lấy hậu quả. Bởi, theo bà
Janet Hunter, tăng trưởng kinh tế thế giới hiện nay phụ thuộc vào châu Á, vùng đất duy nhất
còn giữ tốc độ tăng trưởng khá. Trung Quốc và Nhật Bản lại là cường quốc kinh tế thứ hai
và thứ ba thế giới.
Nhật báo Mỹ The Wall Street Journal (WSJ) cũng cho rằng hoạt động kinh tế của hai cường
quốc kinh tế châu Á sụt giảm thì chưa biết chừng nào thế giới mới có thể thoát khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế - tài chính kéo dài từ năm 2008.
Greg Nance, một doanh nhân Mỹ ở Thượng Hải, chuyên nghiên cứu về chiến lược đồng minh
Mỹ ở Đại học Chicago, đánh giá trên tờ The Seattle Times rằng cuộc xung đột chính trị, kinh
tế hiện nay giữa Trung Quốc và Nhật Bản giống như một trận cuồng phong có thể tàn phá
nền kinh tế châu Á. Nếu giao thương giữa 2 “đại gia” châu Á bị tê liệt thì đồng thời kinh tế

số nền kinh tế phát triển khác thao túng tỷ giá thông qua làn sóng nới lỏng định lượng, các
ngân hàng trung ương thuộc nhóm 10 quốc gia thành viên của Hiệp ước những dàn xếp chung
về cho vay (G-10) cũng nỗ lực hơn nhằm ghìm giá nội tệ. Các thành viên G-10 gồm Bỉ,
Canađa, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh và Mỹ đã phát ra
những tín hiệu rằng họ sẽ can thiệp thị trường nhằm ghìm giá nội tệ trước làn sóng nới lỏng
định lượng toàn cầu.
Thực tế khảo sát cho thấy:
+ Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ áp trần tỷ giá đồng franc với euro
+ Ngân hàng Trung ương Na Uy có chỉ số can thiệp cao nhất khi luôn đưa ra liên hệ giữa đồng
krone mạnh với khả năng hạ lãi suất để ghìm giá nội tệ.
+ Ngân hàng Trung ương Niu Dilân nhạy cảm nhất với những biến động của nội tệ ngược với
Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia có mức độ lo ngại thấp nhất.
+ Ngân hàng Trung ương châu Âu và hiện thị trường đang trong tình trạng cảnh giác cao khi
tân Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe chủ trương nới lỏng tiền tệ mạnh mẽ để ghìm giá đồng
yên.
Trước đó, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh Mervyn King đã cảnh báo rằng các nền kinh
tế hàng đầu thế giới có nguy cơ rơi vào cuộc chiến tranh tiền tệ mới khi nhiều nước tìm cách
giải quyết vấn đề kinh tế bằng cách thao túng tiền tệ nhằm đạt được lợi thế thương mại. Ông
King cũng cho rằng, các nước có thặng dư thương mại lớn như Trung Quốc, Đức nên chấp
nhận để đồng nội tệ mạnh hơn và hành động để thúc đẩy nhu cầu nội địa và nhập khẩu. “Bóng
ma” chiến tranh tiền tệ vẫn luôn tiềm tàng trong năm 2013.
2. ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ TÍNH TOÀN CẦU ĐẾN VIỆT NAM
2.1 – Vài nét về nền kinh tế Việt Nam thời gian qua
2.1.1 – Thời kì trước đổi mới (1975 – 1986)
Mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiều khuyết điểm yếu kém. Nền kinh tế
đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, lạc hậu, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn
diện, lạm phát tăng phi mã (774,7%) năm 1986, nền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp đình
đốn. Công nghiệp yếu kém, manh mún thiếu rất nhiều ngành công nghiệp tiêu dùng Nền
nông nghiệp không đủ chi dùng trong nước, phải nhập khẩu lương thực, thực phẩm và hàng
tiêu dùng thường xuyên khiến cho cán cân xuất nhập khẩu luôn thâm hụt mất cân đối, thu

hóa - tiền tệ, tập trung vào các biện pháp quản lý kinh tế, thành lập hàng loạt các tổ chức tài
chính, ngân hàng, hình thành các thị trường cơ bản như thị trường tiền tệ, thị trường lao

Trích đoạn Thách thức Ảnh hưởng của nợ nước ngoài đến Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status