Hãy tìm hiểu 2 vụ việc có thật liên quan đến việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, thông qua giao dịch dân
sự (hợp đồng) các chủ thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu
khác trong đời sống hàng ngày. Bên cạnh nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thoả
thuận của các bên trong giao dịch, thì pháp luật cũng đặt ra một số những yêu cầu
tối thiểu buộc các chủ thể phải tuân theo, đó là các điều kiện có hiệu lực của giao
dịch. Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các
bên, đồng thời được Nhà nước đảm bảo thực hiện. Về nguyên tắc giao dịch không
tuân thủ một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì sẽ bị vô hiệu. Một
trong số đó là giao dịch dân sự bị vô hiệu do giả tạo.
Để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này, nhóm chúng em xin lựa chọn đề tài:
“Hãy tìm hiểu 2 vụ việc có thật liên quan đến việc tuyên bố giao dịch dân
sự vô hiệu do giả tạo”.
Do hiểu biết của chúng em còn nhiều hạn chế, bài viết có chỗ còn nhiều
thiếu sót. Mong thầy cô giúp đỡ để bài làm sau chúng em có thể làm hoàn thiện
hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG
I. Quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.
1. Giao dịch dân sự.
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. (Điều 121 BLDS năm 2005)
Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2

-1-


Giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch,
với những mục đích và động cơ nhất định.
Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là

Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2

-2-


giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu
lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.
Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với
người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”.
II. Những vụ án thực tế về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.
1. Vụ án thứ nhất:
1.1 Tóm tắt vụ án:
Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Thành Cường. Có trụ sở tại: 20
Thủ Khoa Nghĩa, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang; do ông Lâm
Chấn Cường có chức vụ giám đốc làm đại diện.
Bị đơn: Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I. Có trụ sở tại: khu phố I
Khánh Hội, thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; do bà
Ngô Thị Mai Hoa, chủ doanh nghiệp làm đại diện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Bùi Thị Ngọc Điệp, trú tại
50/3/15 đường Hòa Bình, phường 5, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.
Nội dung vụ việc:
Ngày 10-8-2003 giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn Thành Cường (gọi tắt là
bên A) do ông Lâm Chấn Cường, chức vụ Giám đốc làm đại diện và Doanh nghiệp
tư nhân Phương Nam I (gọi tắt là bên B) do bà Ngô Thị Mai Hoa, chủ doanh
nghiệp làm đại diện đã cùng nhau kí kết hợp đồng mua bán số 01-MV/PN-TC.
Ngày 15-11-2003 hai bên đã lập Bản đối chiếu giao nhận và thanh toán tiền hàng,
đại diện bên giao hàng là bà Bùi Thị Ngọc Điệp; đại diện bên nhận là ông Huỳnh
Văn Tài với nội dung là bên bán đã giao hàng cho bên mua: 633.000 kg mè vàng,
kèm theo 7 hóa đơn giá trị gia tăng (VAT) với tổng giá trị đã bao gồm thuế giá trị
Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2

Ngày 20-5-2005 Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I có đơn kháng cáo
toàn bộ bản án kinh tế sơ thẩm. Cùng trong ngày đó, bà Bùi Thị Ngọc Điệp có đơn
Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2

-4-


kháng cáo với nội dung bà đại diện cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Thành
Cường đã nhận đủ tiền mè 5.194.190.000 đồng của Doanh nghiệp tư nhân Phương
Nam I, bà là người trực tiếp thực hiện hợp đồng, còn ông Lâm Chấn Cường chỉ
đứng danh nghĩa kí kết hợp đồng kinh tế, xuất hóa đơn giá trị gia tăng, hưởng tiền
hoa hồng 52đ/kg và nhận tiền thuế 5%, tổng cộng 289.306.000 đồng.
Tại bản án kinh tế phúc thẩm số 58/2005/KTPT ngày 22-8-2005 Tòa phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: giữ
nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
1.2. Nhận xét phán quyết của tòa án.
Phán quyết tại bản án sơ thẩm số 08/KTST ngày 18/5/2005 và bản án kinh
tế phúc thẩm số 58/2005/KTPT ngày 22/8/2005 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân
tối cao tại TP. Hồ Chí Minh là không đúng, còn nhiều chỗ chưa hợp lí.
Giải thích: Những bất cập trong phán quyết:
Hướng giải quyết của các tòa án thiếu căn cứ vững chắc, còn nhiều chỗ chưa được
xác minh làm rõ nên đã có những quyết định không hợp lý, mang nhiều bất cập.
Thứ nhất: Tòa án nhân dân tỉnh An Giang chấp nhận thụ lí là sai phạm tố tụng
nghiêm trọng:
Theo quy định tại điểm e, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 17 Nghị định số
70/CP ngày 12–6-1997 của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì Công
ty trách nhiệm Thành Cường phải nộp tạm ứng án phí là 16.000.000 đồng; nhưng
ngày 01-11-2004 ông Lâm Chấn Cường nộp 1.000.000 đồng tạm ứng án phí, trên
hóa đơn số 01402 không có đóng dấu của cơ quan thi hành án tỉnh An Giang,
nhưng Tòa án nhân dân tỉnh An Giang vẫn chấp nhận thụ lí là sai phạm tố tụng

