MỞ ĐẦU
Giao dịch dân sự là một trong những phương tiện hữu hiệu cho các chủ thể
xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt,
tiêu dùng hay trong sản xuất, kinh doanh. . . Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều
giao dịch dân sự bị tuyên là vô hiệu, việc tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết
hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vô hiệu vẫn là vấn đề phức tạp mà ngành Tòa
án đang gặp phải. Do đó trong phạm vi bài tập nhóm, chúng em xin lựa chọn đề tài
“ Tìm hiểu về hai vụ việc giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo “để tìm hiểu rõ hơn.
NỘI DUNG
A.Một số vấn đề lý luận về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
I. Một số khái niệm liên quan
1.Giao dịch dân sự
“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. (Điều 121 BLDS năm
2005)
2.Giao dịch dân sự vô hiệu
Theo Điều 127 Bộ luật dân sự quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu là giao
dịch dân sự không có một trong các điều kiện quy định ở Điều 122- BLDS”. Cụ
thể:
- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự.
- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội.
- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
- Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
trong trường hợp pháp luật có quy định.
3. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:
Theo quy định tại Điều 129 BLDS “ Khi các bên xác lập giao dịch dân sự
một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao tịch giả tạo vô hiệu,
còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô
hiệu theo quy định của Bộ luật này.
Trong trường hợp xác định giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị Kim Liên, sinh năm 1961. Trú tại 253/73 Nam Kỳ Khởi Nghĩa,
phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
2. Ông Nguyễn Trung Oanh, sinh năm 1954. Trú tại 120/43/29 Trần Hưng
Đạo, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin
vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Sỹ Thế, sinh năm 1968. Trú tại 345/24B Tân Kỳ Tân Quý,
phường Tân Quý, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung vụ việc:
2
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Đính trình bày: Qua quảng cáo, bà Đính
có đến địa chỉ số 429 Hai Bà Trưng, phường 8, quận 3 thành phố Hồ Chí Minh
gặp ông Lộc và thỏa thuận mua chiếc xe gắn máy hiệu Astrea biển số 50LI-5676,
số máy 1104613, số khung NDI3004714 với giá 18.700.000 đồng. Ông Lộc có lập
giấy bán xe có chính quyền địa phương xác nhận và giao giấy chứng nhận đăng kí
xe do ông Nguyễn Hữu Long đứng tên để bà Đính đi đăng bộ.
Ngày 21/09/2000 bà Đính đem xe đi sang tên nhưng Phòng cảnh sát giao
thông đường bộ không chấp nhận cho đăng bộ. Ngày 05/02/2002 Phòng cảnh sát
giao thông đường bộ thành phố Hồ Chí Minh ra thông báo số 3314/CV/PC 26 báo
cho bà Đính biết số khung số máy của xe này bị đục, lại là xe gian, không giải
quyết đăng kí. Ngày 04/08/2003 xe bị Công an thành phố Hồ Chí Minh tịch thu
nên bà Đính nộp đơn khởi kiện ông Long là người đứng tên trên giấy tờ xe, hợp
đồng mua bán xe và ông Lộc là người bán xe phải liên đới trả cho bà Đính toàn bộ
tiền mua xe là 18.700.000. Bà Đính không yêu cầu tính lãi đối với tiền mua xe.
Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Hữu Long trình bày: ông không quen biết bà Đính. Vào năm
1993 ông có mua trả góp chiếc xe Astrea biển số 50LI-5676 tại cửa hàng
bán xe gắn máy ( hiện nay cửa hàng không ở địa chỉ cũ ông không tìm ra).
Cửa hàng làm giấy tờ sở hữu xe cho ông, đến năm 1994 ông Long đã bán xe
có làm giấy mua bán tay cho một người tên Dũng ( không rõ lai lịch ).
1998 gia đình ông mua xe với một người không quen bán với giá
22.000.000 đồng, lúc mua bán có làm giấy tờ tay, người bán giao xe và giấy
đăng kí xe. Khi đổi xe cho ông Oanh, ông có đến gặp ông Long để làm giấy
mua bán xe có giấy chứng nhận của chính quyền địa phương cho ông Oanh.
