ĐẠI HỌC HUẾ
ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài:
NGHIÊN CỨU HÀNH VI TRƯỚC KHI MUA
SMARTPHONE CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC HUẾ
Huế, tháng 11/2013
Hành vi khách hàng
MỤC LỤC
Hành vi khách hàng
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Mức độ quan trọng của các nguồn thông tin
Biểu đồ 2: Quy trình tìm kiến thông tin
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Các yếu tố làm xuất hiện nhu cầu mua smartphone
Bảng 2: Đo lường giá trị Cronbach's Alpha nhóm 1.
Bảng 3: Đo lường giá trị Cronbach's Alpha nhóm 2.
Bảng 4: Đo lường giá trị Cronbach's Alpha nhóm 3.
Bảng 5: KMO and Bartlett's Test
Bảng 6: Independent Samples Test
Bảng 7: Ma trận nhân tố khi chưa xoay
Bảng 8: Ma trận nhân tố khi đã xoay
Bảng 9: Đo lường giá trị Cronbach's Alpha của các nhân tố
Bảng 10: Đo lường giá trị trung bình của các nhân tố
Bảng 11: Đánh giá mức độ tác động của nhân tố lợi ích chức năng.
Bảng 12: Đánh giá mức độ tác động của nhân tố lợi ích xúc cảm
Bảng 13: Đánh giá mức độ tác động của nhân tố tài chính
Bảng 14: Kết quả kiểm định sự khác nhau về giá trị trung bình của các nhân tố theo biến
Bảng 36: ANOVA
Bảng 37: Kiểm đinh Kruskal-Wallis Test với biến trường
Bảng 38: Bộ sưu tập thương hiệu sau quá trình tìm kiếm
Bảng 39: Thuận lợi khi tìm kiếm thông tin
Bảng 40: Khó khăn khi tìm kiếm thông tin
Bảng 41: Giới tính
Bảng 42: Trường
Hành vi khách hàng
Anh Hoàng chém:
1. Giải pháp chưa thiết thực, ko áp dụng được vào thực tế
2. Cách chọn đối tượng điều tra thiếu căn cứ
3. Trình bày bảng biểu dễ gây hiểu nhầm
4.
Hành vi khách hàng
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một thời đại mới, thời đại phát triển rực rỡ của CNTT, các
sản phẩm công nghệ ngày một phong phú, đa dạng. Trong ngành điện thoại di động, các nhà
sản xuất đã liên tục đưa ra những dòng điện thoại smartphone có tính năng ưu việt và nhiều
tiện ích thiết thực hơn, nhằm mang lại những lợi ích mới, chức năng mới cho người sử
dụng, đồng thời không để mình lạc hậu so với thời đại cũng như với đối thủ cạnh tranh. Các
nhà bán lẻ cũng phải cạnh tranh khốc liệt để chiếm lĩnh thị trường.
Smartphone đem lại rất nhiều lợi ích với người dùng. Với một chiếc smartphone nằm
gọn trong lòng bàn tay thì chúng ta có cả một thế giới thông tin và tri thức khổng lồ.
Smartphone không những đem lại những tiện ích cơ bản, lợi ích chức năng mà còn thể hiện
đẳng cấp cho người sử dụng nó.
Khách hàng là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các
đại lý bán lẻ. Khách hàng của dòng điện thoại thông minh - smartphone phần đông là giới
trẻ - những người luôn thích khám phá, tìm hiểu những thứ mới mẻ mà sinh viên là một
phần trong số đó.
Các cửa hàng bán lẻ cần có những chiến thuật nào để chiếm ưu thế so với đối thủ cạnh tranh
trong giai đoạn trước khi mua smartphone của sinh viên?
III. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng điều tra: Các sinh viên thuộc 5 trường đại học ( Kinh tế, Ngoại ngữ, Khoa học,
Nông lâm, Y dược ) có nhu cầu mua mới smartphone.