phương do ông Lâm Chấn Cường cung cấp là hoàn toàn không chính xác. Hợp
đồng mua bán số 01 - MV/PN - TC ngày 10/8/2003 giữa công ty TNHH Thành
Cường và doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I về việc mua bán mè vàng là
hợp đồng giả tạo để che giấu một giao dịch khác của công ty TNHH Thành

Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2

-6-


Cường là bán tư cách pháp nhân, bán hóa đơn giá trị gia tăng để hưởng hao
hồng với giá 52đ/kg đối với số mè vàng được ghi trong các hóa đơn, bởi lẽ :
- Tuy ông Cường đã kí hợp đồng và tự nhận là trực tiếp thực hiện hợp đồng,
nhưng lại không chứng minh được là đã trực tiếp giao hàng cho doanh nghiệp tư
nhân Phương Nam I. Trong khi đó, bà Bùi Thị Ngọc Điệp xuất trình đủ chứng cứ
để xác minh chính bà là người giao hàng cho doanh nghiêp tư nhân Phương Nam I.
- Tuy ông Cường kí kết hợp đồng mua bán với Doanh nghiệp tư nhân Phương
Nam I, nhưng ông này cũng không chứng minh được đã giao tiền cho bà Bùi Thị
Ngọc Điệp đi thu mua hàng để giao cho Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I.
Trong khi đó bà Điệp và Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I xác nhận là Doanh
nghiệp tư nhân Phương Nam I đã ứng trước tiền cho bà Điệp để thu mua hàng
( theo lời khai tại Tòa án, theo bản đối chiếu công nợ giữa bà Điệp và doanh
nghiệp tư nhân Phương Nam I ngày 15/11/2003 ).
- Các hóa đơn thu mua mè vàng do ông Cường xuất trình cho tòa án, để chứng
minh là ông Cường thực hiện hợp đồng, đều là những tài liệu giả dối. Do những
người đứng tên trong một số hóa đơn thu mua mè vàng do ông Lâm Chân Cường
xuất trình cho Tòa Án có xác nhận với nội dung họ chưa bao giờ mua bán mè vàng
với ông Lấm Chấn Cường. Đồng thời bên bị đơn có gửi văn bản có xác nhận của
chi cục thuế huyện Tân Châu, tỉnh An Giang (với sự tham gia của công an địa
phương) cho thấy các hóa đơn mà ông Cường xuất trình rằng ông là người thu mua

Công ty trách nhiệm hữu hạn Thành Cường với Doanh nghiệp tư nhân Phương
Nam I là hợp đồng hợp pháp, hủy hợp đồng này vì vô hiệu do giả tạo.
Việc mua bán mè vàng của bà Điệp cho Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam
I đã thực hiện xong, không có tranh chấp.
Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I không phải thanh toán cho công ty
TNHH Thành Cường số tiền 5.094.884000 đồng.
Bà Bùi Thị Ngọc Điệp không phải hoàn trả lại cho Doanh nghiệp tư nhân
Phương Nam I số tiền 5.094.884000 đồng.
Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2

