Hoạch định chiến lược kinh doanh nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm - Pdf 10

Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Với chủ trương "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới"
của Đảng và Nhà nước ta, quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã không ngừng
phát triển và lớn mạnh, đặc biệt tương lai Mỹ sẽ giành cho Việt Nam quy chế tối
huệ quốc, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa của hai nước xâm nhập vào thị
trường của nhau.
Hiện nay, vấn đề thị trường là vấn đề "bức xúc" đối với tất cả các doanh
nghiệp Việt Nam trong đó có Công ty May Thăng Long. Đây thực sự là cơ hội
tốt cho Công ty May Thăng Long đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm của Công ty
sang thị trường Hoa Kỳ, một thị trường có sức tiêu thụ may mặc lớn, dân số
đông, hàng năm nhập khẩu hàng dệt may nhiều... Điều đó chứng tỏ thị trường
Hoa Kỳ là thị trường có quy mô rất lớn và có tính hấp dẫn rất cao đối với Công
ty.
Vấn đề đặt ra cho Công ty là phải làm thế nào để đẩy mạnh hoạt động
xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ một cách có hiệu quả. Để làm được điều này,
Công ty cần phải xây dựng một chiến lược kinh doanh nhằm thúc đẩy xuất khẩu
sản phẩm của Công ty sang thị trường Hoa Kỳ. Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề
tài: "Hoạch định chiến lược kinh doanh nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm của
Công ty May Thăng Long sang thị trường Hoa Kỳ".
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Với tính đa dạng của đề tài, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về chiến
lược xuất khẩu sản phẩm may mặc sang thị trường Mỹ , sau khi đã nghiên cứu
một cách tổng thể về môi trường ngành, vĩ mô nói chung về dệt may
3. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI GỒM
Chương I- Giới thiệu về ngành dệt may Việt Nam
Chương II- Phân tích đánh giá môi trường kinh doanh của Hoa Kỳ và khả
năng xuất khẩu của công ty may Thăng Long sang thị trường Hoa Kỳ
Chương III- Xây dựng chiến lược kinh doanh ở công ty may thăng Long
nhằm đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ

là nhu cầu hàng may mặc ngày càng tăng và nhanh biến đổi. Còn trên thế giới thì
xu thế ngành may mặc phổ thông đang chuyển dần sang các nước đang phát triển
do ở những nước này có lợi thế về lao động rẻ hơn ở những nước phát triển.
Bốn là: Nước ta có điều kiện để phát triển trồng bông, đay, thúc đẩy ngành
dệt may phát triển vì nguyên liệu cung cấp trong nước thường rẻ hơn nhập khẩu.
Với những đặc điểm trên mà ngành may Việt Nam đã ngày càng phát
triển, thu hút được nhiều lao động xã hội - gần 50 vạn người, chiếm 22,7% lao
động công nghiệp toàn quốc, góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo sự ổn
định chính trị - kinh tế xã hội, do đó được Đảng và Nhà nước quan tâm. Hiện nay
ngành may vẫn đang chiếm một vị trí quan trọng về ăn mặc của nhân dân, quốc
phòng và tiêu dùng trong các ngành công nghiệp khác.
1.2 Thực trạng ngành Dệt - May Việt Nam
1.2.1 Những thành tựu đã đạt được của ngành Dệt - may Việt Nam
Đã có những đặc điểm phù hợp với điều kiện nước ta nên ngành may Việt
Nam phát triển rất cao trong thời gian qua cả về mặt sản lượng và kim ngạch xuất
khẩu. Hiện nay kim ngạch xuất khẩu của ngành may chỉ đứng sau sản phẩm dầu
thô và liên tục tăng. cụ thể từ năm 1995 đến nay, kim ngạch xuất khẩu hàng may
mặc không ngừng tăng lên, điều đó thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1 GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU HÀNG MAY VIỆT NAM
2
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
1995-1998
(đơn vị: triệu USD)
1995 1996 1997 1998
Giá trị xuất khẩu toàn quốc 5200,0 7255,8 8850,0 8910,0
Giá trị xuất khẩu ngành may
Việt Nam
750,0 1150,0 1250,0 1310,0
Tỷ lệ so với xuất khẩu toàn
quốc (%)