Đối tượng nghiên cứu: hành vi trước khi mua smartphone của sinh viên Đại học Huế
Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn Đại học Huế. Các địa điểm
được chọn để điều tra số liệu sơ cấp gồm 5 trường: kinh tế, Ngoại ngữ, Khoa học, Nông
lâm, Y dược )
Phạm vi thời gian: để đảm bảo tính cập nhật của thông tin và hiệu quả của giải pháp được
đưa ra, đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 2/2013 đến tháng 5/2013.
IV. Phương pháp nghiên cứu
1. Thiết kế nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của nhóm sử dụng mô hình nghiên cứu mô tả được tiến hành qua 2
giai đoạn chính:
Nghiên cứu sơ bộ nhằm xây dựng bảng hỏi thăm dò ý kiến sinh viên.
Trong giai đoạn này nhóm tiến hành nghiên cứu tại bàn nhằm phân tích, đánh giá các
nghiên cứu trước đó có liên quan để hình thành, định hướng mô hình nghiên cứu, xây dựng
cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
Nhóm tiến hành nghiên cứu định tính bằng phương pháp thảo luận nhóm tiêu điểm
(focus group) bao gồm 10 sinh viên của 5 trường được lựa chọn theo một nội dung được
chuẩn bị trước dựa trên cơ sở lý thuyết đã thu thập được từ dữ liệu thứ cấp. Sau quá trình
Hành vi khách hàng
phỏng vấn những nội dung thu thập và tổng hợp được sử dụng để xây dựng, điều chỉnh,
hoàn thiện thang đo và mô hình nghiên cứu.
Do điều kiện về thời gian, chi phí và khó tiếp cận với đối tượng cần chọn để tham gia
phỏng vấn định tính nên tôi không thể tiến hành chọn mẫu theo xác suất. Tuy nhiên, để đảm
bảo mức độ tin cậy cao nhất có thể cho kết quả nghiên cứu định tính, tôi đã tiến hành như
sau: liệt kê tất cả các đối tượng sinh viên hệ chính quy tại 5 trường đã lựa chọn mà các
thành viên trong nhóm có thể tiếp cận, phân loại các đối tượng theo giới tính và theo từng
Phương pháp tính cỡ mẫu
Đề tài của chúng tôi nghiên cứu về hành vi trước khi mua smartphone của sinh viên
Đại học Huế và đặc biệt chỉ điều tra đối với những sinh viên có nhu cầu mua mới
smartphone. Vì vậy đối tượng điều tra bị thu hẹp khiến chúng tôi rất khó khăn trong việc
tiếp cận đối tượng. Với điều kiện về thời gian và nguồn lực rất hạn chế, nhóm quyết định
tham khảo ý kiến chuyên gia. Và được chuyên gia tư vấn với quy mô mẫu là 75.
Phương pháp chọn mẫu được tiến hành cụ thể như sau:
Hành vi khách hàng
Sinh viên Đại học Huế bao gồm sinh viên 7 trường thành viên và 3 khoa trực thuộc.
