TIỂU LUẬN:
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH
DOANH, PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC
TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
GIAI ĐOẠN 2010-2015
MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá, các sản phẩm của Việt Nam đã và đang xuất hiện
ngày càng nhiều trên thị trường thế giới, trong đó có thực phẩm, bánh kẹo. Các loại
sản phẩm bánh kẹo như bánh mỳ, bánh nướng đang dần trở thành những đồ ăn quen
thuộc, thường xuyên của nhiều người dân Việt Nam. Vì vậy, thị trường bánh kẹo của
Việt Nam đang có tiềm năng phát triển hàng đầu Đông Nam Á và trên thế giới. Theo
ước tính của Công ty Tổ chức và điều phối IBA, sản lượng bánh kẹo tại Việt Nam
năm 2008 đạt khoảng 476.000 tấn, đến năm 2012 sẽ đạt khoảng 706.000 tấn, tổng giá
trị bán lẻ bánh kẹo ở thị trường Việt Nam năm 2008 khoảng 674 triệu USD, năm
2012 sẽ là 1.446 triệu USD. Tỉ lệ tăng trưởng doanh số bán lẻ bánh kẹo ở thị trường
Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008-2012 tính theo USD ước tính khoảng
114,71%/năm, trong khi con số tương tự của các nước trong khu vực như Trung
Quốc là 49,09%, Philippines 52,35%, Indonesia 64,02%, Thái Lan 37.3%, Malaysia
17.13%
Thị trường bánh kẹo Việt Nam phát triển kéo theo nhu cầu sản xuất, tiêu thụ
tăng, đòi hỏi phải có công nghệ, máy móc, thiết bị phù hợp để sản xuất ra các sản
Chi nhánh :
Miền Trung : Lô 27, đường Tân Tạo, khu công nghiệp Tân Tạo, Q.Tân Bình,
Tp.HCM.
Miền Nam : 134A, đường Phan Thanh, Q.Thanh Khê, Đà Nẵng.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà được thành lập ngày 25/12/1960, sau 50
năm phấn đấu và trưởng thành, từ một xưởng làm nước chấm và magi công ty đã trở
thành một trong những nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với quy mô lên tới
20.000 tấn sản phẩm/năm. Trong quá trình phát triển công ty đã đạt được nhiều thành
tích, công ty đã được trao tặng nhiều huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì,
hạng Ba.
Giai đoạn 1959-1960 :
Trong công cuộc xây dựng CNXH ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng Miền
Nam, xuất phát từ kế hoạch 3 năm (1958-1960) của Đảng đề ra phát triển nề kinh tế
quốc dân, với nhiệm vụ chủ yếu là “Cải tạo và phát triển Nông nghiệp đồng thời
hướng Công nghiệp phục vụ Nông nghiệp và thúc đẩy sản xuất hàng tiêu dùng”.
Ngày 1/1/1959 Tổng công ty Nông thổ sản Miền Bắc (trực thuộc Bộ Nội
thương) đã quyết định xây dựng một cở sở thực nghiệm có tên là Xưởng thực
nghiệm, làm nhiệm vụ nghiên cứu hạt trân châu (tapioca) với 9 cán bộ công nhân
viên được Tổng công ty cử sang do đồng chí Võ Trị làm Giám đốc.
Từ giữa năm 1959 đến tháng 4 năm 1960, thực hiện chủ trương của Tổng công
ty Nông thổ sản Miền Bắc, cán bộ công nhân viên trong xưởng thực nghiệm đã bắt
tay vào nghiên cứu thử nghiệm và sản xuất mặt hàng miến từ nguyên liệu đậu xanh.
Ngày 25 tháng 12 năm 1960 Xưởng miến Hoàng Mai được thành lập là một
dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của công ty.
Giai đoạn 1961 – 1967 :
Xưởng miến Hoàng Mai tập trung nhân lực và mở rộng sản xuất. Trong thời
kỳ này, xí nghiệp cũng đã thử nghiệm thành công và đưa vào sản xuất xì dầu (1 loại
nước chấm). Bên cạnh đó, xí nghiệp còn chế biến tinh bột ngô cung cấp nguyên liệu
cho nhà máy Pin Văn Điển.
Tháng 7 năm 1992, theo quyết định 216/CNN-LĐ của Bộ Công nghiệp nhẹ
ngày 24 tháng 3 năm 1992, nhà máy đỏi tên thành “Công ty bánh kẹo Hải Hà”. Tên
giao dịch là HAIHACO, thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ quản lý.
