ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ KHÁNH
GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO LỪA DỐI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật Dân Sự
Mã số : 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phùng Trung Tập Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
1.2. Khái niệm về giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối 30
1.2.1 . Khái niệm lừa dối 30
1.2.2 . Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối 31
1.2.3. Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối 31
1.2.4 . Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối trong pháp luật dân sự
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 34
1.2.4.1. Giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối dưới thời nhà Lê và nhà Nguyễn 34
1.2.4.2. Giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối dưới thời Pháp thuộc 35
1.2.5. Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối trong pháp luật một số
nước trên thế giới 39
1.3. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối 44
Chương 2: GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO LỪA DỐI THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG 54
2.1. Thực trạng giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối theo các quy định hiện
hành của pháp luật Việt Nam 54
2.2. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối 59
2.3. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối 63
2.4. Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự
bị tuyên bố là vô hiệu 64
2.4.1. Nhận thức chung về người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô
hiệu do lừa dối 64
2.4.2. Điều kiện để xác định người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô
hiệu 65
2.4.3. Giải quyết hậu quả pháp lý giao dịch vô hiệu do lừa dối, khi có người
thứ ba ngay tình cần được bảo vệ 66
2.5. Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối
tại TAND 68
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO
2
2.2
Số liệu về án hợp đồng dân sự được giải
quyết ở cấp tỉnh
70 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của pháp luật khởi nguồn chính từ những nhu cầu thường
ngày của mỗi con người, là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích mọi thành viên
trong xã hội của Nhà nước. Nảy sinh từ nhu cầu sản xuất, nhu cầu kinh
doanh cũng như các nhu cầu khác, Nhà nước thấy cần thiết phải có những
hiệu do lừa dối là một trong những loại giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý
chí chủ thể gây nhiều tranh cãi và khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật
hiện nay.
Với tư cách là một người nghiên cứu pháp luật, chúng tôi thấy rằng cần
nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối
để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn
đề này. Việc xây dựng các quy định pháp lý về giao dịch dân sự vô hiệu do
lừa dối hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn không những là yêu cầu chính đáng
của người dân để họ bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình mà còn là điều
kiện để cơ quan nhà nước hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước
giao.
Xuất phát từ những lý do trên, việc tiến hành nghiên cứu một cách có
hệ thống về vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối là việc làm hết sức cần
thiết. Do đó, tác giá đã lựa chọn đề tài “Giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối
theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài tốt nghiệp cho chương trình đào tạo Cao
học Luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Chế định giao dịch dân sự vô hiệu đã được nhiều nhà khoa học pháp lý
quan tâm trong các thời kỳ dưới những góc độ khác nhau. Đã có nhiều công 3
trình nghiên cứu về giao dịch dân sự vô hiệu, trong đó có đề cập đến giao dịch
dân sự vô hiệu do lừa dối như các bài giảng trong giáo trình luật dân sự của
Trường Cao đẳng Kiểm sát, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học
Quốc gia, trong một số ấn phẩm như: Bình luận BLDS của Bộ Tư pháp và
trong một số bài viết của một số tác giả ở góc độ hẹp, đó là: TS. Bùi Đăng
Hiếu: Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối và giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt
đối. Trong bài viết này tác giả chủ yếu phân tích, so sánh và đưa ra sự khác
biệt chung thể hiện bản chất của khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu tương đối
dịch dân sự vô hiệu với hậu quả pháp lý đặc biệt. Luận văn thạc sỹ Luật học
của tác giả Bùi Thị Thu Huyền : “Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí
chủ thể” năm 2010 - ở công trình này tác giả chủ yếu nghiên cứu về các
trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí như hợp đồng vô hiệu
do giả tạo, do nhầm lẫn, do bị lừa dối, đe dọa…dựa trên các trường hợp giao
dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể. Luận văn Thạc sỹ Luật học
năm 2008 của tác giả Nguyễn Thị Nhàn : “Ý chí của chủ thể trong giao dịch
dân sự” chủ yếu nghiên cứu khái niệm ý chí chủ thể, các trường hợp vi phạm
ý chí chủ thể trong giao dịch dân sự, nguyên nhân và thực trạng tranh chấp về
giao dịch dân sự có vi phạm ý chí, tác giả cũng đề cập đến giao dịch dân sự
vô hiệu do lừa dối dưới tính cách là một giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm
ý chí của Nhà nước.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đây đã nêu và phân tích những
vấn đề có tính khái quát nhất về giao dịch dân sự trong Luật Dân sự, đưa ra
những điều kiện cơ bản về việc xác định giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết
hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu. Tuy nhiên, tất cả chỉ đề cập đến
vấn đề ở dạng khái quát và vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối chỉ là một
phần nhỏ trong các công trình này. Việc nghiên cứu hoàn chỉnh và cụ thể về giao
dịch dân sự vô hiệu do lừa dối chưa được khai thác một cách triệt để. 5
Bởi vậy tác giả cho rằng việc nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống
chi tiết về giao dịch dân sự do lừa dối theo quy định của BLDS 2005 và các
văn bản liên quan là cần thiết và không bị trùng lặp với các công trình khác đã
công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
a. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm ra các luận cứ khoa học và
thực tiễn, từ đó đề ra các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về
giá về hiệu quả của những quy định pháp luật hiện hành thông qua việc áp
dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước.
+ Đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật và các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Tác giả tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn xét xử về giao dịch
dân sự vô hiệu do lừa dối. Vấn đề này được tiếp cận theo chiều sâu và toàn
diện trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam và đặc biệt là quy định của
BLDS 2005. Tác giả có sự so sánh với luật nước ngoài về vấn đề nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
luật. Tác giả còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích,
tổng hợp, so sánh, điều tra, khảo sát …kết hợp giữa lý luận với thực tiễn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn làm rõ những vấn đề cơ bản của giao dịch dân sự vô hiệu do
lừa dối như khái niệm, đặc điểm giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối, thực
trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án về giao dịch dân sự 7
vô hiệu do lừa dối theo quy định tại BLDS 2005, thông qua đó, đưa ra những
kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.
Những đề xuất, kiến nghị của luận văn góp phần hoàn thiện các quy
định pháp luật dân sự về giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối, đặc biệt là trong
xu hướng đang sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLDS 2005. Kết quả
nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần nhỏ vào việc nhận thức sâu sắc về giao
dịch dân sự vô hiệu do lừa dối.
6. Kết cấu của luận văn
bên là thương nhân hoặc người giàu (người có nhiều của cải) và biện pháp
thông qua đó, thương nhân hoặc người có của tích lũy của cải cho mình [38,
tr. 5]. Trong cuộc sống hiện tại, giao dịch được xem là "công cụ" thông dụng
và có hiệu quả, bảo đảm cho các quan hệ dân sự được thực hiện trong hành
lang pháp lý an toàn nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự ngày càng phát triển.
Ngoài ra, giao dịch dân sự còn là phương tiện pháp lý quan trọng để
cho các công dân thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần trong sản xuất kinh
doanh cũng như sinh hoạt tiêu dùng. Do đó, vị trí, vai trò của giao dịch dân sự
ngày càng được khẳng định trong hệ thống pháp luật. Trong một xã hội phát
triển luôn luôn đặt ra nhu cầu phải hoàn thiện, phát triển chế định giao dịch.
Vì lẽ đó, mà ngay từ thế kỷ thứ XVIII, nhà triết học, xã hội học người Pháp 9
Plulur đã dự đoán: "Hợp đồng chiếm 9/10 dung lượng các bộ luật hiện hành,
và đến lúc nào đó tất cả các điều khoản của bộ luật, từ điều khoản thứ nhất
đến điều khoản cuối cùng đều quy định về hợp đồng".[42, tr.2]
Trên thế giới hiện nay, quá trình phát triển của chế định giao dịch ở
mỗi quốc gia tuy có những đặc thù riêng, nhưng cũng không nằm ngoài quỹ
đạo chung. Đó là: luôn nâng cao vị trí, vai trò của chế định giao dịch trong hệ
thống pháp luật, nhất là trong nền kinh tế thị trường, nơi mà mọi dịch vụ và
tài sản, hàng hóa phải được tự do chuyển dịch theo ý chí của các chủ thể và
chỉ bị can thiệp trong các trường hợp mà ở đó có sự giới hạn của pháp luật
hoặc có sự tranh chấp giữa các chủ thể. Chính vì thế mà vai trò của giao dịch
nói chung và giao dịch dân sự nói riêng càng được thể hiện lớn hơn và giữ
một vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc gia.
Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, các nhà khoa học pháp lý
cũng như các nhà lập pháp tiếp cận giao dịch dưới những góc độ khác nhau
mà đưa ra các chế định khác nhau về giao dịch, về những quy định chung của
giao dịch dân sự. Ví dụ, BLDS của nước Cộng hòa Pháp không đưa ra chế
lý đơn phương còn được quy định một phần trong phần hợp đồng dân sự như
hứa thưởng và thi có giải (mục 13) và một phần trong phần thứ tư (thừa kế) của
Bộ Luật.
Dưới góc độ khoa học, khái niệm giao dịch dân sự được các nhà
khoa học Việt Nam đề cập trong nhiều tài liệu với góc độ khác nhau. Theo
đó, “giao dịch dân sự là hành vi được thực hiện nhằm thu được kết quả nhất
định và pháp luật tạo điều kiện cho kết quả trở thành hiện thực” hay “ giao
dịch dân sự là một sự kiện pháp lý, bao gồm hành vi pháp lý đơn phương
hoặc đa phương (hợp đồng) làm phát sinh hậu quả pháp lý” [2, tr. 226]. Theo
từ điển Tiếng Việt giao dịch là có quan hệ gặp gỡ, tiếp xúc nhau. Trong quan
hệ dân sự, việc gặp gỡ, tiếp xúc nhau được diễn ra để thể hiện ý chí của các 11
bên trực tiếp và công khai. Cũng có quan điểm cho rằng giao dịch dân sự là
hành vi pháp lý hợp pháp biểu hiện ý chí của một hoặc nhiều người nhằm làm
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Như vậy, giao dịch
dân sự dù được nhìn nhận dưới góc độ nào cũng đều bao gồm hợp đồng dân
sự và hành vi pháp lý đơn phương.
Hợp đồng dân sự là một loại giao dịch phổ biến nhất, thông dụng nhất
nó phát sinh thường xuyên trong đời sống hàng ngày của chúng ta và giữ vị trí
vô cùng quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản, nhất là trong nền
kinh tế thị trường hiện nay. Hợp đồng là hình thức pháp lý thích hợp bảo đảm
cho việc vận động của hàng hóa và tiền tệ, chính vì lẽ đó mà pháp luật về hợp
đồng giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
"Pháp luật về hợp đồng được coi như hộ chiếu cho phép đi vào tất cả các lĩnh
vực. Về phương diện chính trị và pháp lý, hợp đồng là phương tiện pháp lý
cho phép các bên có thể phát triển trong xã hội, thậm chí không phụ thuộc vào
xã hội" [81, tr. 5]. Hợp đồng có thể diễn ra giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá
nhân với pháp nhân hay giữa các pháp nhân, tổ chức với nhau, các bên tự do
chấp nhận các điều khoản này trong hợp đồng, theo đó, nếu người lao động
chấp nhận các điều khoản này thì hợp đồng được giao kết, còn nếu không
chấp nhận thì không phát sinh hợp đồng. Hay như loại hợp đồng dịch vụ, các
Công ty cung cấp dịch vụ đã soạn thảo sẵn hợp đồng, trong đó có đầy đủ các
dữ kiện, như giá cả, loại dịch vụ cung cấp, thời gian địa điểm, chất lượng
còn người tiêu dùng nếu đồng ý ký vào, như vậy là hợp đồng đã được ký kết
mà không cần hai bên bàn bạc, thỏa thuận. Đối với các loại hợp đồng dân sự
theo mẫu này hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho
rằng, loại hợp đồng dịch vụ là phù hợp với thực tế, vì thông thường đối tượng
của hợp đồng là những dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của con
người, do Nhà nước quản lý, giao cho Công ty độc quyền đối với loại dịch vụ 13
này, có quyền ấn định giá cả, loại dịch vụ cung cấp, thời gian địa điểm, chất
lượng Ví dụ như: hợp đồng cung cấp điện, nước ở Việt Nam và đã được
Chính phủ xem xét và quyết định theo điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước,
có thể phải bán theo giá thấp hơn với giá trị thực của nó. Nhưng cũng có thể
bán theo giá cao hơn rất nhiều và bên sử dụng dịch vụ buộc phải chấp nhận
ký, vì đây là mặt hàng độc quyền. Có như vậy mới đảm bảo ổn định nền kinh
tế - xã hội của quốc gia và chấp nhận sự bất bình đẳng trong giao dịch. Quan
điểm này đã được sự đồng tình của phần lớn các nhà khoa học trên thế giới.