-8-


1.4. Đánh giá các quy định có liên quan đã được áp dụng để giải quyết vụ án
trên.
Theo các tình tiết vụ án như đã phân tích ở trên, như vậy, trong vụ án này,
phải áp dụng theo các quy định tại Điều 3 Luật Thương mại, Điều 138 Bộ luật dân
sự 1995 ( điều 129 Bộ luật dân sự năm 2005), điểm c khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế , điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 2 Điều 247 Luật
Thương Mại năm 1997
Theo đó, hợp đồng mua bán số 01-MV/PN-TC ngày 10/8/2003 giữa Công ty
trách nhiệm hữu hạn Thành Cường và Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I là hợp
đồng mua bán hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại, áp dụng
điều 2, điều 241 Luật Thương mại bác bỏ đơn kiện của Công ty trách nhiệm hữu
hạn Thành Cường là hoàn toàn hợp lý, việc công ty này không thực hiện đúng theo
thủ tục khiến kiện, sai các quy định về thời hiệu khởi kiện nên đáng nhẽ đơn kiện
không được chấp nhận.
Mặt khác, theo các tình tiết vụ án và điều 129 Bộ luật dân sự năm 2005 (điều
138 Bộ luật dân sự năm 1995) thì hợp đồng giao dịch dân sự giữa công ty trách
nhiệm hữu hạn Thành Cường và Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I là hợp đồng

làm tờ khai lệ phí trước bạ, ngày 21-7-1999 bà Lượm đã nộp thuế trước bạ, ngày
04-8-1999 Phòng xây dựng của Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn đã ghi vào Giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của ông Đức, bà Hạnh, với
nội dung: "Nhà đã lập hợp đồng tặng cho theo đúng hiện trạng, không thay đổi,
diện tích xây dựng và diện tích sử dụng; Tên người nhận: Nguyễn Thị Lượm". Sau
khi lập hợp đồng tặng cho, vợ chồng ông Đức, bà Hạnh vẫn ở tại tầng lầu (tầng 2),
còn tầng trệt nhà 47/5 và phần sân giao cho bà Lượm. Khi được giao tầng trệt và
sân, ông Nguyễn Văn Công (con rể bà Lượm) cải tạo, sửa chữa và xây dựng thêm
để mở Trường mầm non tư thục.
Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2

-10-


Do ông Đức, bà Hạnh không đi nước ngoài nữa, nên yêu cầu bà Lượm trả lại
nhà, được bà Lượm đồng ý. Ngày 25-11-2001, bà Lượm ký giấy đồng ý trả lại nhà
trên cho ông Đức, bà Hạnh và ông Đức, bà Hạnh hoàn lại 23.000.000 đồng chi phí
sang tên và các chi phí khác cho ông Công. Thực hiện cam kết này, ngày 29-42002 ông Đức, bà Hạnh đã giao 23.230.000 đồng cho ông Công, nhưng bà Lượm
không trả nhà vì do bà Hạnh chửi nhiều. Do vậy, ông Đức, bà Hạnh khởi kiện yêu
cầu bà Lượm trả nhà và giấy tờ.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh (con gái bà Lượm) không đồng ý trả nhà, đất cho
ông Đức, bà Hạnh và yêu cầu cho ông Đức, bà Hạnh bồi thường uy tín và thị phần
của trường mẫu giáo, còn ông Nguyễn Văn Công (chồng của bà Linh) không có ý
kiến gì về việc trả nhà, đất cho ông Đức, bà Hạnh. Ông Công có yêu cầu ông Đức,
bà Hạnh trả số tiền nợ 139 triệu đồng, nhưng sau đó ông Công đề nghị tách ra để
giải quyết bằng vụ kiện khác. Ngoài ra, ông Công, bà Linh còn cho rằng nếu
trường hợp buộc phải trả lại nhà, đất cho ông Đức, bà Hạnh thì ông Công, bà Linh
yêu cầu bà Hạnh, ông Đức phải trả lại tiền xây dựng vi phạm lộ giới, tiền đầu tư
vật dụng vào các lớp học là 106 lượng vàng SJC.
Do vậy, ông Đức, bà Hạnh khởi kiện yêu cầu bà Lượm trả nhà và giấy tờ.

