thực trạng bảo hiểm xuất nhập khẩu của việt nam - Pdf 11

KHOA NGÂN HÀNG
BỘ MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN CHỦ ĐỀ 9
THỰC TRẠNG BẢO HIỂM XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Cẩm Thủy
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 12
1. Vương Thị Huyền (Nhóm trưởng)
2. Phạm Đức Nam
3. Vũ Thị Lý
4. Nguyễn Ngọc Sơn
5. Đào Thị Nhân
6. Lê Tiến Hưng
7. Nguyễn Thị Loan
8. Vũ Văn Hiệu
9. Nguyễn Cơ Thạch
10. Lê Văn Hậu
MỤC LỤC
Sơ lược về bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu 3
Thực trạng bảo hiểm hàng hóa XNK ở Việt Nam 7
Một số đánh giá và định hướng đối với bảo hiểm trong xuất nhập khẩu 17
Sơ lược về bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
1.1. Khái niệm
Bảo hiểm là một sự cam kết bồ thường của người bảo hiểm đối với người được bảo
hiểm về những thiệt hại, mất, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa
thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo
hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Bảo hiểm xuất nhập khẩu là bảo hiểm
mà có đối tượng bảo hiểm là hàng hóa xuất nhập khẩu.
Người được bảo hiểm là người nhận trách nhiệm về rủi ro, được hưởng phí bảo
hiểm và phải bồi thường khi có tốn thất xảy ra. Người bảo hiểm có thể là công ty nhà

Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất
phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời. Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng
bồi thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại
dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro,
hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người.
b) Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần thực
hiện một nội dung trong các biện pháp rủi ro. Đó là đề phòng và hạn chế mức thấp nhất
những tổn thất có thể xảy. Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được
giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế - xã hội cũng được chủ động phòng tránh.
c) Sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư
vào lĩnh vực khác
Trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh, người ta luôn phai tính đến những rủi
ro có thể gặp phải, và luôn muốn chủ động trong tình uống xấu nhất. Việc tự khắc phục
rủi ro đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải bỏ ra một khoản tiền lớn lập quỹ dự phòng. Xét
trên toàn xã hội, tổng các quỹ dự phòng sẽ là một khoản tiền không nhỏ, có nhả năng sinh
lợi lớn nếu đem đầu tư.
d) Tăng thu ngân sách nhà nước
Hàng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã đóng góp một phần không nhỏ vào
ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, bảo hiểm đã góp phần tiết kiệm cho ngân sách thông
qua việc tốt khâu phòng ngừa và hạn chế tổn thất, giúp bảo vệ tối đa tài sản công cộng,
giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc. Điều này giúp nhà nước giảm bớt chi
tiêu những khoản lớn để bù đắp những tổn thất như phải xây dựng đường xá, cầu cống,
nhà xưởng, cong trình… ngoài ra, một thị trường bảo hiểm phát triển mạnh mẽ và ổn định
sẽ thu hút các cá nhân và tổ chức mua bảo hiểm của công ty bảo hiểm trong nước, góp
phần tiết kiệm một khoản ngoại tệ lớn cho ngân sách nhà nước.
e) Tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh
Khi kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì
người ta càng có nhu cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai. Môi trường kinh doanh
cũng như môi trường xã hội đang dần xuất hiện những rủi ro mới. Những rủi ro thiên