Giải quyết của Tòa án:
Tại bản án sơ thẩm số 51/2007/DS-ST ngày 24/05/2007 của Tòa án nhân dân quận
8 quyết định: giao dịch mua bán giữa ông Nguyễn Hữu Long với bà Nguyễn Thị
Kim Đính là hợp đồng giả tạo nên vô hiệu. Giao dịch giữa ông Vũ Đình Lộc với
bà Nguyễn Thị Kim Đính cũng không hợp lệ vì ông Lộc chỉ là người được bà Liên
nhờ bán xe giùm, do đó hợp đồng này cũng vô hiệu.
Nên đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Đính xác định hai
hợp đồng mua bán xe gắn máy ngày 9/9/2000 giữa ông Vũ Đình Lộc và bà
Nguyễn Thị Kim Đính; giữa ông Nguyễn Hữu Long và bà Nguyễn Thị Kim
Đính là vô hiệu.
2. Buộc bà Lê Thị Kim Liên trả cho bà Đính số tiền 11.220.000 đồng ( mười
một triệu hai trăm hai mươi ngàn đồng ) và ông Nguyễn Hữu Long trả cho
bà Đính 3.740.000 đồng ( ba triệu bảy trăm bốn mươi ngàn đồng ) ngay
sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
4
Tuy nhiên: Ngày 04/06/2007 bà Nguyễn Thị Kim Đính có đơn kháng cáo. Ngày
04/06/2007 bà Lê Thị Kim Liên có đơn kháng cáo. Ngày 28/05/2007 ông Nguyễn
Hữu Long có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại bản án phúc thẩm :Căn cứ khoản 2 Điều 132; Điều 263; khoản 1 Điều 275;
Điều 279 BLTTDS.
Quyết định: sửa bản án sơ thẩm
1. Xác định hợp đồng mua bán xe gắn máy ngày 09/09/2000 giữa ông Vũ
Đình Lộc và bà Nguyễn Thị Kim Đính; hợp đồng giữa ông Nguyễn Thế Sỹ
và ông Nguyễn Trung Oanh; hợp đồng giữa ông Nguyễn Trung Oanh với bà
Lê Thị Kim Liên là vô hiệu.
Thị Kim Đính, bị đơn Nguyễn Hữu Long và người có quyền, nghĩa vụ liên quan
Lê Thị Kim Liên nên tòa án thành phố xét xử phúc thẩm là đúng thẩm quyền và
hợp lí vì căn cứ vào khoản 2 Điều 132, Điều 263, khoản 1 Điều 275, Điều 279 Bộ
luật TTDS.
Thứ ba, Về quyết định của tòa xét xử phúc thẩm xác định giao dịch mua bán
xe gắn máy giữa ông Long với bà Đính là hợp đồng giả tạo nên vô hiệu và giao
dịch giữa ông Lộc với bà Đính; hợp đồng giữa ông Sỹ với ông Oanh; hợp đồng
giữa ông Oanh và bà Liên cũng vô hiệu là đúng.
- xét kháng cáo của bà Đính: ngày 09/09/2000, bà mua xe ASTREA biển số 50L1-
5676, số sườn ND.130-04714, số máy NED-1104613. Ngày 21/09/2001 bà đóng
thuế trước bạ, sau đó làm thủ tục sang tên theo quy định. Khi làm thủ tục, phòng
CSGT nghi xe bị đục số, đã ra quyết định trưng cầu giám định số 2449 ngày
08/11/2000. Ngày 13/11/2000, Tổ chức giám định KTHS công an thành phố HCM
đã kết luận số xe máy trước giám định là NDE-1104613, số máy sau giám định đã
bị thay đổi thành C.100MNE-0062078. Do đó việc mua xe của bà Đính là ngay
tình, vì sau khi mua xe, bà đã tiến hành sang tên theo đúng thủ tục. Hơn nữa xe
của bà lại có sự thay đổi số xe, cấp sơ thẩm xác định bà Đính có lỗi là không đúng.
- Theo lời khai của ông Long và qua quá trình tìm hiểu, xem xét vụ án, cấp
sơ thẩm xác định ông Long có lỗi là có căn cứ, bởi: ông Long là người đứng tên
xe; 1994, ông bán xe cho ông Dũng, ông đã không thực hiện nghĩa vụ làm thủ tục
sang tên cho người mua ; ngày 09/09/2000, ông lại kí giấy bán xe lần 2 cho bà
Đính. Đối với giao dịch dân sự giữa ông Long với bà Kim Đính là giao dịch dân
sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch giữa bà Liên với bà Kim Đính theo Điều 138
BLDS năm 1995: Điều 138. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo: “Khi các bên
xác lập giao dịch dân sự “
- về phía ông Lộc, cấp sơ thẩm xác định ông không phải có trách nhiệm bồi
thường là có căn cứ bởi ông Lộc chỉ là người được bà Liên nhờ bán xe giúp, tiền
cũng giao cho bà Liên và có cả giấy cam kết chịu trách nhiệm về tình trạng trách
nhiệm của xe. . Ông Lộc không có quyền đại diện để giao kết hợp đồng mua bán
6
giao dịch vô hiệu do giả tạo.