Năm 1993, công ty liên doanh với công ty Kotobuki Nhật Bản, thành lập liên
doanh HaiHa-Kotobuki với số vốn góp là 12 tỷ đồng tương đương 30% tổng vốn
góp.
Năm 1995, công ty liên doanh với công ty của Hàn Quốc, thành lập liên doanh
HaiHa-Miwon tại Việt Trì với số vốn góp là 1 tỷ đồng tương đương 16.5% tổng vốn
góp.
Tháng 9 năm 1995, công ty sáp nhập thêm nhà máy thực phẩm Việt Trì.
Tháng 6 năm 1996, công ty sáp nhập thêm nhà máy bột dinh dưỡng Nam
Định.
Giai đoạn 2000 đến nay :
Giai đoạn này khi đứng trước những thách thức mới của quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, công ty chủ động đầu tư máy móc thiết bị, dây chuyền hiện đại để
sản xuất ra những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như bánh dinh dưỡng dành cho
học sinh theo chương trình hợp tác với tổ chức quốc tế Gret và Viện dinh dưỡng Bộ
Y tế, các sản phẩm bổ sung canxi, vitamin hợp tác sản xuất với hãng Tenamyd
Canada, kẹo Chew, bánh Miniwaf, bánh kem xốp…
Năm 2003, theo quyết định số 191/2003/QĐ-BCN ngày 14 tháng 11 năm 2003
của Bộ Công nghiệp, công ty thực hiện cổ phần hóa.
Năm 2004, công ty chính thức chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ
phần. Trong đó, Nhà Nước nắm giữ số cổ phần chi phối với tỷ lệ 51% vốn điều lệ.
Công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103003614 do Sở
Kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 20/01/2004 và thay đổi lần thứ hai
ngày 13/08/2007.
Công ty được chấp thuận niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng
khoán Hà Nội theo Quyết định số 312/QĐ-TTGDHN ngày 08/11/2007 của Giám đốc
trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và đã chính thức giao dịch từ ngày
20/11/2007.
Sản phẩm của Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong 13 năm liền từ năm
1997 đến năm 2009 được người tiêu dùng mến mộ và bình chọn là “Hàng Việt Nam
chất lượng cao”.
1.4. Cơ cấu sản xuất kinh doanh
Hiện nay, Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà có 6 Xí nghiệp thành viên :
Xí nghiệp Kẹo : bao gồm 2 xí nghiệp là Xí nghiệp Kẹo mềm và Xí
nghiệp Kẹo cứng.
+ Xí nghiệp Kẹo mềm tiến hành sản xuất các loại kẹo như kẹo Nougat hạt
điều, kẹo Nougat lạc, kẹo xốp khoai môn, kẹo xốp Fruit…
+ Xí nghiệp Kẹo cứng tiến hành sản xuất các loại kẹo như kẹo cứng nhân, kẹo
cứng gối.
Xí nghiệp Bánh : tiến hành sản xuất các loại bánh như bánh kem xốp,
bánh Cracker, bánh buiscuit, bánh quy, bánh mềm, bánh tươi
Xí nghiệp Kẹo Chew : tiến hành sản xuất các loại kẹo Chew
+ Kẹo Chew nhân ( kẹo Chew nhân Sôcôla, kẹo Chew nhân Nho đen, kẹo
Chew nhân Mứt trái cây, kẹo Chew nhân bắp…),
+ Kẹo Chew gối ( kẹo Chew gối Me cay, kẹo Chew gối Cà phê, kẹo Chew gối
Chanh dây, kẹo Chew gối Caramel…)
Xí nghiệp Phụ trợ : tự tiến hành sản xuất điện, nước, lò hơi phục vụ cho
quá trình sản xuất ; cắt bìa, in hộp, cắt giấy gói kẹo, sửa chữa bảo dưỡng máy móc
thiết bị.
Nhà máy bánh kẹo Hải Hà I tại số 19, Phố Sông Thao, P.Tiên Cát, Việt
Trì. Nhà máy tiến hành sản xuất các loại kẹo như kẹo mềm, kẹo dẻo, kẹo Jelly,
Glucoza, bao bì in…Hiện nay, nhà máy cung cấp một khối lượng sản phẩm lớn cho
thị trường nội địa và để xuất khẩu. Đây cũng là nhà máy được trang bị các dây
chuyền, thiết bị hiện đại nhất của Công ty.
Nhà máy bánh kẹo Hải Hà II tại Km 3, Đường Thái Bình, P.Hạ Long,
Tp Nam Định. Nhà máy chuyên sản xuất bột dinh dưỡng và bánh kem xốp.