V V V
Dỡ hàng tại cảng lánh nạn V V V
Động đất, núi lửa phun, sét đánh V V X
Hy sinh tổn thất chung V V V
Ném hàng khỏi tàu hoặc hàng bị nước cuốn khỏi tàu V V V
Nước biển, sông, hồ tràn vào tàu, xà lan, hầm tàu,
container hoặc nơi chứa hàng
V V X
Tổn thất toàn bộ kiện hàng bị rơi khỏi tàu hoặc rơi
trong khi đang xếp/ dỡ hàng
V V X
Tổn thất chung và chi phí cứu hộ V V V
Cướp biển, trộm cắp và không giao hàng V X X
Bảo hiểm trách nhiệm người vận tải hàng xuất nhập khẩu (shipping line / consol):
• Giới hạn tất cả các yêu cầu bồ thường về tổn thất và hư hỏng xảy ra trong vòng 1
năm.
• Giới hạn trách nhiệm của người vận tải về tổn thất, hư hỏng theo thông lệ quốc tế
(tính theo trọng lượng hoặc đơn vị).
• Không bao gồm “các rủi ro khác” (bất khả kháng).
• Không thể mua bảo hiểm vào ngày bắt đầu vận tả.i
• Luôn có thể bị vượt quá/khấu trừ.
Bảo hiểm đình công đối với hàng hóa XNK
Các rủi ro được bảo hiểm là:
• Tổn thất hay hư hỏng đối với đối tượng được bảo hiểm gây ra bởi:
• Đình công, cấm công nhân hay những người tham gia vào việc gián đoạn lao động,
nổi loạn hay bạo động dân sự.
• Bất kì kẻ khủng bố hay người nào hành động vì động cơ chính trị hoặc tôn giáo.
Ngoại trừ sự chậm trễ, làm biến đổi bản chất vốn có của hàng hóa được bảo hiểm và
sự tổn thất hay hư hỏng gây ra bởi các hành động thù nghịch, có tính chất chiến tranh, nội
chiến, cách mạng, nổi loạn, bạo động dân sự hay phản đối có tính chất tương tự.

Trong tình hình xuất nhập khẩu kể trên, có thể thống kê các nhóm hàng xuất khẩu
chính bao gồm: Điện thoại các loại và linh kiện, Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh
kiện, Hàng dệt may, Giày dép các loại, Dầu thô, Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ
tùng khác, Thủy sản, Gỗ và sản phẩm gỗ, Cao su, Gạo, Hạt điều, Than đá.
Các nhóm hàng nhập khẩu chính bao gồm: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh
kiện, Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác, Điện thoại các loại và linh kiện, Xăng
dầu các loại, Nguyên vật liệu ngành dệt may, da, giày, Sắt thép các loại, Thức ăn gia súc
và nguyên liệu, Phế liệu sắt thép, Chất dẻo nguyên liệu, Phân bón các loại, Ô tô nguyên
chiếc…
Nhìn vào cơ cấu các mặt hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam, kết hợp với các điều
kiện về tự nhiên, kinh tế kỹ thuật,… có thể thấy ngành xuất nhập khẩu đang từng bước
phát triển và chủ yếu tập trung vào các hàng hóa thông thường được vận chuyển bằng
phương thức vận tải đường biển. Một số mặt hàng có thể vận chuyển bằng đường hàng
không nhưng còn nhiều hạn chế. Điều này phần nào cũng phản ánh được một phần nào
việc sử dụng các loại hình bảo hiểm tương ứng đối với các hàng hóa xuất nhập khẩu.
1.6. Thực trạng bảo hiểm hàng hóa XNK
2.2.1. Sơ lược thị trường bảo hiểm Việt Nam và bảo hiểm hàng hóa XNK thời gian
qua
Tính đến nay, tổng số doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường là 58 doanh nghiệp,
trong đó gồm 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 15 doanh nghiệp bảo hiểm nhân
thọ, 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm. Trong bối cảnh
khó khăn chung của nền kinh tế, thị trường bảo hiểm vẫn đạt được kết quả nhất định.
- Tổng doanh thu phí bảo hiểm 6 tháng toàn thị trường ước đạt 20.922 tỷ đồng, tăng
6,3%% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó, tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ
đạt 11.767 tỷ đồng, tăng trưởng khoảng 2,2 %; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 9.155
tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2012.
- Tổng số tiền thực bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm 6 tháng năm 2013 ước là
8.551 tỷ đồng, trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước là 4.045 tỷ đồng; các
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước là 4.506 tỷ đồng.
- Tổng số tiền đầu tư 6 tháng năm 2013 ước đạt 95.796 tỷ đồng. Trong đó, doanh

