1
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
HỒ SƠ HÀNH CHÍNH SỐ 8/DA(2)
“Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai”
Địa chỉ thương trú: 5B31, ấp 5, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh,
thành phố H.
Ngày 19/5/2006, chủ tịch UBND huyện Bình Chánh ban hành Quyết
định số 643/QĐ–UB về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và
quyền sử dụng đất ở chỗ ông Hồ Tấn Lực, trú tại: 5B31, ấp 5, xã Phạm Văn
Hai, huyện Bình Chánh, thành phố H. Cho rằng việc UBND huyện Bình
Chánh cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng dất ở cho
ông Hồ Tấn Lực làm xâm hạu trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của
mình, bà Hồ Thị Ngoan đã làm đơn khiếu nại đến UBND huyện Bình Chánh
và ngày 05/3/2007 bà Ngoan đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân
huyện Bình Chánh, sau khi thụ lý thì ngày 08/6/2007 Tòa án đã ra Quyết
định số 05/QĐXX đưa vụ án ra xét xử.
3. Nội dung đơn khiếu kiện như sau:
Năm 1981 ông Hồ Văn Bê và bà Lê Thị Khuê đi kinh tế mới tại nông
truờng An Hạ xã Phạm Văn Hai huyện Bình Chánh thuộc Sở Nông Nghiệp 3
và Phát Triển Nông Thôn, thành phố H. Sau đó Nông truờng An Hạ có cấp
cho ông Bê và bà Khuê một miếng đất thổ cư, diện tích 600m2 để làm nhà
và nay là nhà 5B31 ấp 5, xã Phạm Văn Hai , huyện Bình Chánh, thành phố
H, đồng thời có đăng kí hộ khẩu thuờng trú tại căn nhà này gồm ông Hồ Văn
Bê, bà Lê Thị Khuê và bà Hồ Thị Ngoan.
Năm 1986 ông Bê bị tai nạn giao thông chết, bà Khuê bị thuơng. Sau
đó bà Khuê và bà Ngoan về quê sinh sống và nhờ ông Hồ Văn Ngộ là con
trai cả của ông Bê và ba Khuê trông hộ nhà cửa.
Ngày 01/7/1989 ông Ngộ được nông trường An Hạ cấp giấy chứng
nhận số 94/CN công nhận ông Ngộ là chủ hộ nhà số 8 dãy T40 lô 7 nay là
căn nhà trnh chấp nói trên và tiếp đó ông Ngộ làm kê khai nhà đất 1999.
4
- Tại sao phần nhà và đất nầy đang có tranh chấp giữa bà Ngoan và
ông Ngộ (cha đẻ ông Lực) nhưng UBND vẫn ra quyết định cấp
giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và sử dụng đất ở cho ông Hồ
Tấn Lực?
- Nếu UBND không biết đất này đang có tranh chấp, vậy thì thời
điểm nào UBND mới biết được thông tin về sự tranh chấp này?
- Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất
ở cho ông Hồ Tấn Lực, UBND huyện Bình Chánh có tiến hành lấy
ý kiến xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường về tình trạng tranh
chấp đất đai đối với thửa đất hay không?
- UBND xã có tham mưu về tình trạng đất này cho huyện hay
không?
- Trứơc khi cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử
dụng đất ở cho ông Lực, theo quy trình thì UBND xã phải công bố
công khai danh sách các trường hợp đủ điều kiện và không đủ điều
kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng không? Vậy thì
việc niêm yết theo luật định đó là trong thời gian bao nhiêu ngày?
- Tại sao khi chưa hết thời hạn niêm yết mà UBND xã đã xác nhận
đất không tranh chấp mà Huyện vẫn chấp nhận?
- Căn cứ bút lục số 44, thì quyết định số 643/QĐ-UB ngày
19/5/2006 trên tiêu đề có ghi là “quyết định của chủ tịch UBND
huyện Bình Chánh” đúng không?
- Nhưng người ký tên trong quyết định là Phó Chủ Tịch, vậy vị này
có được ủy quyền của Chủ Tịch hay không?
Hỏi ông Hồ Tấn Lực - người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Theo như tờ trình quan hệ nhân thân của ông khai ngày 18/3/2006
“trước năm 1984, thường trú tại ấp An Hòa xã An Thới, huyện Mỏ
- Bà có biết nguồn gốc khu đất nói trên hay không?
- Ông Ngộ trông coi miếng đất vào năm nào? Vì sao lại giao ông Ngộ
trông coi?
- Khi ông Ngộ trông coi khu đất trên bà và mẹ bà có thường xuyên lên
xuống nơi đó hay không?
- Sau khi cha đẻ của bà mất, mẹ bà có làm di chúc giao toàn bộ tài sản
cho bà đúng không?
- Việc làm di chúc đó các cháu của bà là con ông Ngộ có biết không?
- Vào 6/2/2006 mẹ bà có làm đơn yêu cầu gởi UBND xã Phạm Văn
Hai xin cấp GCNQSDĐ tại căn nhà tranh chấp này bà có biết hay không?
- Vậy gia đình bà có nhận được phản hồi gì hay không?
- Khi ông Lực cháu bà làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ bà có biết
không?
- B có biết được Thông báo số 177/TB-UB thông báo công khai danh
sách xét cấp GCN QSHN và QSDĐ cho anh Hồ Tấn Lực trong thời hạn từ
ngày 19/03/2006 đến ngày 26/03/2006 hay không?
- Từ trước đến giờ mẹ bà và chị bà có gửi đơn trình báo tình trạng nhà
đất có tranh chấp cho UBND xã không và gởi vào lúc nào? Gởi đến đâu? Và
có nhận được sự trả lời hay hòa giải gì không?