Tuy nhiên với nguồn lực có hạn nhóm nghiên cứu tiến hành chọn ngẫu nhiên 5 trường để
tiến hành điều tra bao gồm trường Đại học Kinh tế, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Khoa học,
Đại học Y- Dược và Đại học Nông lâm
Sau quá trình khảo sát nhu cầu mua mới smartphone của sinh viên Đại học Huế
chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trường
Tổng số sinh
viên của
trường
Số lượng sinh
viên có nhu cầu
mua mới
smartphone
Percent
Tổng số sinh
viên được
điều tra
Kinh tế 4051 12 24.0 50
Khoa học 5803 12 20.0 60
Ngoại ngữ 2853 7 17.5 40
Y Dược 3509 9 20.0 45
đối diện có 1 giảng đường A. Mỗi dãy có 4 tầng phục vụ chủ yếu cho việc học, chọn ngẫu
nhiên mỗi tầng 1 phòng học và tiến hành điều tra cho đến khi đủ 18 mẫu
- Đối với trường Đại học Khoa học, có tất cả 4 giảng đường H, K, E và B. Cụ thể dãy H có 4
tầng, mỗi tầng có 10 phòng phục vụ việc học. Dãy K không học. Dãy E có 1 tầng để học và
dãy B có 3 tầng, mỗi tầng 10 phòng trong đó chỉ có 2 tầng để học. Chọn ngẫu nhiên 3 phòng
để tiến hành điều tra cho đến khi đủ 15 mẫu
- Đối với trường Đại học Ngoại ngữ, chỉ có một dãy A gồm 5 tầng, mỗi tầng có 7 phòng chủ
yếu để học. Chọn ngẫu nhiên 3 phòng và tiến hành điều tra cho đến khi đủ 13 mẫu
- Đối với trường Đại học Y dược, có tất cả 4 dãy phòng học và một hội trường, mỗi dãy có từ
4 dến 5 tầng chủ yếu phục vụ việc học, ta tiến hành chọn ngẫu nhiên 3 lớp để tiến hành điều
tra cho đến khi đủ 15 mẫu
- Đối với trường Đại học Nông Lâm, có tất cả 4 dãy phòng học, mỗi dãy có 2 tầng chủ yếu
phục vụ cho học tập, ta tiến hành chọn ngẫu nhiên 3 phòng để tiến hành điều tra cho đến khi
đủ 14 mẫu
Ở từng trường, đi từng phòng học chọn ngẫu nhiên sinh viên ngồi bàn đầu dãy giữa .
Câu hỏi đầu tiên là “Bạn có nhu cầu mua mới smartphone không?”. Nếu trả lời Có thì sẽ
phát tiến hành điều tra, nếu Không sẽ chọn người ngồi bên cạnh thay thế. Việc phát điều tra
tiến hành cho đến lúc đủ số lượng mẫu đã định. Cũng tương tự cách tiến hành đó để điều tra
vào những tiết học sau của buổi học, hoặc của buổi học khác. Nếu mẫu bị trùng với lần điều
tra trước thì loại bỏ đối tượng đó và chọn người ngồi ngay bên cạnh để thay thế.
Với cách chọn mẫu như thế này có thể xem như mẫu được chọn ngẫu nhiên hệ thống
để tiến hành thu thập dữ liệu và có thể thực hiện các kiểm định.
V. Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Sau khi thu thập xong các bảng hỏi, tiến hành hiệu chỉnh, mã hóa dữ liệu rồi nhập dữ
liệu vào máy và làm sạch dữ liệu. Dữ liệu được nhập và chuyển sang các phần mềm tương
ứng để xử lý và phân tích. Ở đây sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp
Hành vi khách hàng
kiểm định giả thuyết thông kê,… công cụ phân tích là sử dụng phần mềm thống kê SPSS,
Excel.
Các số liệu sau khi được phân tích xong được trình bày dưới dạng bảng số liệu và các
danh- thứ bậc trong tổng thể bằng kiểm định chi-bình phương
2
χ
.
Kiểm định giá trị trung bình của tổng thể One-Sample T-Test
Giả thuyết:
H
0
:
0
µµ
=
.
H
1
:
1
µµ
≠
.
Nguyên tắc bác bỏ giả thiết:
Sig. < 0,05: Bác bỏ giả thiết H
0.
Sig.
≥
0,05: Chưa có cơ sở bác bỏ giả thiết H
0.
Kiểm định về sự bằng nhau của 2 trung bình tổng thể
Giả thiết
H
≥
0,05 (tức phương sai đồng nhất).
Nguyên tắc bác bỏ giả thiết:
Hành vi khách hàng
- Nếu giá trị Sig. <0,05: Bác bỏ giả thuyết H
0.
- Nếu giá trị Sig.
≥
0,05: Chưa có cở sở bác bỏ giả thuyết H
0
.
Kiểm định mối liên hệ giữa hai biến định danh hoặc định danh-thứ bậc trong
tổng thể bằng kiểm định Chi bình phương χ
2
Giả thuyết:
H
0
: Hai biến độc lập với nhau
H
1
: Hai biến có mối liên hệ với nhau
Nguyên tắc bác bỏ giả thuyết:
- Nếu giá trị Sig. <0,05: Bác bỏ giả thuyết H
0.