hàng mới trong mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế. Trình độ năng lực nghiệp vụ của
cán bộ công nhân viên bảo hiểm ngày một nâng cao giúp cho quá trình tư vấn, phân tích
đánh giá rủi ro đưa ra các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất có hiệu quả. Bảo hiểm
hàng hóa xuất nhập khẩu thường bảo hiểm lô hàng có giá trị rất lớn nên việc tái bảo hiểm
là vô cùng quan trọng.
Công tác khai thác bảo hiểm là một khâu rất quan trọng trong các doanh nghiệp.
Khai thác được coi như là đầu vào cho hoạt động sản xuất tạo ra lợi thế thương mại cuối
cùng cho doanh nghiệp, nó quyết định đến sự sống còn của công ty. Doanh nghiệp bảo
hiểm kinh doanh dịch vụ tài chính không có hoạt động sản xuất nên họ chủ yếu tập trung
vào khai thác thị trường. Nếu các công ty khai thác tốt tức là bán được nhiều hợp đồng
bảo hiểm mang lại doanh thu lớn sẽ là cơ sở để tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị phần, nâng
cao vị thế của mình trên thị trường bảo hiểm. Chính vì tính chất quan trọng của khâu khai
thác mà hầu hết các công ty bảo hiểm phải lập ra các chiến lược khai thác. Công việc khai
thác càng trở nên khó khăn hơn trong thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
Vào đầu năm các nhân viên của phòng bảo hiểm hàng hải phải thu thập được thông
tin về kim ngạch xuất khẩu qua đó sẽ tập hợp số liệu để lập kế hoạch khai thác và định
mức thu phí trong năm của các đối tượng. Đối với khách hàng mới thì các cán bộ phải tìm
cách tiếp cận để tìm hiều về ngành hàng, cách thức đóng gói chất xếp, luồng vận chuyển.
Các nhân viên phải tìm cách tiếp cận được với những khách hàng này cho họ thấy sự hiện
diện của công ty và giúp họ hiểu hơn về sản phẩm mà công ty có thể cung cấp. Thông qua
tư vấn giúp đỡ các công ty xuất nhập khẩu lựa chọn điều kiện bảo hiểm phù hợp. Đối với
khách hàng cũ, các khách hàng truyền thống, các nhân viên phải thuyết phục được họ tiếp
tục hợp đồng một cách tự nguyện. Lượng khách hàng truyền thống này sẽ đảm bảo cho
công ty một doanh thu ổn định. Một công ty bảo hiểm có lượng khách hàng truyền thống
chiếm tỷ lệ cao chứng tỏ chất lượng dịch vụ của công ty là rất tốt và biểu phí phù hợp.
b/ Công tác giám định và bồi thường tổn thất
Ngay sau khi nhận được thông báo tai nạn, tổn thất từ khách hàng qua bất cứ hình
thức nào, công ty bảo hiểm phải cử ngay nhân viên thu thập thông tin ban đầu liên quan
đến tổn thất và mở sổ theo dõi tổn thất, sổ nhận khai báo tổn thất.
Quy trình giám định bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển:

- Sơ đồ xếp hàng
- Nhật ký hàng hải
- Giấy chứng nhận kín chắc hầm tàu trước khi xếp hàng
- Giấy chứng nhận vệ sinh hầm tàu trước khi xếp hàng
- Giấy chứng nhận ôn độ.
• Công tác giám định tại hiện trường: Giám định viên cùng đại diện của chủ tàu, chủ
hàng đến nơi hàng tổn thất để tiến hành giám định.
- Kiểm tra miệng hầm:
+ Xem xét tình trạng niêm chì, ký hiệu niêm chì, vị trí cặp chì
+ Cách che đậy miệng hầm, tình trạng miệng hầm.
- Kiểm tra hàng trước khi dỡ hàng, xem xét tình trạng hàng xếp mặt trên
- Kiểm tra tình hình chèn lót, sắp xếp hàng, thông gió, thiết bị của tàu và các yếu tố
có thể gây nên tổn thất.
Nếu thấy hàng ướt phải xem ngay ống dẫn nước, dẫn dầu, đường thông gió, hàng
lỏng xung quanh.
Nếu hàng bị rách vỡ phải kiểm tra khả năng do dụng cụ xếp dỡ hàng xuống tàu, cách
chèn lót sắp xếp của tàu, bao bì đóng gói, khả năng va chạm của tàu.
- Giám định bên ngoài kiện hàng: kiểm tra ký mã hiệu xem đúng trong hợp đồng
hay không, các ký hiệu đề phòng hạn chế tổn thất; kiểm tra bao bì: vật liệu bao bì,
cách thức đóng gói, dấu vết tổn thất của bao bì.
- Giám định bên trong kiện hàng: tùy thuộc tình trạng tổn thất loại hàng, số lượng
tổn thất nhiều hay ít đề nghị chủ tàu và chủ hàng mở toàn bộ hoặc một số kiện
hàng bên trong để xem xét:
+ Xem cách đóng bao bì, xếp chèn hàng hóa
+ Số lượng, khối lượng có trong mỗi kiện
+ Tình trạng tổn thất của hàng hóa
+ Các dấu vết, biểu hiện hư hỏng thiệt hại, các vật lạ và các hiện tượng khả nghi.
- Lấy mẫu và chụp ảnh
+ Cần phải lấy mẫu để xét nghiệm và phân tích lý hóa để xác định được nguyên
nhân tổn thất, xác định giá trị hàng hóa có đủ phẩm chất hay không hay để so sánh, xác