móc... đều được tạm nhập để rồi tái xuất sau khi đã trở thành hoàn chỉnh. Như
vậy, giá trị mới tạo ra hơn các sản phẩm may mặc này chỉ gồm mức lao động của
người công nhân và hoạt động của bộ máy quản lý. So với giá trị sản phẩm nó rất
thấp, chỉ bằng khoảng 8% đối với áo sơ mi và 12% đối với áo jacket - là 2 mã
hàng có số lượng sản phẩm xuất khẩu lớn nhất hiện nay. Trong khi đó, nếu xuất
3
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
khẩu theo hình thức mua nguyên liệu (có thể nhập khẩu nguyên liệu) bán thành
phẩm (xuất khẩu trực tiếp không qua nước thức 3) hay gọi là hình thức FOB thì
giá trị xuất khẩu tăng lên rất nhiều, thường gấp từ 4-5 lần. Đó là chưa kể đến nếu
nguồn vải để lại được sản xuất trong nước thì giá trị thu được từ xuất khẩu sản
phẩm sẽ tăng lên gấp bội. Nếu như không có phương hứong đổi mới mạnh sang
hình thức FOB thì như hiện nay hầu hết sản phẩm được xuất khẩu đều phải thông
qua nước thứ ba nên khả năng bị ép giá thường xảy ra, gây nhiều thua thiệt cho
các doanh nghiệp nước ta.
Mặt khác, hịên nay ngành may của nước ta chỉ có thể đi vào các chủng
loại mặt hàng chất lượng thấp và trung bình với một số ít mặt hàng đạt đến khá.
Các loại mặt hàng cao cấp thì ngành may Việt Nam chưa thể làm được và rất khó
cạnh tranh như comple...
Tuy nhiên muốn xâm nhập vào thị trường Mỹ một thị trường đầy tiềm
nặng, một đất nước của những người nhập cư - nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng bởi
thế Công ty cần đẩymạnh hơn thâm nhập vào thị trường này.
1.2.3. Tình hình thị trường nội địa
Ngành may mặc Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường
trong nước. Thị trường trong nước với số dân khoảng 80 triệu và tương lai là 100
triệu vào năm 2010 là một thị trường đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Dệt -
may Việt Nam. Nhưng hiện tại nước ta vẫn phải nhập một lượng lớn bao gồm cả
vải và quần áo may sẵn. Vì Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức và thực
hiện các điều khoản của hiệp định AFTA, thị trường nội địa là "sân chơi" của các
nước trong khu vực do đó ngành may Việt Nam cũng gặp phải không ít khó khăn

nói riêng.
Đây là một thuận lợi cho mối quan hệ hai nước Việt -Mỹ
Thật vậy, với chính sách phát triển nền kinh tế mở, đa phương hoa quan hệ
cùng với đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu, Việt Nam đã khai thông và thu hút
được nhiều thị trường vào Việt Nam trong đó có cả thị trường Mỹ.
Kể từ khi "Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ với Việt
Nam, đầu tư của Mỹ vào Việt Nam ngày càng phát triển. Đến nay đã có gần 400
Công ty Mỹ có mặt tại Việt Nam, đầu tư vào trên 70 dự án, với số vốn đăng ký
gần 1,1 tỷ USD, đứng thứ 10 trong số các nước và vùng lãnh thổ đang đầu tư ở
Việt Nam."
1
Với các hãng nổi tiếng của Mỹ như esso, Pepsi, Kodak, Microsoft,
General... đều có mặt ở Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất khẩu giữa hai nước năm
1007 đạt 388 triệu USD và 10 tháng đầu năm 1998 đạt 540 triệu USD. Điều đó
chứng tỏ Mỹ đã nhanh chóng khẳng định vị trí quan trọng và tiềm năng to lớn
của mình taị thị trường Việt Nam.
• Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam
Trong thời kỳ Mỹ còn thực thi chính sách cấm vận đối với nước ta thì các
doanh nghiệp Việt Nam không những không thể thâm nhập vào thị trường Mỹ
mà cũng không thể tiến hành quan hệ với thị trường vốn là đồng minh của Mỹ.
Từ khi Mỹ tuyên bố bãi bỏ cấm vận và bình thường háo quan hệ với Việt Nam
thì kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Mỹ luôn
tăng 200-300%/năm. Đây là tốc độ tăng cao nhất so với các thị trường khác, cho
dù chúng ta chưa được hưởng quy chế Tối huệ Quốc (MFN) và hệ thống ưu đãi
thuế quan chung (GSP) của Mỹ.
Bên cạnh đó, "ngày 10/31998, tổng thống Bill Clinton đã công bố bãi bỏ
việc áp dụng Điều luận bổ sung Jackson - Vanik đối với Việt Nam: Quyết định
này của tổng thống Mỹ sẽ thúc đẩy tiến trình đàm phán ký kết hiệp định thương
mại song phwong (BTA) và tạo điều kiện cho Việt Nam đạt được quy chế tối huệ
quốc tiếp theo. Ngoài ra, việc tuyên bố xoá bỏ những điều khoản sửa đổi Jackson