- Nếu giá trị Sig.
≥
0,05: Chưa có cở sở bác bỏ giả thuyết H
0
.
VI. Kết cấu đề tài
thách thức đối với các nỗ lực Marketing của doanh nghiệp.
1.1.3. Hành vi người tiêu dùng
Hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ
ra trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao gồm: điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá và
chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. Cũng có thể coi hành
Hành vi khách hàng
vi người tiêu dùng là cách thức mà người tiêu dùng sẽ thực hiện để đưa ra các quyết
định sử dụng tài sản của mình (tiền bạc, thời gian, công sức…) liên quan đến việc mua
sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
Sơ đồ 1.1: Mô hình hành vi khách hàng
(Nguồn: Marketing căn bản, Trần Minh Đạo)
Các kích thích: Là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài của khách hàng có thể
gây ảnh hưởng đến hành vi khách hàng. Chúng được chia làm hai nhóm chính:
Các tác nhân kích thích marketing bao gồm: sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến,…
Các tác nhân này nằm trong khả năng kiểm soát của doanh nghiệp.
Các tác nhân môi trường: là các tác nhân nhân không thuộc quyền kiểm soát của
doanh nghiệp như môi trường kinh tế, cạnh tranh, chính trị, văn hóa, luật pháp…
Hộp đen ý thức của khách hàng: Là cách gọi bộ não của con người và cơ chế hoạt
động của nó trong việc tiếp nhận, xử lý các kích thích và đề xuất các giải pháp đáp ứng trở
lại các kích thích được tiếp nhận. Hộp đen gồm hai phần. Phần thứ nhất là những đặc tính
của người mua, có ảnh hưởng cơ bản đến việc con người tiếp nhận các tác nhân kích thích
và phản ứng với nó như thế nào. Phần thứ hai là quá trình thông qua quyết định của người
mua và kết quả sẽ phụ thuộc vào quyết định đó. Nhiệm vụ của nhà hoạt động thị trường là
hiểu cho được cái gì xảy ra trong hộp đen ý thức của người tiêu dùng.
Những phản ứng đáp lại của khách hàng: Là những phản ứng mà khách hàng bộc
lộ trong quá trình trao đổi mà ta quan sát được như hành vi tìm kiếm thông tin về hàng hóa,
lựa chọn nhãn hiệu, lựa chọn thời gian, địa điểm, khối lượng mua sắm…
Hành vi khách hàng
1.1.4. Tiến trình mua của người tiêu dùng
Để có một giao dịch, người mua phải trải qua một tiến trình gồm năm giai đoạn gồm:
lãm.
Nguồn thông tin công cộng: Các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức
nghiên cứu người tiêu dùng.
Nguồn thông tin thực nghiệm: Sờ mó, nghiên cứu và sử dụng sản phẩm.
Số lượng tương đối và ảnh hưởng của những nguồn thông tin này thay đổi tuỳ theo
loại sản phẩm và đặc điểm của người mua.
C. Đánh giá các phương án
Người tiêu dùng xử lý thông tin về các nhãn hiệu cạnh tranh rồi đưa ra phán quyết
cuối cùng về giá trị như thế nào? Người tiêu dùng khác nhau về cách họ nhìn nhận những
tính chất nào của sản phẩm là quan trọng hay nổi bật. Họ sẽ chú ý nhiều nhất đến những
tính chất sẽ đem lại cho họ những ích lợi cần tìm kiếm. Những người làm Marketing cần
quan tâm nhiều hơn đến tầm quan trọng mà người tiêu dùng gán cho những tính chất khác
nhau.
Người tiêu dùng có khuynh hướng xây dựng cho mình một tập hợp những niềm tin
vào các nhãn hiệu, khi mỗi nhãn hiệu được đánh giá theo từng tính chất. Những niềm tin
vào nhãn hiệu tạo nên hình ảnh về nhãn hiệu. Niềm tin vào nhãn hiệu của người tiêu dùng
sẽ thay đổi theo kinh nghiệm của họ và tác động của nhận thức có chọn lọc, bóp méo có
chọn lọc và ghi nhớ có chọn lọc.