định rủi ro của đối tượng được bảo hiểm và liên quan đến chính bản thân khách hàng
- Phân tích và tư vấn cho khách hàng trong công tác quản lí rủi ro. Sau khi đã có
được thông tin cơ bản ở bước trên, nhân viên công ty dựa trên việc phân tích đặc điểm,
Đối tượng bảo hiểm và những tổn thất trong quá khứ của khách hàng để tư vấn cho họ
những biện pháp cụ thể để quản lý rủi ro
- Thực hiện chương trình quản lý rủi ro. Đây là công việc chủ yếu thuộc về phía
người tham gia bảo hiểm, nhiệm vụ của họ là thực hiện những gì đã cam kết với nhà bảo
hiểm, còn người bảo hiểm cử người kiểm tra xem chương trình có phù hợp với thực tế
hay không và cung cấp những dịch vụ tư vấn phù hợp
Nhìn chung trong những năm vừa qua công tác đề phòng và hạn chế tổn thất ở Việt
Nam đã được nhìn nhận một cách thấu đáo và ngày càng được quan tâm hơn, đó cũng là
cách tránh những tổn thất lớn có thể xảy ra, vì thế nên chất lượng và hiệu quả cũng ngày
càng được nâng cao. Đặc biệt là công tác này được chú trọng thực hiện ngay từ khâu khai
thác hợp đồng trong việc đánh giá và quản lý rủi ro, bám sát và tư vấn cho khách hàng về
quy cách đóng gói, xếp dỡ hàng hóa, thuê phương tiện chuyên chở (tuổi tàu, phân hạng
tàu, cờ tàu, độ tin cậy…) hay việc giám định hàng hóa ngay tại cảng đi đối với một số mặt
hàng xuất khẩu nhằm đưa ra các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất rất lớn nên công
ty đã rất chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ của các giám
định viên và không ngừng tạo lập mối quan hệ với các tổ chức có liên quan nhằm phối
hợp chặt chẽ, kịp thời thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy
ra đối với hàng hóa được bảo hiểm
d/ Công tác chống trục lợi bảo hiểm hàng hóa XNK
Từ giữa những năm 1960 vấn đề trục lợi bảo hiểm trở nên phổ biến hơn và tồn tại
trong một số nhỏ khách hàng. Uỷ ban bảo hiểm Úc đã ước tính hơn 10% doanh thu bảo
hiểm để bồi thường tổn thất do trục lợi và tổng số tiền đó lên tới hơn 1,4 tỷ dollar hàng
năm tại Úc. Trên thế giới, tại một số nước phát triển, các doanh nghiệp bảo hiểm là các
doanh nghiệp tư nhân, chính vì thế xuất phát từ phía lợi ích các doanh nghiệp luôn có
những biện pháp tối ưu để hạn chế trục lợi. Do đó, gần như rất ít trường hợp khi có tổn
thất xảy ra thì mới thực hiện hành vi trục lợi bởi vì các công ty bảo hiểm ở các nước phát
triển thường là các tập đoàn lớn, có nguồn tài chính vững mạnh, do đó họ thường thuê các