Thật vậy, Mỹ đã xoá bỏ cấm vận đối với Việt Nam và sẽ "bật đèn xanh"
trong việc Việt Nam tham gia vào tổ chức thương mại thế giới "WTO). Nhưng
"sẽ" trong tương lai của Mỹ dành cho Việt Nam đó - với điều kiện Việt Nam phải
đáp ứng những yêu cầu, những tiêu chuẩn quá cao đến nỗi Việt Nam không thể
đáp ứng được.
Bên cạnh đó, những năm sắp tới khi Việt Nam được hưởng MFN và GSP
của Mỹ thì Mỹ là thị trường cung cấp bông đầy triển vọng cho Việt Nam. Bởi vì
Mỹ là nước có sản lượng bông lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 25% tổng kim
ngạch thế giới và cũng là nước xúât khẩu bông lớn nhất thế giới.
Tuy nhiên, mức độ ưu đãi trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam
còn ở mức độ thấp so với các quốc gia khác thậm chí nếu có đưa ra như WTO thì
phải đáp ứng điều kiện của Mỹ đặt ra. Mức độ ưu đãi đó thể hiện qua bảng sau.
Bảng đó chỉ ra Việt Nam đang ở trong cung bậc nào trong chính sách thương mại
của Hoa Kỳ và cho thấy 7 cấp độ ưu đãi khác nhau trong thương mại Mỹ dành
cho các nước. Vào tháng 2/1994, việc xoá bỏ cấm vận đã đưa Việt Nam tiến từ
cung bậc cuối cùng lên mức cao hơn. Nhưng dù sao Việt Nam vẫn chưa có được
2
B¸o th¬ng maÞ -sè(3+4) - Trang (6+7) -N¨m 1999
6
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
sự đối xử MFN từ phía Hoa Kỳ như họ đã dành cho phần lớn các nước trên thế
giới. Các bước quan trọng tiếp theo cần phải và có thể đạt được là MFN có điều
kiện (khi hai nước đã tiến tới được Hịêp định thương mại) và MFN vô điều kiện
(với việc Quốc Hội Mỹ bãi bỏ việc áp dụng tu chính án Jackson - Vanick) và khi
đó Việt Nam sẽ giành đưọc một số ưu đãi trong hệ thống GSP ưu đãi chung.
Bảng 1.3: Thứ tự mức độ ưu đãi của Mỹ giành cho Việt Nam
HÌNH THỨC
ƯU ĐÃI
NỘI DUNG
ƯU ĐÃI

Trung Mỹ và vùng
vịnh Caribe,
Bolivia, Colombia,
Peru và Ecuado
(1991 và sẽ gia hạn
vào 2001)
Rất ít khả năng Hoa
Kỳ sẽ tạo ra một
chương trình ưu đãi
cho Việt Nam như
trường hợp các nước
châu Mỹ La tinh và
vịnh Caribe
3. Hệ thống
ưu đãi
chung
(GSP)
Miễn thuế nhập
khẩu đối với rất
nhiều loại hàng hóa,
nhưng một số sản
phẩm quan trọng sẽ
bị loại trừ, và một
loạt các quy định để
Hoa kỳ không áp
dụng ưu đãi này đối
với môt số sản
phẩm hay quốc gia
- Phần lớn các nước
đang phát triển hạc

hay "không phân
biệt đối xử".
áp dụng đối với
phần lớn các nước
trên thế giới, trừ các
nước chưa được
hưởng hoặc được
hưởng MFN có
điều kiện. Một số
nước đã được
hưởng chế độ này,
nhưng vẫn chưa
được hưởng GSP là
Nhật, EU, và các
nước công nghiệp
Việt Nam sẽ được
hưởng sự đối xử này
khi Quốc Hội mỹ
không áp dụng tu
chính án Jackson -
Vanick
7
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
mới ở châu
5. MFN có
điều kiện
Việc đãi ngộ MFN
với nội dung trên
được thực hiện với
điều kiện phải chấp