Cơ cấu tổ chức điều hành sản xuất tại các Xí nghiệp :
Sơ đồ 1 : Cơ cấu tổ chức điều hành sản xuất tại các Xí nghiệp
XNK
vật tư
KHTSCĐ
Đại Hội Đồng Cổ Đông
Ban Kiểm Soát
Hội Đồng Quản Trị
ĐHĐCĐ quyết định.
HĐQT gồm có 5 thành viên trong đó 3 thành viên đại diện Nhà nước chiếm 51%
vốn cổ phần, 2 thành viên đại diện cổ đông có số cổ phần lớn nhất.
HĐQT có các quyền và nhiệm vụ được quy định tại Luật doanh nghiệp và Điều lệ
Công ty. Cụ thể như: Định hướng các chính sách tồn tại và phát triển để thực hiện các
quyết định của Đại hội đồng cổ đông; ra nghị quyết hành động cho từng thời điểm
phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty.
Ban kiểm soát :
Do ĐHĐCĐ bầu, thay mặt cổ đông kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản
trị và điều hành của Công ty. Ban Kiểm soát gồm 3 thành viên độc lập không điều
hành. Trong đó, Trưởng Ban Kiểm soát lá cán bộ của Tổng Công ty Thuốc lá Việt
Nam, 1 thành viên là cán bộ Công đoàn của Công ty, 1 thành viên là chuyên viên
phòng Tài vụ của Công ty.
Ban điều hành : Do HĐQT bổ nhiệm gồm có một Tổng Giám đốc,
hai Phó Tổng Giám đốc, một Kế toán trưởng.
Tổng Giám đốc do HĐQT : là người đại diện theo pháp luật của Công ty, chịu
trách nhiệm trước HĐQT, quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng
ngày của Công ty. Tổng Giám đốc trực tiếp phụ trách các phòng và điều hành các Xí
nghiệp thành viên. Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng do HĐQT bổ nhiệm theo
đề xuất của Tổng giám đốc.
Phó Tổng Giám đốc Tài chính : là người chịu trách nhiệm về các hoạt động tài
chính, quản lý vốn và các nguồn ngân quỹ; chịu trách nhiệm báo cáo với Tổng Giám
đốc và HĐQT về hiệu quả sinh lợi của công ty; trực tiếp phụ trách phòng Tài chính-
Kế toán.
Phó Tổng Giám đốc Kỹ thuật : là người chịu trách nhiệm về các hoạt động kỹ
thuật, chịu trách nhiệm báo cáo với Tổng Giám đốc và HĐQT về hiệu quả sử dụng
tài sản, trang thiết bị của công ty; trực tiếp phụ trách phòng Kỹ thuật-Phát triển.
Kế toán trưởng : chịu trách nhiệm trực tiếp trước TGĐ và HĐQT về các công
việc thuộc phạm vi và quyền hạn trách nhiệm của Kế toán trưởng. Nhiệm vụ và
quyền hạn của Kế toán trưởng được quy định tại Điều lệ Công ty và Luật Doanh
chức theo kiểu cơ cấu tổ chức trực tuyến-chức năng. Theo đó, các công việc hàng
ngày ở các Xí nghiệp Bánh, Xí nghiệp Kẹo, Xí nghiệp Chew, Xí nghiệp Phụ trợ, Nhà
máy bánh kẹo Hải Hà I (Việt Trì) và Nhà máy bánh kẹo Hải Hà II (Nam Định) thuộc
trách nhiệm của Giám đốc các Xí nghiệp này. Tuy nhiên, các kế hoạch và các chính
sách dài hạn phải tuân thủ theo kế hoạch và hướng dẫn thực hiện của công ty nhằm
phối hợp nhịp nhàng hoạt động giữa các Xí nghiệp theo mục tiêu chung của toàn
công ty.
Ưu điểm của kiểu cơ cấu tổ chức này:
Kiểu cơ cấu tổ chức tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà giúp cho công ty
hoạt động hiệu quả ở cả hai cấp Công ty và Xí nghiệp thành viên.
Công tác quản lý tập trung ở công ty đồng thời các Xí nghiệp thành viên được
tăng quyền chủ động, tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng Giám đốc
lãnh đạo Công ty theo chế độ một thủ trưởng và được sự giúp sức của các phòng ban
chức năng (Văn phòng, Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm, Phòng kỹ thuật phát
triển, Phòng tài vụ, Phòng vật tư, Phòng kế hoạch thị trường) cùng các chuyên gia,
Hội đồng Tư vấn trong việc ra quyết định và đưa ra các phương án kinh doanh tối ưu.