Hành vi khách hàng
Người ta cho rằng đối với mỗi người tiêu dùng có một hàm ích lợi. Hàm ích lợi mô tả
mức độ hài lòng của người tiêu dùng với sản phẩm biến thiên như thế nào theo các mức độ
khác nhau của từng tính chất. Người tiêu dùng hình thành các thái độ (nhận xét, ưa thích)
đối với các nhãn hiệu qua một quy trình đánh giá. Người ta phát hiện thấy rằng người tiêu
dùng áp dụng những quy trình đánh giá khác nhau để lựa chọn những đối tượng nhiều tính
chất.
D. Quyết định mua
Ở giai đoạn đánh giá, người tiêu dùng đã hình thành sở thích đối với những nhãn
hiệu trong tập lựa chọn. Người tiêu dùng cũng có thể hình thành ý định mua nhãn hiệu ưa
thích nhất. Tuy nhiên còn hai yếu tố nữa có thể xen vào giữa ý định mua và quyết định mua
hàng. Những yếu tố này được thể hiện trong những bước từ giai đoạn đánh giá các phương
thiểu số người tiêu dùng không hài lòng sau khi mua. Những công ty khôn ngoan đều hoan
nghênh những thông tin phản hồi của khách hàng và xem đó là một cách để không ngừng
cải tiến hàng hóa và kết quả hoạt động của mình.
Việc hiểu được những nhu cầu và quá trình mua sắm của người tiêu dùng là hết sức
quan trọng, để có thể hoạch định được những chiến lược Marketing có hiệu quả. Bằng cách
tìm hiểu phương án, quyết định mua và hành vi sau khi mua, người làm Marketing có thể
phát hiện ra những cách làm thế nào để đáp ứng những nhu cầu của người mua. Qua việc
Hành vi khách hàng
nắm được những người làm tham gia quá trình mua sắm và những ảnh hưởng chủ yếu đến
hành vi mua sắm của họ người làm Marketing có thể thiết kế được những chương trình
Marketing có hiệu quả cho các thị trường mục tiêu của mình.
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng
Quá trình mua hàng của khách hàng bị tác động bởi một số nhân tố mà những nhà
quản trị tiếp thị không thể kiểm soát được bao gồm yếu tố văn hoá, yếu tố xã hội, yếu tố cá
nhân và yếu tố tâm lý.
Văn hoá
Văn hoá Xã hội
Nhánh văn hoá
Các nhóm
tham khảo
Gia đình
Cá nhân
Giai cấp xã
hội
Tuổi và giai đoạn
chu kỳ sống
Nghề nghiệp
Hoàn cảnh kinh tế
Tâm lý
Động cơ
tầng nào
- Giai tầng xã hội được xác định không phải căn cú vào một biến đổi nào đó mà là dựa trên cơ
sở nghề nghiệp, thu nhập, tài sản, học vấn, định hướng giá trị và những đặc trưng khác của
những người thuộc giai tầng đó
- Các cá thể có thể chuyển sang giai tầng cao hơn hay tụt xuống một trong những giai tầng
thấp hơn
- Các giai tầng xã hội đều có những đặc trưng về sở thích rõ rệt đối với hàng hóa và nhãn hiệu
quần áo, đồ gia dụng, cách tiêu khiển giải trí, xe hơi… Cho nên một số nhà hoạt động thị
trường đã tập trung nỗ lực vào một giai tầng xã hội nào đó.
2) Nhóm yếu tố mang tính chất xã hội
Các nhóm tiêu biểu: là những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến thái độ
hay hành vi của con người.