Tuy nhiên, có quan điểm khác lại cho rằng, để bảo vệ quyền lợi cho người sử
dụng dịch vụ, tránh hiện tượng gây bất bình đẳng trong giao dịch và độc
quyền, cần phải hạn chế sử dụng các loại hợp đồng này.
Một số quốc gia trên thế giới cho rằng pháp luật về hợp đồng dân sự là
bao gồm quy định mang tính nguyên tắc chung để điều chỉnh các loại hợp
đồng, còn luật thương mại được coi là luật chuyên biệt để điều chỉnh hợp
đồng thương mại. Ví dụ, ở Nhật Bản thì giao dịch dân sự có tính chất thương
mại giữa các thương gia sẽ do luật chuyên biệt điều chỉnh mặc dù về lý luận
đơn phương cũng đều nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lý nhất định, mà ở đây
là làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.
1.1.1.2. Đặc điểm của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý hợp pháp thể hiện ý chí của một
hoặc nhiều người nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự. Do đó, giao dịch dân sự có đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất: Phải thể hiện được ý chí của của các bên tham gia giao dịch.
Giao dịch dân sự đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi chủ
thể, nó diễn ra hàng ngày, hàng giờ không ngừng chi phối hoạt động của họ để
đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người. Khi tham gia vào giao dịch, các chủ thể
đều có đạt được mục đích nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh 15
doanh hoặc sinh hoạt, tiêu dùng. Để đạt được mục đích đó các chủ thể phải thể
hiện được ý chí của mình, "sự thể hiện ý chí là hành vi có ý chí nhằm thu một
kết quả nhất định và là yếu tố bắt buộc của giao dịch pháp lý" [1, tr. 131]. Như
vậy, tuy hành vi có ý chí nhưng không làm phát sinh hậu quả pháp lý hoặc
thậm chí trong trường hợp có làm phát sinh hậu quả pháp lý nhưng các bên lại
không mong muốn xảy ra thì hậu quả cũng không xảy ra. Cho nên muốn làm
phát sinh hậu quả pháp lý, thì sự thể hiện ý chí phải được diễn ra theo hình
thức nhất định, phù hợp với quy định của pháp luật.
Quan niệm về tự do ý chí trong giao dịch được hình thành và phát triển
mạnh mẽ trong khoa học pháp lý của Pháp từ thế kỷ thứ XVIII. Lúc đầu nó
được coi là nguyên tắc độc tôn ý chí. Nguyên tắc này cho phép các chủ thể
tham gia giao dịch (chủ yếu là hợp đồng), tự do thể hiện ý chí của mình
không bị phụ thuộc hoặc cản trở bởi bất kỳ một yếu tố nào khác, kể cả pháp
luật. Quy định này xuất phát từ những lợi ích cá nhân và cho rằng nếu để các
chủ thể tham gia vào giao dịch thì sẽ bảo đảm sự công bằng và bình đẳng của
các chủ thể. Khi giao dịch đã được xác lập thì không ai có quyền thay đổi,
cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Nhưng trong nhiều
trường hợp có nhiều chủ thể cùng tham gia khó có thể đạt được điểm trùng
nhau về ý chí và mục đích. Vì thế mà các bên tham gia giao dịch phải tự dàn
xếp với nhau để tiến tới các bên đều đạt được mục đích của mình và đi tới
cam kết để cùng nhau thực hiện. Nếu sự cam kết, thỏa thuận mà không phù
hợp với ý chí của các bên thì giao dịch dân sự không có giá trị pháp lý.