II.Vụ việc thứ hai
1.Tóm tắt vụ án.
7
Nguyên đơn: Ông Lê Quang Tân, sinh năm 1939; trú tại Phú Mỹ Hưng,
phường Tân phong, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Như Hiếu và bà Đỗ Minh Ánh, các
luật sư của văn phòng luật sư Diệp-Nguyễn và cộng sự.
Bị đơn: Ông Trần Anh Tuấn, sinh năm 1969; trú tại Villa 26, khu biệt thự bán
đảo Tây Hồ, số 10, Đặng Thai Mai, phương Quản An, quận Tây Hồ, thành phố Hà
Nội. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Hoàng Hữu Bút,
luật sư của Văn phòng luật sư Đỗ Cao Thắng, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp
quốc doanh, tên giao dịch là VPBank; trụ sở tại số 8 Lê Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm,
thành phố Hà Nội; Đại diện là ông Hoàng Anh Tuấn.
Nội dung vụ việc:
Ngày 18/5/2004. ông Lê Quang Tân và Ông Trần Anh Tuấn ký hợp đồng mua
bán cổ phiếu với nội dung: Ông Tân đồng ý bán cho ông Tuấn 100 cổ phiếu
VPBank có tổng mệnh giá 1 tỷ đồng. Giá mua bán 100 cổ phiếu bằng mệnh giá cổ
phiếu + 150 triệu đồng. Thời hạn thanh toán chia làm hai phần. Phần trả ngay 150
triệu đồng. Phần trả chậm là 1 tỷ đồng được trả dần đến hết 31/12/2005. Khi hợp
đồng có hiệu lực, ông Tân sẽ giao ngay cho ông Tuấn đầy đủ 1 lần 100 cổ phiếu.
Ngày 20/5/2004, hai bên ký “Biên bản giao nhận và chuyển quyền sở hữu cổ
phiếu VPBank”. Theo đó hai bên xác nhận kể từ khi ký biên bản thì ông Tân đã
giao và chuyển quyền sở hữu cho ông Tuân 100 cổ phiếu VPBank.
Ngày 15/6/2004, hai bên tiếp tục ký Hợp đồng mua bán cổ phiếu, theo đó ông
Tân và ông Tuấn đồng ý chuyển nhượng cho nhau số lượng 100 cổ phiếu VPBank,
đồng thời hai bên cũng ký “Biên bản giao nhận và chuyển quyền sở hữu cổ phiếu
VPBank” với nội dung xác nhận quyền sở hữu cổ phiếu VPBank của ông Tuấn kể
từ khi ký biên bản.
chuyển nhượng dưới bất kỳ hình thức nào). Đến năm 2004 thì từ khi được sự chấp
thuận của Ngân hang nhà nước Việt Nam về biện pháp giảm vốn điều lệ thì ông
Tân đã không có 200 cổ phiếu nữa mà chỉ còn sở hữu tài khoản 2 tỷ đồng “treo”
tại Ngân hàng VPBank cho đến khi ông Tân đề nghị được khấu trừ vào khoản nợ
của công ty FINEXIM tại Ngân hàng VPBank.
Quyết định của Tòa án
Tại bản án sơ thẩm số 141/2011/KDTM-ST ngày 6-9-2011, Tòa án nhân dân
thành phố HN căn cứ vào các điều 5, 29, 131, 245 và 250 của Bộ luật tố tụng dân
sự quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang Tân đối với
ông Trần Anh Tuấn về tranh chấp 2 hợp đồng mua bán cổ phiếu ngày 18/5/2004
9
và 15/6/2004. Ngày 12/9/2011 nguyên đơn là ông Lê Quang Tân kháng cáo toàn
bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Tại bản án phúc thẩm số 129/KDTM-PT ngày 7 tháng 11 năm 2011, quyết
định:
- Sửa bản án sơ thẩm: áp dụng các Điều 122, 127, 129, 137, 402, 410 và 411
của BLTTDS tuyên bố hợp đồng mua bán cổ phiếu ngày 18/5/2004 và Hợp đồng
mua bán cổ phiếu ngày 15/6/2004 giữa ông Tân và ông Tuấn vô hiệu do giả tọa kể
từ thời điểm xác lập.