Các nước mà hàng
hóa nhập khẩu vào
Hoa Kỳ phải nộp
thuế theo thuế suất
quy định tại đạo
luật thuế xuất nhập
khẩu Smoot-hawlay
1930 (nộp thuế theo
thuế suất quy định
tại cột thứ 2 của
biểu thuế)
5 nước Apganixtan,
Cu Ba, Bắc Triều
Tiên, Lào và Việt
Nam
Việt Nam đang ở
tình trạng nàg
7. Cấm vận
thương
mại
Bao gồm cấm vận
toàn bộ hay từng
phàn (có cả các
nước đã có MFN)
Cu ba, I Ran, IRắc,
Libi, Bắc Triều
Tiên
Việt Nam cho đến
tháng 2/1994
Nguồn: Nhịp cầu giao thương Việt - Mỹ

+ Sản phẩm dệt kim
+ Sản phẩm may
Triệu m
2
Triệu SP
Triệu SP
800
70
350
580
1330
150
480
780
2000
210
720
1200
Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam
- Nhu cầu vốn cho các loại hình đầu tư
Dự kiến mức huy động vốn đầu tư cho các dự án mới trong nước 41% và
nước ngoài 59%.
BẢNG 1.5: CÁC LOẠI HÌNH ĐẦU TƯ
Loại hình đầu tư Đơn vị Trị giá
Đầu tư chiều sâu Triệu USD 473,3
Đầu tư mở rộng " 283,0
Đầu tư mới " 3.216,4
Tổng cộng 3.973,7
Nguồn:Tổng công ty Dệt - May Việt Nam
Mục tiêu về diện tích và sản lượng các loại nguyên liệu

9
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
Đưa thiết kế giác sơ đồ trên máy vi tính, máy trải vải tự động vào khâu cắt
cho các doanh nghiệp lớn. thay đổi, bổ sung các máy ép dính có chất lượng cao,
trang bị thêm các máy tự cắt theo chương trình, cắt bằng tia laze.
Khâu cắt ráp sản phẩm: thay mới các máy may công nghiệp, và máy máy
chuyên dùng đã dùng trên 10 năm. Tăng tỷ lệ các máy may có cắt chỉ, loại mũi tự
động. Đưa các thiết bị tự động có chuyên môn hoá vào các dây chuyền sản xuất.
- Khâu hoàn thiện sản phẩm: Đầu tư cho các dây chuyền các loại máy:
thùa khuyết, đính cúc tự động, máy là ép định hình cho sản phẩm, thiết bị làm
cho chất lượng cao. Đầu tư thêm một số phân xưởng giặt mài hoàn thiện sản
phẩm sau may.
- Nhà nước tăng mức vốn ngân sách cấp cho các doanh nghiệp Dệt may để
các doanh nghiệp này có điều kiện đổi mới trang thiết bị, mua sắm máy móc mới
và hịên đại, có đủ điều kiện sản xuất hàng xuất khẩu. Đây là cơ hội tốt để đổi
mới máy móc và có khả năng sản xuất nhiều mặt hàng hơn nữa
2.1.3 Môi trường kinh tế
Hiện nay, ngành may Việt Nam vẫn đang chiếm một vị trí quan trọng về ăn
mặc của nhân dân, quốc phòng và tiêu dùng trong ngành công nghiệp khác. Sản
phẩm ngành may rất đa dạng có tính chất thời trang có tính quốc tế. Công nghiệp
may Việt Nam tiến bộ nhanh từ chỗ may quần áo lao động xuất khẩu, các loại
quần áo đơn giản như vỏ chăn, áo gối...đến nay đã may được nhiều mặt hàng cao
cấp không chỉ đáp ứng yêu cầu trong nước mà còn có uy tín trên thị trường quốc
tế, đặc biệt là thị trường Mỹ
Thậy vậy sự đổi mới đó là nhờ sự thay đổi cơ cấu về kinh tế của nhà nước Việt
nam. Sự đổi mới của ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
dệt may trong và ngoài quốc doanh vay vốn đầu tư cho sản xuất nhất là sản xuất
hàng xuất khẩu.
Bên cạnh đó, chính sách lãi suất có những thay đổi cơ bản để phù hợp với
tình hình thực tiễn như bằng cách tăng lãi suất, ngân hàng đã làm cho đồng tiền

