Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức, thực tiễn áp dụng và kiến nghị - Pdf 20

1
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT
ĐỀ TÀI
GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
DO VI PHẠM ĐIỀU KIỆN VỀ HÌNH THỨC
GVHD: Th.S Châu Quốc An
Nhóm TH: Nhóm 2
Lớp: K11504
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
2
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương 1: Khái quát mở đầu
Chương 1: Khái quát chung về giao dịch dân sự
1. Khái niệm giao dịch dân sự
2. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
3. Giao dịch dân sự vô hiệu
3.1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu
3.2. Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu
3.3. Các trường hợp làm giao dịch dân sự vô hiệu
3.4. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
3.5. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
Chương 2: Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức
1. Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức
2. Thực tiễn áp dụng pháp luật
3. Một số kiến nghị để hoàn thiện
Kết luận

Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên
giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với mục đích
và động cơ nhất định.
2. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (GDDS) là một trong những nội dung cơ
bản, quyết định sự ổn định, tính hợp lý, tính hiệu quả của các giao dịch trong giao lưu dân
sự nói chung và trong hoạt động thương mại nói riêng. Nếu pháp luật không có những
quy định cụ thể, rành mạch sẽ làm cho các chủ thể hoang mang và không tự tin khi tham
gia GDDS, thương mại, gây ra những hậu quả khó lường đối với nền kinh tế – xã hội và
có thể tạo ra sự tùy tiện không đáng có trong quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể
có liên quan. Vì vậy, vấn đề về điều kiện có hiệu lực của GDDS cần phải được nghiên cứu
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
5
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
và xem xét, đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm mang lại sự ổn định và tạo đà phát triển
cho nền kinh tế.
Theo quy định tại Điều 122 BLDS 2005, một GDDS chỉ được coi là có hiệu lực khi
đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau: a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái
đạo đức xã hội; c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. 2. Hình thức GDDS là
điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.
3. Giao dịch dân sự vô hiệu:
3.1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu:
Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và
được nhà nước đảm bảo thực hiện. Một giao dịch hợp pháp phải tuân thủ ba điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự ( trong một số trường hợp cụ thể phải tuân thủ thêm điều
kiện về hình thức). Vì vậy về nguyên tắc giao dịch không tuân thủ một trong các điều kiện
có hiệu lực của giao dịch thì sẽ bị vô hiệu và cũng theo quy định tại Điều 127 BLDS, giao
dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 BLDS thì vô
hiệu.

vào ý chí của bên tham gia giao dịch.
Ví dụ : A và B mua bán một chiếc xe ô tô trên lãnh thổ Việt Nam và thanh toán bằng usd.
Giao dịch này sẽ vô hiệu vì: nội dung và mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật Việt
Nam là cấm thanh toán ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam.
Quy định này của BLDS 2005 tiến bộ hơn BLDS 1995 như sau: trước đây quy
định giao dịch dân sự có mục đích và nội dung không trái quy định của pháp luật thì nay
quy định không vi phạm điều cấm của pháp luật như vậy đã có sự mở rộng hơn, phù hợp
với nguyên tắc pháp luật là có thể thực hiện các hành vi mà pháp luật không cấm.
3.3.2. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:
Điều 129 BLDS quy định “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo
nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
7
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật
này”.
Ví dụ 1: A bán cho B một căn hộ, trên giấy tờ công chứng ghi rõ giá là 1 tỷ, nhưng thực
chất A đã bán cho B với giá là 1,2 tỷ. Như vậy hợp đồng công chứng sẽ bị vô hiệu do giả
tạo (che dấu hợp đồng thật).
“Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
thì giao dịch đó vô hiệu”.
Ví dụ 2: A ký hợp đồng bán nhà cho B là người chị ruột để tránh phải trả nợ cho C. Đây là
giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo và để trốn tránh nghĩa vụ với chủ thể khác. Do
đó, hợp đồng bán nhà giữa A và B sẽ vô hiệu.
Trong thực tế ta cần xác định đủ cả hai vế của quy định là có sự giả tạo và sự trốn tránh
nghĩa vụ. Nếu chỉ có một vế thì chưa thể quy kết giao dịch dân sự vô hiệu.
Ví dụ 3: Bà A vay nợ của B số tiền một tỷ đồng. Bà đã ký giấy vay nợ và đồng ý bán đứt
căn nhà cho B để trả nợ. Việc mau bán này chưa được thực hiên thì bà A lại bán căn nhà
này lại cho C( hợp đồng mua bán đã qua công chứng). Trong tình huống này hợp đồng
mua bán giữa A với C chưa hẳn bị vô iệu do giả tạo để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với

bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân
sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia
buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy
tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình”.
Ví dụ1: A bán cho ông B một bầy cừu. Trong bầy cừu có 30 con cụt đuôi. Trong đó
có 4 con cụt đuôi thuần chủng, còn lại do bị chặt-> hành vi cố ý (muốn có lừa dối thì phải
tồn tại hành vi cố ý).
Ví dụ 2:A không muốn bán xe cho B nhưng do B đe dọa nếu không bán thì sẽ bị
''no đòn'' nên A phải bán.
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
9
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
Lừa dối và nhầm lẫn đều là khiếm khuyết cuả sự thể hiện ý chí của các bên trong
giao kết hợp đồng và đều giống nhau ở chỗ cả hai đều liên quan đến việc trình bày một
cách trực tiếp hay gián tiếp về những sự việc không đúng sự thật. Song sự lừa dối khác
với nhầm lẫn ở chỗ: sự nhầm lẫn vốn do người ký kết hợp đồng tự mình hiểu sai còn sự
lừa dối là sự hiểu sai do đối phương gây ra. Sự phân biệt lừa dối và nhầm lẫn được xác
định bởi tính chất và mục đích của việc trình bày gian lận của một bên.
Để có thể xem xét một hành vi có phải là sự lừa dối trong giao kết hợp đồng hay
không người ta căn cứ vào các yếu tố sau đây:
 Một là, phải có sự cố ý đưa thông tin sai lệch hoặc bỏ qua sự thật của một bên.
 Hai là, người nghe phải không biết đến sự sai lệch đó.
 Ba là, người nghe đã tin vào sự sai lệch do một bên đưa ra mà giao kết hợp đồng.
 Và bốn là, phải có thiệt hại xảy ra.
3.3.5. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng
lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác
lập:
Điều 130 BLDS quy định: “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người
mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực

quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời
hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”.
Ví dụ: : ông A bán nhà cho ông B. Luật qui định việc mua bán nhà phải được lập
thành hợp đồng (văn bản), có công chứng. Do vậy, nếu ông A và ông B chỉ mua bán
“miệng” với nhau hoặc làm “giấy tay” về việc mua bán thì giao dịch mua bán nhà giữa
hai bên xem như chưa/không có hiệu lực pháp luật (hay còn gọi là giao dịch dân sự vô
hiệu).
3.4. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
11
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
Theo Điều 137 BLDS thì hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là:
 Giao dịch dân sự đó không làm phát sinh bất cứ quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự
nào cho các chủ thể tham gia xác lập giao dịch dân sự.
Như vậy khi giao dịch vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ của các bên không được pháp
luật thừa nhận và bảo vệ. Nếu hợp đồng mới xác lập và chưa được thực hiện thì các bên
không được phép thực hiện, còn trường hợp đang thực hiện thì không được tiếp tục thực
hiện nữa, nếu hợp đồng đã thực hiện thì các bên xử lý tài sản.
 Khi giao dịch vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu; nếu không hoàn
trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền.
 Bên có lỗi trong giao dịch dân sự vô hiệu phải bồi thường thiệt hại cho bên kia
nhưng nếu cả hai bên đều có lỗi thì các bên không phải bồi thường cho nhau.
Vd: Ông A không phải chủ sở hữu một vật nhưng lại bán vật đó cho ông B nên hợp
đồng vô hiệu. Ông B phải trả lại vật đó cho chủ sở hữu nên có quyền yêu cầu ông A bồi
thường thiệt hại do không được sở hữu vật mua. Tuy nhiên, nếu ông B biết ông A không
phải là chủ sở hữu mà vẫn mua thì không được đòi bồi thường thiệt hại.
 Tài sản giao dịch vô hiệu cũng có thể bị tịch thu.
Vd. Tài sản giao dịch là chất ma túy hoặc chất nổ, vật liệu nổ mà nhà nước cấm mua bán,
vv
3.5. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự

BLDS , chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản khi chứng minh được đó là tài sản của mình.
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
13
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
Chương 2: Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức
1. Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức:
Hình thức của giao dịch dân sự là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hình thức
nhất định của các chủ thể. Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta có thể biết được
nội dung của giao dịch đã xác lập. Hình thức của giao dịch dân sự có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã và đang tồn tại giữa
các bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có vi phạm xảy ra.
Điều 124 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời
nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện
điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản. Trong
trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải thể hiện bằng văn bản, phải có công
chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó”.
Tuỳ theo tính chất của đối tượng giao dịch và nhu cầu quản lý của nhà nước mà pháp
luật dân sự có những yêu cầu khác nhau về hình thức của giao dịch. Đối với các giao dịch
đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần hàng ngày của cuộc sống và thông thường giá
trị tài sản không lớn, giao dịch này thường được thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó,
thì chỉ cần các bên thể hiện bằng lời nói, có sự tự nguyện, thống nhất ý chí của các bên là
giao dịch đó có hiệu lực.
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
14
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
Ví dụ: B đến cửa hàng A để mua 10 thùng sữa, sau khi A giao sữa cho B thì B trả đủ
tiền cho A. giao dịch này coi như chấm dứt. A không thể tiếp tục đòi B trả tiền sữa và B
cũng không thể yêu cầu A giao thêm sữa nữa.
Tuy nhiên, có loại giao dịch không đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí của hai bên mà
chỉ cần 1 bên bày tỏ ý chí bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể ví dụ như viết di chúc.

• Tòa án hoặc cơ quan nhà nước ó thẩm quyền đã có quyết định bắt buộc các
bên thực hiên quy định về hình thức trong một tời hanjmaf các bên không
thực hiện.
• Việc yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm quy định về
hình thức phải được thực iện trong thời hiệu la 2 năm.
2. Thực tiễn áp dụng pháp luật:
Việc đưa ra hình thức bắt buộc đối với một số loại giao dịch là nhằm mục đích lưu ý
các bên cần thận trọng hơn khi giao kết kinh doanh và nhằm đảm bảo tính rõ ràng của
việc tồn tại các giao dịch kinh doanh, quyền và nghĩa vụ cũng như đặc điểm của quan hệ
pháp luật kinh doanh.
Bill Gates, trong một lần phỏng vấn các ứng viên thi tuyển vào Microsoft, đã đặt câu
hỏi: “Theo các bạn, đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của các hoạt động kinh
doanh ngày nay?”. Một ứng viên đã trả lời: “Đó là tính chặt chẽ của hợp đồng”. Nhiều
người khi đó đã nghi ngờ sự nghiêm túc trong câu trả lời của ứng viên này, chỉ duy nhất
Bill Gates là không nghĩ như vậy. Ông đã cho ứng viên này điểm tối đa.
Trên thương trường, bất kể hoạt động kinh doanh nào của bạn với đối tác bên ngoài
cũng đều được thể hiện thông qua hợp đồng (hợp đồng là một hình thức của giao dịch dân
sự). Đây chính là ràng buộc pháp lý về nghĩa vụ của các bên trong kinh doanh. Khá nhiều
các tranh chấp kinh doanh ngày nay đều xuất phát từ những bất cập của hợp đồng. Nhiều
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
16
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
công ty, tập đoàn lớn trên toàn thế giới đã tổ chức bộ phận pháp lý riêng để xem xét, đánh
giá và tư vấn cho mình trước khi ký kết các hợp đồng. Nhiều chuyên gia kinh tế từng đặt
câu hỏi: Đâu là yếu tố quan trọng nhất của một thương vụ làm ăn? Phần lớn câu trả lời
nhận được là: tính chặt chẽ và hình thức của hợp đồng.
Tại Ford, một trong những hãng sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới, bên cạnh hàng
nghìn các hợp đồng mua bán xe hơi mỗi ngày, hãng còn tham gia vào rất nhiều giao dịch
kinh doanh khác như đầu tư, phân phối, mua nguyên vật liệu… John Mene, cố vấn pháp
luật của Ford, cho biết: “Trung bình mỗi ngày, các giám đốc, trưởng phòng ban của hãng