- Không buộc ông Tân phải hoàn trả ông Tuấn số tiền 300 triệu đồng cùng các
khoản lãi phát sinh từ số tiền này.
- Về số tiền 2 tỷ đồng của ông Tân đã khấu trừ cho khoản nợ của công ty
FINEXIM thuộc nghĩa vụ của ông Tuấn tại Ngân hàng VPBank do ông Tân và
ông Tuấn tự giải quyết với nhau.
2, Quan điểm và nhận xét của nhóm
Do vụ việc xảy ra tranh chấp vào năm 2008 cho nên các quyết định của tòa
án và quan điểm của nhóm có liên quan đến bộ luật TTDS đều áp dụng BLTTDS
2004.
Chúng em đồng ý với quyết định của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội vì những
lí do sau:
Vì vậy, có đủ cơ sở cho rằng việc ông Tân và Ông Tuấn kí các hơp đồng mua
bán cổ phiếu với nhau thực chất chỉ là việc làm giả tạo nhằm che giấu việc thực
hiện một giao dịch dân sự khác, đó là giao dịch đảm bảo cho khoản nợ của công ty
FINEXIM thuộc nghĩa vụ của bị đơn tại ngân hàng VPBank ( thuộc nghĩa vụ của
ông Trần Anh Tuấn. Cho nên, Giữa nguyên đơn và bị đơn là giao dịch dân sự vô
hiệu do giả tạo ngay từ khi hai bên đăng kí các hợp đồng này.
Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm cũng xác định vào các thời điểm hai bên giao dịch
không còn cổ phiếu để mua bán, nhưng lại cho rằng các hợp đồng không thực hiện
được là do hai bên không tuân thủ điều kiện về “ Hiệu lực của Hợp đồng” được
quy định tại Điều 4 của các hợp đồng đãlý và giải quyết hậu quả pháp lý khi giao
dịch dân sự vô hiệu là không đúng với quy định của pháp luật.
+ Thứ hai, về việc áp dụng những quy dịnh của pháp luật.
Tại bản án sơ thẩm số 141 /2011/KDTM- ST ngày 6 tháng 9 năm 2011, Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội căn cứ các điều 5, 29, 131, 245, 250 của Bộ luật tố
tụng dân sự, Điều 134 của Bộ luật dân sự năm 1995 và nghị quyết số 45/ 2005/
QH11 ngày 14/6/20005 ; quyết định không chấp nhậm yêu cầu khởi kiện của ông
Lê Quang Tân đối với ông Trần Anh Tuấn về việc tranh chấp 2 hợp đồng mua bán
cổ phiếu kí ngày 18 tháng 5 năm 2004 và ngày 15 tháng 6 năm 2004.
11
Nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là ông Lê Quang Tân vẫn giữu
nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, buộc ông Trần
Anh tuấn phải trả cho ông các khoản tiền theo nội dung thỏa thuận tại 02 hợp đồng
mà mua bán cổ phiếu hai bên đã kí. Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét
xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện và nhận thấy nội dung thỏa thuân,cũng như nội
dung khiếu nại của nguyên đơn; thấy rằng toàn bộ nội dung khởi kiện; nội dung
kháng cáo cũng như các tài liệu xuất trình và lời trình bày cảu nguyên đơn tại
phiên tào sơ thẩm và phúc thẩm , đều chỉ yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là ông Trần
Anh Tuấn phải thực hiện các thỏa thuận của hai hợp đồng mua bán cổ phiếu đã kí.