thiết những chúng ta cần tập trung mọi nỗ lực để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
Đây là một thách thức không nhỏ đối với ngành Dệt-May nếu tỷ giá hối
đoái có lợi cho nhập khẩu như bảng trên.
Mặt khác chính sách tỷ giá hối đoái vẫn chưa hướng vào việc xây dựng
một "giỏ tiền tệ", làm căn cứ xác định tỷ giá hối đoái. Tình trạng đô la hoá là phổ
biến làm cho VNĐ của ta hoàn toàn phụ thuộc vào USD, bất cứ biến động nào
của USD đều gây sức ép đối với VNĐ. Như cuộc khủng hoảng tài chính trong
khu vực nổ ra vào cuối năm 1997 là nguyên nhân chính dẫn đến việc tăng giá của
USD đối VNĐ. Đối với ngành Dệt-May ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này
tuy không nghiêm trọng nhưng có thể nhận thấy khá rõ nét qua kết quả xuất khẩu
mặt hàng này trong giai đoạn trong năm 1998
Ngoài ra ngành dệt- may còn có một số thách thức hay khó khăn sau:
*Thiếu vốn nghiêm trọng
Thiếu vốn là một tất yếu với bất cứ một nhà kinh doanh nào song đối
với các doanh nghiệp Dệt - may thì đó là một gánh nặng đang đè lên vai của
những người quản lý doanh nghiệp.
Hầu hết các doanh nghiệp chỉ được n cấp khoảng 30-50% vốn lưu động
(đó vào thời điểm năm 1990 Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp). Số vốn còn
lại phục vụ cho sản xuất kinh doanh, thậm chí cả đầu tư mở rộng sản xuất, doanh
nghiệp đều phải tự lo bằng cách vay ngân hàng. Ngoảia, các khoản vay tín dụng
ưu đãi của nước ngoài với lãi suất thấp không phải dễ dàng mà có được. Chính vì
vậy khả năng đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất ở các doanh nghiệp rất
hạn chế. Theo số liệu của Tổng Công ty Dệt may Việt Nam, trong 5 năm
1991-1995 toàn ngành đã đầu tư được gần 1500 tỷ đồng, trong đó vốn vay nước
ngoài chiếm 28%, vốn vay trong nước chiếm 47%, vốn khấu hao cơ bản, vốn tự
có và các nguồn huy động khác là 22%. Điều đáng quan tâm là vốn ngân sách
Nhà nước cấp chỉ có 3%. Và đến nay vấn đề thiếu vốn là vấn đề rất quan quan
trọng cho doanh nghiệp.
11
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A

Dệt - may.
Chính sách quản lý của Nhà nước đã tạo ra hàng rào ngăn cả Công ty trong
quá trình sản xuất. Cụ thể:
+ Cơ chế cấp phát hạn ngạch còn chưa hợp lý do đó số lượng hạn ngạch
mà Bộ thương mại phân bổ cho Công ty không đáp ứng nhu cầu cho sản xuất,
làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, đặc biệt là sản xuất hàng
FOB. Năm 1997, Công ty liên tục thiếu các cát như 21, 6, 7, 78 (tên sản phẩm lần
lượt: jacket, quần, quần áo khác....)
12
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
Do thiếu hạn ngạch mà năng lực sản xuất của Công ty không được khai
thác hết và buộc Công ty phải lo xin hạn ngạch bổ sung. Chính vì vậy, chi phí gia
tăng đồng thời tạo nhiều tiêu cực trong quá trình xin hạn ngạch.
Ngoài ra thủ tục vay vốn phiền hà, thủ tục giấy tờ xuất nhập khẩu rườm rà,
Nhà nước chưa khuyến khích chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp
3 NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI ĐẶT RA CHO NGÀNH DỆT MAY
VIỆT NAM KHI XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY MAY THĂNG
LONG SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
Qua việc phân tích môi trường vĩ mô ở trên tóm tắt được những cơ
hội và tháchthức sau:
3.1 Thách thức
-Tỷ giá hối đoái xu hướng có lợi cho nhập khẩu hơn là xuất khẩu
-Thiếu vốn nghiêm trọng
- Chưa có nguồn nguyên liệu ổn định
-Trình độ cán bộ quản lý và công nhânvề D ệt -may chưa cao
- Đầu tư vào maketing còn hạn chế
- Một số chính sách quản lý của nhà nước chưa tạo điều kiện thuận lợi cho
ngành dệt may
3.2. Cơ hội:
- Việt Nam là thành viên chính thức của APEC, ASEAN và tương lai sẽ

Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA HOA KỲ
VÀ KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY MAY THĂNG LONG
SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÔNG
TY
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty May Thăng Long thành lập ngày 8/5/1958 theo quyết định của Bộ
ngoại thương (Nay là Bộ công nghiệp) lúc bấy giờ có tên Công ty may mặc xuất
khẩu Hà Nội. Đến ngày 4/3/1993, Bộ Công nghiệp nhẹ có quyết định đổi tên
Công ty thành Công ty May Thăng Long, có thể tóm tắt quá trình phát triển của
Công ty được qua các giai đoạn sau:
Bảng 2.1: Các giai đoạn hình thành và phát triển của
công ty may Thăng Long
Giai đoạn
(1)
Sự kiện
(2)
Những thành tựu đạt được
(3)
1. Từ năm
1958 cho
đến 1965
- Đây là giai đoạn đầu của quá
trình phát triển, địa điểm của
Công ty còn phân tán, Công ty
đã được trang bị máy móc theo
kế hoạch. Công ty được trang bị
thêm 400 máy đạp chân

hưởng rất lớn đến hoạt động sản
xuất của Công ty. Sau khi chiến
tranh phá hoại kết thúc, Công ty
bắt tay vào khắc phục hậu quả,
ổn định sản xuất và đổi mới
công tác quản lý.
Năm 1975, Công ty đã 4 lần
thay đổi cơ quan chủ quản, 4
lần thay đổi địa điểm
- Năm 1973: giá trị sản lượng
đạt được 576.900 đồng, với tỷ
lệ 100,77% vượt hơn năm
1972 là 166,7%.
- Năm 1975: tổng sản lượng
lên tới 6.476.926 sản phẩm đạt
tỷ lệ 104,36%, giá trị tổng sản
lượng 7.725.958 đồng, đạt
102,27% so với kế hoạch
3. Giai đoạn
1976-1980
Trong giai đoạn này, cùng với
cả nước tiến lên xây dựng chủ
nghĩa xã hội, Công ty từng bước
đổi mới trang thiết bị, chuyển
hướng phát triển sản xuất kinh
doanh mặt hàng gia công xuất
khẩu.
Thực hiện kế hoạch 5 năm lần
thức 2
Công ty đã có 209 sáng kiến

trình chuyển đổi cơ chế, từ bao
cấp sang nền kinh tế thị trường
- Năm 1993, Công ty đã đổi tên
thành Công ty May Thăng
Long, từ đây đã đánh dấu bước
phát triển vượt bậc của Công ty
May Thăng Long trong việc
đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
- Công ty hết sức chú ý tìm hiểu
và mở rộng thị trường mới.
- Cho đến nay, Công ty đã trở
thành một trong những doanh
nghiệp đầu đàn trong ngành
may
- Năm 1993, nhập thêm hệ
thống giặt mày áo bò, nâng cao
công suất lên gấp 2 lần. Mặt
hàng quần áo bò đã có uy tín
trên thị trường quốc tế như
Nhật, EU, Mỹ, ...
- Công ty xây dựng chi nhánh
ở Hải Phòng, đầu tư hơn 6 tỷ
đồng xây dựng kho ngoại
quan...
Nguồn: Phòng kế toán -Công ty may ThăngLong
17
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Công ty
Là một doanh nghiệp sản xuất và gia công hàng may mặc theo quy trình

+ Xí nghiệp 3: chuyên sản xuất jacket và quần
+ Xí nghiệp 4: chuyên sản xuất quần và jacket
+ Xí nghiệp 5: chuyên sản xuất hàng dệt kim
+ Xí nghiệp 6: chuyên sản xuất hàng dệt kim
+ Chi nhánh Hải Phòng: may mặc chủ yếu jacket và kinh doanh kho ngoại
quan
18
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
+ Chi nhánh Nam Định: xí nghiệp may Nam Hải chuyên sản xuất quần và
jacket
Mối quan hệ giữa các bộ phận (xem sơ đồ trang sau)
2. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA HOA KỲ
Trong phần này sẽ phân tích, đánh giá những yếu tố cơ bản thuộc các môi
trường thành phần tác động trực tiếp để hoạt động kinh doanh của Công ty May
Thăng Long nói riêng và ngành dệt may nói chung cần phải chú ý khi xuất khẩu
sản phẩm trên thị trường Hoa Kỳ.
2.1. Môi trường luật pháp
Muốn vào thị trường Hoa Kỳ, điều cần thiết đầu tiên với các doanh nghiệp
là những vấn đề mà Công ty cần phải quan tâm:
Hệ thống luật pháp của Hoa Kỳ thuộc loại hệ thống pháp luật theo tập
quán. Đây là hệ thống pháp luật được dựa trên cơ sở truyền thống, tiền lệ, phong
tục, tập quán và các toà án thực hiện vai trò quan trọng trong việc sáng tỏ pháp
luật trên cơ sở những đặc điểm đó. Hệ thống luật này dựa trên sự diễn dịch sự
kiện của toà án.
* Bộ máy hoạch định chính sách và quản lý hoạt động thương mại Mỹ:
- Quốc hội cơ quan phối hợp phê chuẩn mọi chính sách kinh tế đối ngoại
Mỹ.
Đứng về mặt thương mại nói riêng, mọi hiệp định thương mại áp dụng các
loại thuế khoá, các chính sách hạn chế xuất nhập khẩu đều phải dựa trên và giới
hạn trong phạm vi luật pháp và quyền hạn mà Quốc hội cho phép. Quốc hội có