kết hợp đồng. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn pháp luật trong các giao dịch hợp đồng giữa
các bên, cũng như để bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích kinh doanh đối với một số loại
hợp đồng pháp luật đòi hỏi người chịu trách nhiệm ở công ty giao kết hợp đồng phải tuân
theo những hình thức nhất định, ngược lại, hợp đồng đó sẽ không có hiệu lực. Vì thế, yếu
tố hình thức hợp đồng kinh doanh và ảnh hưởng của nó đến hiệu lực của hợp đồng sẽ rất
quan trọng trong các hoạt động kinh doanh.
Trên thực tế đã phát sinh rất nhiều tình huống dẫn đến giao dịch dân sự bị tuyên bố vô
hiệu. Dưới đây là một trong những tình huống cụ thể về giao dịch dân sự vô hiệu do vi
phạm các quy định bắt buộc về hình thức của giao dịch.
Tình huống 1:
Anh A mua 1 chiếc xe năm 2008,có giấy tờ sở hữu và không sử dụng nhiều. Năm
2009,do chán nên anh quyết định bán xe này đi. Anh nhờ 1 người cò xe B đến trao đổi, A
nói xe mình mới mua và quyết định giá c xe. Hôm sau,người cò dẫn chị C đến xem xe,sau
1 hồi trả giá thì anh A và chị C đã thống nhất giá, do chị C chỉ đem nửa tiền nên hai người
quyết định đi chứng thực giấy tờ mua bán rồi chiều hôm đó giao đủ tiền sẽ giao xe. B
nhận tiền cò nhưng không đủ như lúc trước cùng A thỏa thuận nên không vừa ý. Sau đó
đã mượn xe của A chạy và sinh lòng tham khi đó nên quyết định bán cho tiệm cầm đồ lấy
tiền. Chủ tiệm cầm đồ là D có một người bạn thân E và hôm nay là sinh nhật con gái,E
không biết tặng gì cho con cả, E tâm sự với D và được D chia sẻ là mới mua 1 chiếc xe
còn rất mới và hứa chia lại với giá mua vào.Con gái E đã rất vui vì phần quà đó. Hôm
sau,cô gái sử dụng xe lưu thông trên đường và gây tai nạn giao thông được đưa đi cấp
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
18
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
cứu. Về A và C,sau khi thấy B lấy xe đi không trở lại thì báo công an và hôm sau nhận
được tin cô gái lái chiếc xe đó đã gây tai nạn.
Tình huống đặt ra, giao dịch nào vô hiệu và giao dịch nào vẫn có hiệu lực. Trong tình
huống này phải xử lý chiếc xe như thế nào và trách nhiệm thuộc về ai?
Giải quyết tình huống:
Nhằm đảm bảo lợi ích công cộng, sự quản lý của nhà nước của nhà nước, lợi ích

luật.
Quan điểm thứ hai cho rằng các quy định tại Điều 122, khoản 2 Điều 124, Điều 127
Bộ luật Dân sự là những quy định chung, mang tính nguyên tắc, không nhất thiết hợp
đồng vi phạm điều kiện về hình thức là vô hiệu. Theo định nghĩa về giao dịch dân sự
được quy định tại Điều 121 Bộ luật Dân sự thì: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành
vi pháp lý đơn phương, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự”.
Như vậy, hợp đồng cũng là một loại giao dịch mà theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân
sự thì khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình
thức nhất định thì hai bên có thể thoả thuận chọn hình thức thể hiện của hợp đồng. Hợp
đồng có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, hoặc hình thức bằng văn bản hay bằng
hành vi cụ thể.Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng
văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo
quy định đó. Nhưng cũng chính tại đoạn hai khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự cũng đã
quy định: “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Vậy hiểu quy định này như thế nào? Nếu theo quan điểm một thì khi pháp luật đã quy
định một loại giao dịch nào đó phải tuân theo một hình thức nhất định mà vi phạm điều
kiện về hình thức đều vô hiệu thì quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự sẽ
trở thành vô nghĩa.
Quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự là sự cụ thể những quy định chung về điều kiện
hình thức của hợp đồng. Các tranh chấp về một hợp đồng cụ thể có liên quan đến hình
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
20
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
thức của hợp đồng là phải áp dụng Điều 401 mà đoạn 2 khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự
đã ghi rõ là “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác”. Như vậy, khi một hợp đồng có vi phạm về hình
thức thì Toà án tuyên bố tranh chấp hợp đồng có vi phạm về hình thức là vô hiệu và việc
tuyên bố hợp đồng vô hiệu không bị hạn chế về thời gian.
Các quy định nói trên cho thấy, mặc dù pháp luật có quy định một loại hợp đồng nào