Lượm.
- Khi được yêu cầu trả lại nhà, ngày 25-11-2001, bà Lượm cũng ký giấy
đồng ý trả lại nhà trên cho ông Đức, bà Hạnh và ông Đức, bà Hạnh hoàn lại
23.000.000 đồng chi phí sang tên và các chi phí khác cho ông Công. Như vậy,
chính bà Lượm khi kí giấy này cũng đã tự ý thức rằng việc tặng cho đất giữa mình
với ông Đức, bà Hạnh chỉ là giả tạo, thực chất là sự ủy quyền căn nhà.
Căn cứ vào điều 129 BLDS năm 2005: “Khi các bên xác lập giao dịch dân
sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô
hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực trừ trường hợp giao dịch đó cũng
vô hiệu theo quy định của luật này. Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo
Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2

-12-


nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”, khoản 2 Điều
136: “Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của
Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không
bị hạn chế” thì giao dịch dân sự tặng cho nhà đất của ông Đức, bà Hạnh đối với bà
Lượm là giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác.
Thứ hai, tòa phúc thẩm thiếu sót trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng
quy định của Bộ luật dân sự về xử lý hợp đồng vô hiệu. Tòa thiếu sót ở việc công
nhận bà Nguyễn Thị Lượm được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất số 47/5
ấp 2, xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn tại hợp đồng tặng cho, cùng giấy chứng
nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất mà chưa xem xét kĩ các chứng cứ liên
quan như: nguồn gốc căn nhà, lí do, mục đích ông Đức, bà Hạnh lập hợp đồng tặng
cho căn nhà cho bà Lượm.
2.3. Quan điểm của cá nhân nhóm về hướng giải quyết vụ án trên.
Theo các chứng cứ trong tình tiết vụ án và đánh giá nhận định bên trên, cá
nhân nhóm đưa ra hướng giải quyết vụ án trên như sau:

Hạnh là chỉ giao cho bà Lượm trông coi, sử dụng căn nhà 47/5 ấp 2, xã XuânThới
Sơn để đi nước ngoài, còn hợp đồng tặng cho nhà lập ngày 16-1-1998 chỉ là hợp
đồng giả tạo không phản ánh đúng ý chí chủ quan đích thực của ông Đức, bà Hạnh,
nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại công nhận hợp đồng tặng cho là không đúng. Điều
131 BLDS 1995 quy định: “Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện
sau đây:
1- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
2- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội;
3- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
4- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật.”
Theo đó, người tham gia giao dịch là ông Đức, bà Hạnh không hoàn toàn tự
nguyện, chỉ giao cho bà Lượm trông coi, sử dụng căn nhà 47/5 ấp 2, xã XuânThới
Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2

-14-


Sơn để đi nước ngoài. Từ đó, Tòa giám đốc thẩm hướng dẫn áp dụng Điều 136 và
138 về giao dịch dân sự vô hiệu là hoàn toàn chính xác: “Giao dịch dân sự không
có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 131 của Bộ luật này, thì vô
hiệu.” ( Điều 136 BLDS 1995) và “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một
cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác, thì giao dịch giả tạo vô hiệu,còn
giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu
theo quy định của Bộ luật này; nếu giao dịch được xác lập không nhằm mục đích
làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên, thì giao dịch đó cũng bị coi là vô hiệu”
(Điều 138 BLDS)
III. Đánh giá chung thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật của các vụ
việc liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.
Các quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu nói chung cũng như
các giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo đã được pháp luật quy định rõ ràng, cụ thể,

Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2

-16-


MỤC LỤC\
Contents
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................................................1
NỘI DUNG....................................................................................................................................................1
I. Quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo................................................................1
1. Giao dịch dân sự. ....................................................................................................................................1
2. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.........................................................................................................2
II. Những vụ án thực tế về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo...................................................................3
1. Vụ án thứ nhất:........................................................................................................................................3
1.1 Tóm tắt vụ án:........................................................................................................................................3
1.2. Nhận xét phán quyết của tòa án...........................................................................................................5
1.3. Quan điểm của cá nhân nhóm về hướng giải quyết vụ án trên............................................................8
1.4. Đánh giá các quy định có liên quan đã được áp dụng để giải quyết vụ án trên....................................9
2. Vụ án thứ hai.........................................................................................................................................10
2.1. Tóm tắt vụ án......................................................................................................................................10
2.2. Nhận xét phán quyết của tòa..............................................................................................................11
2.3. Quan điểm của cá nhân nhóm về hướng giải quyết vụ án trên..........................................................13
2.4. Đánh giá các quy định có liên quan đã được áp dụng để giải quyết vụ án trên..................................14
III. Đánh giá chung thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật của các vụ việc liên quan đến giao dịch
dân sự vô hiệu do giả tạo...........................................................................................................................15
LỜI KẾT.......................................................................................................................................................16
Contents....................................................................................................................................................17

Bài tập nhóm môn Luật Dân sự Việt Nam - Nhóm 3, lớp N05-TL2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status