Vì vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật, thì việc Tòa án phúc thẩm thụ lí cà
tòa phúc thẩm này, Đại diện theo ủy quyền của các bên bị đơn cũng đề nghị Tòa
án xem xét và quyết định ben bị đơn chấp nhận và không có ý kiến gì. Trong quá
trình giải quyết vụ án cả 2 bên không đề cập đến số tiền này và bên bị đơn cũng
không hề mong muốn yêu cầu trả lại số tiền này nên không bắt buộ nguyên đơn
phải trả lại số tiền 300 triệu và lãi suất phát phát sinh. Đối với số tiền 2 tỷ đồng
của ông Tân. Trên thực tế theo tài liệu do ông Tân và Ngân hàng VPBank xuất
trình trong quá trình giải quyết vụ án, thì có việc ông Tân sử dụng 2 tỷ ( số tiền trị
giá của 200 cổ phiếu) đang bị treo tại ngân hàng này để khấu trừ vào nợ gốc của
khoản vay ứng vốn ngoại tệ của công ty FINEXIM (thuộc nghĩa vụ của ông Tuấn),
Do đây vẫn là giao dịch hơp pháp nên tòa án cho ông Tân và ông Tuấn tự giải
quyết với nhau hoặc có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy
định của pháp luật và phù hợp.
Thứ 4, Về án phí :
Việc Tòa án cấp tại sơ thẩm bản án sơ thẩm số 141 /2011/KDTM- ST ngày 6
tháng 9 năm 2011 buộc ông Tân phải nộp án phí sơ thẩm là không đúng quy định
của pháp luật Vì toàn án đã căn cứ vào điều 131, khoản 3 điều 132 BLTTDS quy
định về nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm và phúc thẩm.
Tóm lại, những quyết định trên của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội là
hợp lý, chính xác và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.
III, Phương hướng hoàn thiện pháp luật và một số kiến nghị về giao dịch dân
sự vô hiệu do giả tạo.
Trong phạm vi đề tài về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, nhóm em xin đưa ra
một số quan điểm:
Thứ nhất, vấn đề khái niệm giao dịch giả tạo. Hiện nay, BLDS 2005 cũng
như các văn bản pháp luật hướng dẫn BLDS 2005 đều chưa quy định rõ ràng về
khái niệm thế nào là giao dịch dân sự do giả tạo. Có nên mặc nhiên hiểu yếu tố
này theo định nghĩa thông thường, hay theo cách lý giải của Từ điển Tiếng Việt
không? Điều 129 BLDS mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các trường hợp giao dịch
dân sự do giả tạo, mà không quy định rõ khái niệm giao dịch dân sự do giả tạo.
Bởi vậy, để pháp luật được thực thi một cách thống nhất, nên chăng cần có quy
còn giá trị chứng minh nữa. Đồng thời nếu quy định thời hiệu khởi kiện với giao
dịch xác lập do giả tạo có thể đưa đến sự mâu thuẫn với quy định tại Điều 247
BLDS nếu vào thời điểm xác lập giao dịch các bên không biết hành vi xác lập giao
dịch của mình là vi phạm pháp luật. Do vậy nhóm chúng em cho rằng thời hiệu
yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch do giả tạo vô hiệu cần được xác định bằng một
con số chính xác, cụ thể như đối với các giao dịch giả tạo có đối tượng là bất động
sản thì thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu là 30 năm và đối với các giao
dịch giả tạo có đối tượng là động sản thì thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô
hiệu là 20 năm, kể từ thời điểm xác lập giao dịch.
14
Thứ năm, Về vấn đề hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự (Điều 137 BLDS):
Việc xử lý tài sản trong giao dịch dân sự theo Khoản 2 Điều 137 là chưa phù hợp,
không những thế cách giải quyết nguyên tắc rất chung chung, không đảm bảo
được quyền lợi cho các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự. Tòa án chỉ có thể
áp dụng quy định: “khôi phục lại tình trạng ban đầu” theo đúng nghĩa trong
trường hợp đối tượng của giao dịch dân sự mà các bên chuyển giao còn giữ được
nguyên vẹn, chưa có sự biến đổi nào. Trong nhiều trường hợp tòa án không thể áp
dụng chế tài khôi phục lại tình trạng ban đầu theo đúng nghĩa khi mà đối tượng
giao dịch không còn nguyên vẹn. Bởi vậy, trong thực tiễn tòa án phải áp dụng chế
tài linh hoạt mà BLDS cho phép là “nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì
hoàn trả bằng tiền”, “bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”. Do đó có sự khác
nhau về phán quyết bồi thường của mỗi tòa không tạo được sự thống nhất, gây
hoang mang cho người dân. Nhóm cũng xin đưa ra đề xuất sửa đổi khoản 2 điều
137 như sau: “ trong giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng
ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng
hiện vật hoặc không khôi phục được tình trạng ban đầu thì phải hoàn trả bằng
tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo
quy định của pháp luật, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy việc giải quyết các vụ án xảy