thích điều khoản đó. Rõ ràng, ý chí chung của các bên được đánh giá cao hơn hình thức
biểu hiện ra bên ngoài. Ý chí của các bên được hiểu là ý chí được biểu hiện tại thời điểm
ký kết hợp đồng. Trong khi đó, nếu theo Điều 134 BLDS 2005 và Nghị quyết số 01/2003
thì pháp luật có vẻ như tôn trọng ý chí được biểu hiện sau thời điểm hợp đồng được ký
kết. Điều này có vẻ trái với lý thuyết về tự do ý chí cũng như nguyên tắc giải thích hợp
đồng.
Nếu trường hợp đương sự yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi phạm về
hình thức thì theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự, thời gian tuyên bố giao dịch dân
sự vô hiệu do vi phạm về hình thức chỉ có hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác
lập, quá thời hạn này đương sự mới yêu cầu thì Toà án không chấp nhận yêu cầu đó. Theo
quy định tại Điều 121 Bộ luật Dân sự thì giao dịch dân sự là hợp đồng dân sự, nên các vụ
án về hợp đồng dân sự đương nhiên áp dụng Điều 136 Bộ luật Dân sự, nếu một bên yêu
cầu Toà án tuyên bố hợp đồng mua bán nhà đất vô hiệu sau hai năm kể từ ngày xác lập
giao dịch thì Toà án bác yêu cầu của họ, công nhận hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, nếu
trong thời hạn hai năm một bên có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
về hình thức thì Toà án căn cứ Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2005 ra quyết định buộc các
bên thực hiện quy định về hình thức giao dịch trong thời hạn một tháng. Quá thời hạn đó
mà không thực hiện thì Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Quy định như vậy là không
hợp lý. Bởi lẽ, thứ nhất, ví dụ, sau khi ký hợp đồng mua bán nhà, người mua đã thanh
toán cho người bán toàn bộ hoặc phần lớn giá trị hợp đồng nhưng hợp đồng chưa được
công chứng thì giá trị căn nhà tăng nhiều lần và người bán không muốn bán. Trong trường
hợp này, chính người bán sẽ yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Hành vi của
người bán không thể được coi là trung thực. Rõ ràng, trong trường hợp này pháp luật
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
22
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
đứng về bên không trung thực, thiện chí; thứ hai, theo cách giải thích trên, hết thời hạn
hai năm kể từ ngày ký kết, hợp đồng nói trên mặc nhiên có giá trị pháp lý, nhưng người
bán lại không muốn hợp đồng được công chứng hoặc chứng thực vì không muốn bán nhà.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu hợp đồng mua bán nhà đất không có công

vợ chồng ông A và vợ chồng ông B phải thực hiện các thủ tục để hoàn thiện hình thức
hợp đồng mua bán căn nhà trong thời gian một tháng. Theo đó, vợ chồng ông A và vợ
chồng ông B phải đem hợp đồng mua bán căn nhà đi công chứng, chứng thực tại cơ quan
có thẩm quyền trong thời gian ấn định là một tháng. Tuy nhiên, vì muốn lấy lại căn nhà
nên vợ chồng ông A đã không làm việc này. Vì vậy, việc khắc phục vi phạm về hình thức
hợp đồng đã không thể thực hiện được, tòa án buộc phải tuyên bố hợp đồng vô hiệu và
xác định vợ chồng ông A là bên có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu.
Với nhận định đó, tòa án căn cứ vào điều 137, Bộ luật Dân sự 2005 buộc vợ chồng
ông B phải trả lại căn nhà cho vợ chồng ông A, đồng thời yêu cầu vợ chồng ông A trả lại
cho vợ chồng ông B tiền bán căn nhà đã nhận và phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho vợ
chồng ông B.
Quy định bắt buộc vợ chồng ông A và vợ chồng ông B thực hiện hình thức hợp đồng
trong một khoảng thời gian nhất định tỏ ra không đem lại kết quả như các nhà làm luật
mong đợi. Trước sự biến động của giá nhà đất, vì lợi ích vợ chồng ông A càng có động
lực để không tiếp tục thực hiện hợp đồng, muốn hợp đồng vô hiệu. Nguời ta sẵn sàng
chấp nhận việc bồi thường thiệt hại để đạt được mục đích vì biết rằng cái lợi sau đó có thể
bù đắp cho việc phải bồi thường.
Và khi đó, tòa án là nơi để họ lạm dụng đưa ra các yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu
với lý do hợp đồng chưa tuân thủ về mặt hình thức để họ đạt mục đích. Do phải tuân thủ
pháp luật, nên khi căn cứ vào các quy định hiện hành tuyên bố hợp đồng vô hiệu, tòa án
đã vô tình ủng hộ sự bội ước của vợ chồng ông A và không đạt được tôn chỉ hướng tới
công lý của tòa.
Các vấn đề nói trên chỉ có thể được giải quyết triệt để khi pháp luật cho phép Toà án ra
phán quyết công nhận hiệu lực của hợp đồng mà không cần phải công chứng, chứng thực
như pháp luật và thực tiễn của một số nước.
Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Vi Phạm Điều Kiện Về Hình Thức
24
GVHD: Th.S. Châu Quốc An K11504_Nhóm 2
Hình thức của giao dịch dân sự không những được pháp luật quy định, mà còn có thể
do các bên tự thoả thuận. Điều 122 BLDS chỉ quy định giao dịch vô hiệu khi vi phạm các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status