Nguyên tắc này đã tồn tại ở pháp luật của tất cả các nước trên thế giới. Ở Việt
Nam nguyên lý trên được ghi nhận hầu hết trong các văn bản pháp luật như:
BLDS, Luật kinh tế, Luật lao động
Mặc dù, trong giao dịch nguyên tắc cam kết, thỏa thuận phù hợp với ý
chí là một nguyên tắc bất biến, nhưng trong thực tiễn không phải hoàn toàn 17
lúc nào cũng như vậy. Vì trong nhiều lĩnh vực hoạt động nhất là lĩnh vực dịch
vụ các giao dịch được lặp đi, lặp lại giữa một chủ thể (bên cung cấp dịch vụ)
với nhiều chủ thể khác (bên nhận dịch vụ) với đối tượng phục vụ như nhau,
bên cung cấp dịch vụ thảo sẵn hợp đồng (gọi là hợp đồng theo mẫu) trong đó
quy định sẵn các điều khoản, còn bên nhận dịch vụ chỉ có quyền tự do chấp
nhận hợp đồng đó hay không, mà không có sự thỏa thuận để bày tỏ ý chí của
mình trong hợp đồng. Khi đã chấp nhận ký kết vào hợp đồng thì đương nhiên
buộc họ phải tuân theo toàn bộ các điều khoản trong hợp đồng. Ví dụ, như
hợp đồng tín dụng; hợp đồng vận chuyển hành khách; hợp đồng cung cấp
thông tin, điện, nước; các dịch vụ cung cấp hàng tiêu dùng
Như vậy, xét về mặt khách quan thì ý chí chung của giao dịch được thể
hiện, vì cả bên cung cấp dịch vụ và bên nhận dịch vụ đều mong muốn tham
gia vào quan hệ giao dịch, ở đây không có sự cưỡng ép, họ đều hoàn toàn tự
nguyện. Tuy nhiên, thực tế nhiều khi bên nhận dịch vụ gia nhập vào giao dịch
này là hoàn toàn miễn cưỡng vì không còn sự lựa chọn nào khác buộc phải
chấp nhận, không hề biết các điều khoản quy định sẵn đó bất lợi cho họ phải
dụng rất rộng rãi, tuy nhiên chưa có một tài liệu chính thống nào định nghĩa
cụ thể về thuật ngữ này. Ở Việt Nam để xác định giao dịch vô hiệu phải căn
cứ vào quy định tại Điều 122 BLDS 2005 và Điều 127 BLDS (giao dịch dân
sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của BLDS là
vô hiệu). Các điều kiện theo quy định tại Điều 122 là: người tham gia giao
dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao
dịch hoàn toàn tự nguyện; hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực
của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.
Giao dịch dân sự vô hiệu không phát sinh hậu quả pháp lý mà các bên
mong muốn. Đây là nguyên lý chung mà pháp luật các nước đều ghi nhận. 19
Trên thế giới hiện nay, phần lớn các nhà nhà lập pháp không đưa ra các khái
niệm chung về giao dịch vô hiệu mà chủ yếu đi sâu quy định các tiêu chí để
xác định một giao dịch vô hiệu. Ví dụ, tại Điều 113 BLDS và thương mại
Thái Lan quy định một hành vi pháp lý bị vô hiệu nếu mục tiêu của nó rõ ràng
bị pháp luật ngăn cấm hoặc không thể thực hiện được, hoặc trái với trật tự
công cộng hoặc trái với đạo đức.
Dưới góc độ nghiên cứu khoa học, mặc dù thuật ngữ giao dịch dân sự
vô hiệu được sử dụng rộng rãi, nhưng chưa thấy tài liệu nào nêu ra khái niệm
khoa học cụ thể. Để tìm đến một khái niệm hoàn chỉnh về giao dịch dân sự vô
hiệu, trước hết cần làm rõ vấn đề vô hiệu nói chung.
Vô hiệu theo nghĩa thông thường là "không có hiệu lực, không có hiệu
quả" [36, tr. 1083]. Như vậy, có thể suy ra là giao dịch dân sự vô hiệu là giao
dịch không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lý. Mặc
dù một giao dịch dân sự nào đó được xác lập, các bên có thể chưa thực hiện,
đang thực hiện hoặc đã thực hiện xong các quyền, nghĩa vụ như cam kết ,
nhưng khi xác định đó là giao dịch dân sự vô hiệu thì mọi cam kết (đang, đã thực