Những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp đến con người được gọi là những tập thể các
thành viên. Đó là những nhóm cá nhân, nằm trong đó tác động qua lại với chúng. Trong số
các tập thể có một số là tập thể cơ sở và sự tác động qua lại với chúng mang tính chất khá
thường xuyên, Đó là gia đình, bạn bè, láng giềng và đồng nghiệp. Ngoài ra, con người còn
thuộc về một số các tác động tập thể thứ cấp, thường mang tính chất hình thức hơn và tác
động qua lại với chúng không mang tính chất thường xuyên như giáo hội, nghiệp đoàn và
công đoàn.
Hành vi khách hàng
Gia đình: Các thành viên trong gia đình có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của
người mua. Người dạy bảo trong gia đình là bố mẹ. Con người được cha mẹ dạy bảo về tôn
giáo, chính trị, kinh tế, danh dự, lòng tự trọng và tình yêu. Ngay cả khi người mua không
còn tác động qua lại chặt chẽ với cha mẹ thì ảnh hưởng của họ đối với hành vi không ý thức
được của anh ta có thể vẫn rất đáng kể.
Vai trò và địa vị: Cá nhân là một thành viên của rất nhiều các nhóm của xã hội. Vị trí
của họ trong mỗi nhóm đó có thể xác định theo vai trò và địa vị. Vai trò là một tập hợp
những hành động mà những người xung quanh chờ đợi ở người đó. Mỗi vai trò có một địa
vị nhất định phản ánh mức độ đánh giá tốt về nó của xã hội.
3) Nhóm yếu tố mang tính chất cá nhân
với việc phân tích người tiêu dùng và chiến lược Marketing.
Lý thuyết động cơ của A.Maslow đã tìm cách giải thích tại sao ở những thời điểm
khác nhau, người ta bị thôi thúc bởi những nhu cầu khác nhau. Tại sao con người giành ra
nhiều thời gian và sức lực để đảm bảo an toàn cá nhân, có người lại cố gắng giành được sự
kính trọng của những người xung quanh? Ông cho rằng nhu cầu của con người sắp xếp theo
thứ bậc, từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết hơn. Theo thứ tự tầm quan trọng các nhu cầu đó
được sắp xếp như sau: Những nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu
được tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định mình. Con người sẽ cố gắng thỏa mãn trước hết là
những nhu cầu quan trọng nhất. Khi con người đã thỏa mãn được một nhu cầu quan trọng
nào đó thì nó sẽ không còn là động cơ hiện thời nữa và người ta lại có thỏa mãn những nhu
cầu quan trọng nhất tiếp theo.
Hành vi khách hàng
Hình 5: Tháp nhu cầu của A. Maslow
Tri giác: Một người có động cơ luôn sẵn sàng hành động. tính chất hành động của
người đó tùy thuộc vào chỗ người đó nhận thức tình huống như thế nào. Hai người khác
nhau có động cơ giống nhau, ở trong một tình huống khách quan có thể hành động khác
nhau, bởi vì họ nhận thức tình huống đó một cách khác nhau.
Lĩnh hội: là những biến đổi nhất định diễn ra trong hành vi của các thể dưới ảnh
hưởng của kinh nghiệm mà họ tích lũy được. Hành vi của con người chủ yếu là do tự mình
tiếp nhận được, túc là lĩnh hội. Các nhà lý luận cho rằng lĩnh hội là kết quả của sự tác động
qua lại của sự thôi thúc, các tác nhân kích thích mạnh và yếu, nhũng phản ứng đáp trả và sự
củng cố.
Niềm tin và thái độ: Niềm tin là sự nhận định trong thâm tâm về một cái gì đó. Thông
qua hành động và sự lĩnh hội, con người có nềm tin và thái độ, đến luợt chúng lại có ảnh
hưởng tới hành vi tiêu dùng của con người.
1.2. Điện thoại Smartphone
1.2.1. Khái niệm điện thoại Smartphone là gì?
Smartphone, hay còn gọi là điện thoại thông minh, là sự kết hợp của một chiếc điện
thoại và một PDA. Smartphone ưu việt hơn điện thoại thông thường ở chỗ nó được tích hợp
thêm các tính năng văn phòng hỗ trợ người dùng. Ngoài ra, nếu so với PDA phone thì