giấy tờ, tài liệu tiếp nhận theo quy định của luật Mỹ. Hóa đơn chứng từ ở thị
trường Mỹ đòi hỏi rất chặt chẽ, đầy đủ và chính xác.
- Phân loại: người nhập khẩu phải ghi rõ lên tờ khai tiếp nhận hải quan
những gì anh ta cho là phù hợp với hệ thống thuế của Hoa Kỳ. Qua đó người ta
phân loại hàng hóa và định ra mức thuế. Nếu các nhân viên hải quan phân loại
hàng hóa không đúng ta có thể kiện, thời hạn trong vòng 90 ngày kể từ khi thanh
toán.
- Sự định giá: Hàng hóa nhập khẩu phải được định giá để đánh thuế theo
những nguyên tắc được ban hành bởi hiệp định giá thuế quan tại vòng đàm phán
Tokyo 1979.
- Đánh thuế: thuế quan của Hoa Kỳ có thể có một trong ba hình thức sau:
Tỷ lệ chiểu theo giá hàng, tỷ lệ cụ thể, tỷ lệ đa hợp. Ngoài ra còn phải nộp phí
người sử dụng (0,17% giá trị hàng hóa) và phí bảo dưỡng cảng (0,04% giá trị
hàng hóa). Nếu hàng đóng gói quá kỹ không kiểm tra được sẽ phải chịu mức thuế
cao nhất.
- Kiểm tra: Trước khi trả hàng hóa khỏi nơi lưu giữ tại hải quan, trừ khi đã
được giữ lại kho, nhân viên hải quan được yêu cầu kiểm tra ít nhất một gói hàng
trong mỗi hàng và không ít hơn một gói hàng trong 10 gói hàng hoá để quyết
định xem hàng hóa có được lên hoá đơn đúng không, có được đánh dấu, phân
định chất lượng không, có được kèm theo những giấy chứng nhận y tế, vệ sinh,
an toàn không. Nếu hải quan phát hiện có những khác biệt với việc khai báo tuỳ
thuộc mức độ có thể bổ sung thuế, phạt, tịch thu nếu gian lận.
- Thanh toán: Một khi hải quan quyết định giá trị phải đóng thuế và tỷ lệ
thuế có thể áp dụng, nhà nhập khẩu tiến hành thanh toán để tiếp nhận hàng.
Với những quy định trong quá trình nhậpkhẩu hàng hóa vào Hoa Kỳ như
trên, Công ty cần phải thận trọng đáp ứng đúng quy định của Mỹ để tránh bất cứ
sự vi phạm dẫn đến bị phạt hoặc tịch thu hàng hóa khi xuất khẩu sản phẩm của
mình sang Mỹ.
* Những quy định về đánh dấu, nhãn mác
20

cùng một năm. Nhưng tất cả phải trong mức hạn ngạch cho phép.
Hàng năm, Chính phủ Hoa Kỳ sẽ xem xét lại mức hạn ngạch, Chính phủ
Hoa Kỳ cũng giành quyền đơn phương cắt, giảm hạn ngạch, cấm nhập khẩu khi
các nước không tuân theo quy định và tổn hại đến Hoa Kỳ.
* Quy chế tối huệ quốc
Đối với các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu với Hoa
Kỳ đều quan tâm tới quy chế tối huệ quốc, vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới giá cả
hàng hóa của doanh nghiệp bán trên thị trường Hoa Kỳ.
Quy chế tối huệ quốc là một điều khoản quy định ở các hiệp định thương
mại quốc tế mà các nước tham gia ký kết hiệp định cam kết giành cho nhau sự
21
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Thị Hồng Vân - QTKDTH 38A
đãi ngộ thương mại không thấp hơn sự ưu đãi cao nhất mà nước đó giành cho
nước khác. Trong chính sách thuế của Hoa Kỳ, thì quy chế tối huệ quốc nghĩa là
các sản phẩm của nước được Hoa Kỳ giành cho quy chế tối huệ quốc sẽ chếm
mức thuế thấp hơn nước không được Hoa Kỳ giành cho quy chế tối huệ quốc.
BẢNG 2.2: THUẾ SUẤT CỦA CÁC MẶT HÀNG
Mặt hàng Thuế suất khi có MFN
(%)
Thuế suất khi không có
MFN (%)
Hàng áo sơ mi nam 8,5 90
Hàng quần áo trẻ em 8,5 90
Hàng dệt kim 20,7 45
Nguồn: Global Trade information Service
Điều luật 231 của luật thương mại Hoa Kỳ 1974 quy định không cho các
nước cộng sản được đãi ngộ quy chế tối huệ quốc (trong đó có Việt Nam hiện
nay vẫn chưa được hưởng quy chế tối huệ quốc của Hoa Kỳ). Tuy vậy, Hoa Kỳ
cũng quy định nước mà thuộc diện bị gạt bỏ nói trên nhưng vẫn đảm bảo thực
hiện 2 điều kiện cơ bản sau đây thì mới cho hưởng quy chế tối huệ quốc:

trị sản phẩm.
Điều kiện cho tính gộp: ví dụ như Việt Nam tham gia AFTA thì giá trị
phần nguyên liệu và chi phí sản xuất ở các nước thành viên vẫn được tính gộp,
như cùng được sản xuất ở một nước.
Tuy vậy, tổng thống Mỹ có quyền áp dụng hoặc không áp dụng các điều
kiện trên trong điều kiện cụ thể.
Hiện nay, Việt Nam chưa được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập
của Hoa Kỳ, dự định thời gian tới Việt Nam sẽ được hưởng chế độ ưu đãi thuế
quan phổ cập của Hoa Kỳ, cho nên sẽ khuyến khích mạnh mẽ hàng hóa của Công
ty xâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ ngày càng nhiều hơn.
* Quy định liên quan đến hợp đồng cần chú ý
Hợp đồng khi đã ký kết thì có hiệu lực bắt buộc đối với cả hai bên, thậm
chí khi một trong hai bên vi phạm hợp đồng.
Cần quy định rõ trong hợp đồng buôn bán trách nhiệm của hai bên về
những vấn đề mà chính sách thương mại Hoa Kỳ khống chế. Ví dụ, khi ta ký xuất
hàng bị hạn ngạch khống chế, thì người mua phải chịu trách nhiệm thu xếp hạn
ngạch và mọi chi phí liên quan đến vấn đề hạn ngạch.
Tóm lại, pháp luật của hoa kỳ rất chặt chẽ, phía Hoa Kỳ thường quan tâm
tới vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, vấn đề bán phá giá, bảo vệ môi trường,
tiêu chuẩn kỹ thuật, xuất xứ hàng hóa.... Công ty phải quan tâm và khắc phục
những diểm yếu khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Hoa Kỳ nếu không sẽ bị
trừng phạt rất nghiêm khắc.
2.2 Môi trường kinh tế
Khi phân tích, đánh giá môi trường kinh tế của Hoa Kỳ Công ty cần chú ý
tới yếu tố môi trường kinh tế tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh hàng
may mặc của Công ty khi xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ sau đây.
* Dân cư
Dân số Mỹ đứng thứ tư thế giới, khoảng 250 triệu người, chủ yếu là người
Châu Âu, người gốc Việt Nam có khoảng 2 triệu người. Tốc độ tăng dân số hàng
năm 1%. Dân số thành thị là chủ yếu. Số dân sống bằng nông nghiệp chiếm

thanh
niên
mới lớn
(13-19
tuổi)
17%
3%
2%
28%
20%
Nhóm
thanh
niên
Trưởng
thành
(20-34
tuổi)
Nhóm
người
trung
niên
(35-54
tuổi)
Nhóm
người
chuẩn bị
về hưu
Nhóm
người về
hưu (65

giới, được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế, đặc biệt ở các nước Châu á.
Mức lạm phát ở Mỹ luôn ở mức thấp 2,8% năm 1997. Cán cân thanh toán thâm
hụt, năm 1996 thâm hụt 165,1 tỷ USD.
Với đồng tiền mạnh của thế giới, lạm phát không cao, là cơ hội tốt cho
Việt Nam xâm nhập vào thị trường Mỹ.
* Sự can thiệp của Chính phủ
Sự can thiệp của Chính phủ luôn ở mức tối thiểu và có thể dự đoán được.
* Tham gia vào các liên kết kinh tế
Hoa Kỳ là thành viên của khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và cũng
là thành viên của khối APEC, WTO. Mỹ giữ vai trò chủ chốt của NAFTA Và còn
giữ vai trò dẫn dắt trong APEC, WTO. Trong khi đó, Việt Nam đang tích cực
chuẩn bị tham gia vào WTO và trong tương lai sẽ là thành viên chính thức của tổ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status