- Bà có ý kiến gì muốn trình bày thêm với HĐXX nữa không?
III. DANH MỤC CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐƯỢC
ÁP DỤNG:
- Bộ luật dân sự 2005; 6
- Luật đất đai năm 2003;
- Nghị định 181/2004/NĐ–CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành
Luật Đất đai năm 2003;
sau:
Năm 1981 ông Hồ Văn Bê và Lê Thị Khuê đi kinh tế mới tại nông
truờng An Hạ xã Phạm Văn Hai huyện Bình Chánh. Nông truờng An Hạ có
cấp cho ông Bê và bà Khuê một miếng đất thổ cư, diện tích 600m2 đồng
thời có đăng kí hộ khẩu thuờng trú tại căn nhà này gồm ông Hồ Văn Bê, bà
Lê Thị Khuê và bà Hồ Thị Ngoan. Năm 1986 ông Bê bị tai nạn giao thông 7
chết, bà Khuê bị thuơng nên bà Ngoan phải về quê để chăm sóc cho mẹ và
có nhờ ông Hồ Văn Ngộ là con trai cả của ông Bê và ba Khuê trông hộ nhà
cửa. Ngày 16/5/2003 ông Ngộ bị bệnh chết. Từ năm 2003 đến 2006 bà
Ngoan có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xa Phạm Văn Hai trình báo về việc
khu đất và căn nhà 5B31 Ấp 5 xã Phạm Văn Hai huyện Bình Chánh vào các
ngày: 15/5/2003; 06/02/2006; 30/4/2006; 14/6/2006 và 15/6/2006 nhưng
không được giải quyết. Ngày 22/02/2006 ông Hồ Tấn Lực (là con ruột của
ông Hồ Văn Ngộ) có làm đơn đề nghị UBND huyện Bình Chánh cấp giấy
Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở cho căn nhà nói trên. Ngày
19/5/2006 UBND huyện Bình Chánh ra quyết định số 643/QĐ-UB về việc
cấp giấy Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở cho ông Lực. Ngày
28/7/2006 bà Hồ Thị Ngoan đã gửi đơn khiếu nại gửi UBND huyện Bình
Chánh về quyết định số 643/QĐ-UB ngày 19/5/2006. Ngày 21/02/2007 CT
UBND huyện Bình Chánh đã ban hành quyết định số 638/QĐ-UB bác đơn
khởi kiện của Bà Ngoan. Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại
củ CT UBND huyện Bình Chánh. Ngày 05/3/2007 bà Ngoan làm đơn khởi
kiện quyết định 643/QĐ-UB của UBND huyện Bình Chánh ngày 19/5/2006
và ngày 08/6/2007 Tòa án đã ra Quyết định số 05/QĐXX đưa vụ án ra xét
xử.
Kính thưa Hội đồng xét xử,
chấp là trái pháp luật.
- Cũng tại điều khoản này quy định rõ về thời hạn niêm yết tại
UBND xã là 15 ngày thế nhưng theo hồ sơ vụ án, UBND xã Phạm
Văn Hai đã ban hành Thông báo số 177/TB-UB thông báo công
khai danh sách xét cấp GCN QSHN và QSDĐ cho anh Hồ Tấn
Lực trong thời hạn từ ngày 19/03/2006 đến ngày 26/03/2006 (Bút
lục 9 và 10). Việc công bố công khai chỉ được thực hiện trong
vòng 8 ngày là sai với quy định pháp luật.
- Thêm một điểm vi phạm nữa trong hồ so xin cấp giấy CNQSDĐ
đó là việc công nhận di sản thừa kế lại căn cứ vào tờ giấy ủy quyền
không có giá tri pháp luật bởi lẽ theo Tờ khai lệ phí trước bạ
ngày 25/05/2006 (Bút lục 79), những người thừa kế di sản của
ông Hồ Văn Ngộ gồm: Hồ Văn Tặng, Hồ Thị Thúy Vân, Hồ Thị
Thúy Lê, Hồ Thiện Phúc và Hồ Tấn Lực và anh Hồ Thiện Phúc.
Ngoài ra con 1 người thừa kế hợp pháp nữa là bà Khuê má ông
Ngộ, thế nhưng Giấy ủy quyền ngày 17/03/2003 chỉ thể hiện ý
chí của 4 anh chị em Hồ Văn Tặng, Hồ Thị Thúy Vân, Hồ Thị
Thúy Lê, Hồ Thiện Phúc và anh Hồ Tấn Lực là không đủ yếu
tố để căn cứ vào đó mà cấp GCN QSHN và QSDĐ với tư cách
là đại diện thừa kế của ông Hồ Văn Ngộ vì nó vi phạm Điều
676-BlDS 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật thì vợ, 9
chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi đều có
quyền thừa kế ngang nhau.
Từ những việc làm trái pháp luật này của đơn vị cơ sở dẫn đến việc Phòng
TNMT Huyện Bình Chánh làm tờ trình không đúng sự thật khi trong phần
nhận xét đã ghi “đất không tranh chấp” và cũng chính sư tham mưu sai này
đã dẫn đến việc quyết định 643/QĐ_UB là trái quy định pháp luật. Nó đã vi
………………………………………………………………………………10
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Chủ tọa phiên tòa
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………
Hội thẩm nhân dân
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………
Đại diện Viện kiểm sát
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………
………………………………………………………………………………
………
Người khởi kiện
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………12
………………………………
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………13
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
…………
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan:
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………16
………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………