Đề xuất khi được Tổng Giám đốc thông qua sẽ trở thành mệnh lệnh được truyền đạt
từ trên xuống dưới theo các tuyến đã quy định.
Mô hình tổ chức này cũng cho phép tổ chức thực hiện sản xuất nhiều loại sản
phẩm góp phần tăng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất cho Công ty.
PHẦN 2 : CÁC ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT
ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
2.1. Đặc điểm sản phẩm
phẩm
Cơ cấu tỷ lệ % trong
nhóm sp chính
1 Kẹo Jelly Kẹo Jelly chíp 6 2.97
Kẹo Jelly cốc 6 2.97
2 Kẹo Chew Kẹo Chew nhân 9 4.45
Kẹo Chew gối 10 4.95
3 Kẹo cứng Kẹo cứng nhân 3 1.48
Kẹo cứng gối 9 4.45
4 Kẹo que HaiHaPop 8 3.96
5 Kẹo mềm 14 6.93
6 Snack 4 1.98
7 Miniwaf 4 1.98
8 Bánh kem xốp 16 7.92
9 Bánh cracker 13 6.44
10 Bánh quy 8 3.96
11 Bánh mềm 4 1.98
12 Bánh Trung thu 40 19.8
13 Bánh kẹo hộp 42 20.79
14 Mứt Tết 3 1.48
15 Bánh tươi 3 1.48
Tổng 202 100
Nguồn : Phòng Kế hoạch-Thị trường
Qua bảng số liệu trên cho thấy các dòng sản phẩm chiếm tỷ lệ cao trong cơ
cấu các sản phẩm chính của Công ty là kẹo Chew (chiếm 9.40%), kẹo mềm (chiếm
6.93%), bánh kem xốp (chiếm 7.92%), bánh cracker (chiếm 6.44%), bánh Trung thu
(chiếm 19.8%), bánh kẹo hộp (chiếm 20.79%). Các sản phẩm thuộc dòng bánh Trung
thu và Mứt Tết là các sản phẩm được tiêu thụ theo mùa vụ (trong khoảng thời gian 2-
3 tháng). Trong khi, dòng sản phẩm bánh kẹo hộp có thời hạn sử dụng lâu hơn (từ 1-
3 năm), số lượng và chủng loại dòng sản phẩm này cũng đa dạng, phong phú hơn để
tấn/ngày.
Kẹo mềm : Trong cơ cấu doanh thu 2006 sản phẩm kẹo mềm chiếm
24,7%. HAIHACO là Công ty sản xuất kẹo mềm hàng đầu, với dây chuyền thiết bị
hiện đại của Cộng hòa liên bang Đức, các sản phẩm kẹo xốp mềm Hải Hà chiếm lĩnh
phần lớn thị phần của dòng sản phẩm này vượt qua tất cả các công ty sản xuất kẹo
mềm trong nước.
Bánh kem xốp : Sản phẩm bánh kem xốp và bánh xốp cuộn được sản
xuất trên 2 dây chuyền của Malaysia công suất 6 tấn/ngày và 3 tấn/ngày. Sản phẩm
của HAIHACO vẫn có ưu thế về giá cả, chất lượng cũng không thua kém các sản
phẩm cạnh tranh khác từ các doanh nghiệp trong nước như Kinh Đô, Bibica, Hải
Châu, Wonderfarm và hàng nhập khẩu. Doanh thu từ bánh kem xốp đạt 36,1 tỷ đồng
trong năm 2006 tăng 5,2 tỷ đồng.
Kẹo Jelly : Là dòng sản phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất đem lại
cho HAIHACO 28,6 tỷ đồng doanh thu (tăng 22,8% so với năm 2005) và 1,3 tỷ đồng
lợi nhuận (tăng 8% so với năm 2005). Trong năm 2006, kẹo Jelly Chip Hải Hà đã
được tiêu thụ với khối lượng 786,8 tấn.
Bánh Trung thu : HAIHACO luôn bám sát được thị hiếu của người tiêu
dùng. Sản phẩm của HAIHACO được đánh giá cao về chất lượng, vệ sinh an toàn
thực phẩm đặc biệt có hương vị thơm ngon. Bánh Trung thu của HAIHACO gần đây
được đổi mới về mẫu mã sản phẩm đẹp, sang trọng không thua kém các doanh
nghiệp sản xuất bánh Trung thu khác. Hiện nay, bánh Trung thu Hải Hà cạnh tranh
rất mạnh với bánh trung thu của Hữu Nghị và Bibica, đặc biệt là trên thị trường miền
Bắc. Tuy nhiên tỷ trọng của bánh Trung thu trên tổng doanh thu chưa cao do tính
chất mùa vụ của sản phẩm.
Bánh mềm cao cấp: Bánh mềm cao cấp phủ và không phủ sôcôla sẽ là
dòng sản phẩm cao cấp phục vụ cho cuộc sống công nghiệp hiện đại, với chất lượng
và kiểu dáng mới lạ so với tất cả các sản phẩm bánh mềm phủ sôcôla hiện có được
sản xuất và tiêu thụ trên thị trường Việt Nam. .
Bánh Quy và bánh Cracker: chịu sự cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó hàng ngoại nhập ngày càng xuất hiện nhiều ở
1. Bánh mềm cao cấp phủ sôcôla
2. Bánh kẹo hộp
3. Kẹo Chew
4. Bánh kem xốp
5. Kẹo Jelly
2
3
1
4
5
6
Thấp
Trung bình
Cao
Thấp Cao
Chất lượng
Giá cả
6. Kẹo cứng
2.2. Quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm
* Quy trình sản xuất bánh kem xốp
Nguyên liệu : bột mỳ, nước, đường, sữa, bơ, trứng, phụ gia
Sơ đồ 4: Quy trình sản xuất bánh kem sốt * Quy trình sản xuất bánh Biscuits
Nguyên liệu : bột mỳ, nước, đường, sôcôla, bơ, phụ gia.
Sơ đồ 5: Quy trình sản xuất bánh Biscuits Sơ đồ7 : Quy trình sản xuất kẹo mềm Tạo vỏ kẹo
Nấu
Làm nhân Nấu nhân Bơm nhân
Tạo khuôn
hình
Bao gói
thành phẩm
Làm nguội
Nấu kẹo
Làm nguội
Tạo hình
Khôi phục
Kẹo đầu đuôi
Đánh trộn các loại
đây được thể hiện như sau :
Nghiên cứu công nghệ sản xuất ra sản phẩm mới bao gồm: Xây dựng công
thức sản phẩm, xây dựng quy trình công nghệ và theo dõi thời hạn bảo quản sản
phẩm.
Nghiên cứu các biện pháp cải tiến các sản phẩm hiện có về chất lượng, kiểu
dáng, bao bì…tạo sự đa dạng và phong phú cho các dòng sản phẩm.
Nghiên cứu việc sản xuất ra sản phẩm mới trên các dây chuyền Công ty mới
đầu tư hoặc dự kiến đầu tư.
Nghiên cứu việc sử dụng các nguyên liệu mới vào các quá trình sản xuất,
hướng tới việc sử dụng các nguyên liệu hiện có trong nước thay thế các nguyên liệu
phải nhập khẩu.
Nghiên cứu việc sản xuất các sản phẩm xuất khẩu nhằm đáp ứng được các chỉ
tiêu chất lượng quốc tế.
Các cán bộ thuộc bộ phận nghiên cứu phát triển sản phẩm mới của Công ty
được đào tạo cơ bản từ các trường Đại học trong nước, có nhiều kinh nghiệm trong
lĩnh vực sản xuất bánh kẹo. Công ty luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các nhân viên tiếp
cận với những thông tin mới nhất về sản phẩm mới, công nghệ mới, xu hướng mới
của thị trường.
Sự đầu tư đúng mức cho hoạt động nghiên cứu này đã mang lại những kết quả
khả quan. Trong 5 năm gần đây Công ty đã đưa ra thị trường hàng trăm sản phẩm với
hàng chục mẫu mã sản phẩm mới như kẹo Chew, Jelly, Miniwaf, Haihapop, Snack -
Mimi các mẫu mã bánh Trung thu cao cấp mang lại doanh thu và hiệu quả cao cho
Công ty.
Bảng 2 : Một số sản phẩm mới của Công ty
STT
Tên sản phẩm Thời điểm
xâm nhập thị
trường
Hạn sử dụng Chất lượng và
ị còn lại
A Tài sản hữu hình
1 Nhà xưởng, vật kiến trúc
29.084 19.38 9.7
2 Máy móc thiết bị 149.01 93.47 55.54
3 Phương tiện vận tải 8.38 6.7 1.68
4 Thiết bị, dụng cụ quản
lý
0.68 0.57 0.11
B Tài sản vô hình 0.18 0.1 0.08
Tổng cộng 187.334 130.22 67.11
Nguồn : Văn phòng - Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà Bảng 4 : Bảng thống kê đất đai, nhà xưởng của Công ty