cũng đã áp dụng nhiều biện pháp để quản lý rủi ro như: Thực hiện các khâu điều tra, thu
thập những thông tin liên quan đến đối tượng được bảo hiểm, đặc điểm của rủi ro và
chính bản thân khách hàng bảo hiểm. Sau khi kí kết hợp đồng, DN bảo hiểm phải tổ chức
quản lý hợp đồng, theo dõi toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng của cả hai bên. Hợp
đồng bảo hiểm hàng hóa XNK thường phức tạp và lâu dài vì vậy quản lý hợp đồng là
công việc trọng tâm trong quản lý khách hàng bảo hiểm
Quản lý hợp đồng bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển là trách nhiệm nghĩa
vụ của DN bảo hiểm đối với khách hàng. Chất lượng thực hiện hợp đồng tốt hay xấu ảnh
hưởng trực tiếp đến sự tín nhiệm của khách hàng và xã hội đối với DN bảo hiểm. Quản lý
chất lượng thực hiện hợp đồng bảo hiểm hàng hóa XNK là 1 nội dung quan trọng nhất và
phạm vi rất rộng bao gồm cả việc đề phòng và hạn chế tổn thất, giám định và bồi thường
bảo hiểm trong đó khâu giám định luôn là khâu dễ bị trục lợi bảo hiểm. Nhận thức được
vấn đề trên, DN bảo hiểm VN đã tổ chức quản lý hợp đồng, theo dõi thực hiện hợp đồng
để hạn chế tình trang trục lợi bảo hiểm
Việc phát hiện những nghi ngỡ và khả năng trục lợi ở một số mặt hàng, tàu, một số
cảng, người tham gia bảo hiểm… Thường nhờ vào kinh nghiệm của những cán bộ có
chuyên môn cao. Từ đó phối hợp với các cơ quan điều tra, công an để phát hiện và phòng
chống trục lợi bảo hiểm hàng hóa XNK
Quy định của pháp luật nhằm phòng chống trục lợi bảo hiểm hàng hóa XNK: Luật
kinh doanh bảo hiểm 2010
Các chế tài ngăn chặn hành vi trục lợi bảo hiểm hàng hóa XNK:
Về dân sự, theo quy định tại điều 17 Luật kinh doanh bảo hiểm, khi phát hiện hành
vi trục lợi, DN bảo hiểm có quyền từ chối trả tiền bảo hiểm cho người hưởng thụ hoặc từ
chối bồi thường cho người được bảo hiểm hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng
bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm
Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật Dân sự, hợp đồng Dân sự được giao kết do bị
lừa dối có thể dẫn đến hợp đồng bị tuyên là vô hiệu và “không làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ dân sự của các bên; các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau
những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Tùy từng trường hợp, xét theo
tính chất của giao dịch vô hiệu, tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch

ro tham gia bảo hiểm cho phù hợp và đạt hiệu quả. Hiện nay các ngân hàng, doanh
nghiệp, công ty bảo hiểm có những cán bộ chủ chốt am hiểu về dịch vụ bảo hiểm và đội
ngũ nhân viên được đào tạo đầy đủ về kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Bên cạnh những cơ hội kể trên, còn không ít những khó khăn, những điểm hạn chế
cần khắc phục đối với bảo hiểm các hàng hóa trong xuất nhập khẩu.
Về thách thức:
Thứ nhất, Hoạt động XNK của nước ta chủ yếu áp dụng phương thức xuất khẩu theo
FOB và nhập khẩu theo CIF. Với các phương thức XNK trên đã hạn chế khả năng ký kết
của các công ty bảo hiểm Việt Nam bởi quyền vận tải và bảo hiểm thuộc phía nước ngoài.
Với các quyền đó, đối tác nước ngoài tuỳ ý thuê tàu và mua bảo hiểm. Theo lẽ thường, hó
ký hợp đồng với các công ty của nước mình, như vậy các công ty bảo hiểm nước ngoài có
điều kiện phát triển hơn.
Thứ hai, Năng lực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm VN còn hạn chế, chưa
mang tầm quốc tế. Ngoại từ Bảo Việt thành lập năm 1965 có vốn lớn, các công ty khác
đều vừa mới được thành lập sau Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 với mức vốn kinh
doanh chưa đến 80 tỷ đồng, trong khi đó, nhiều công ty bảo hiểm nước ngoài ra đời cách
đây hàng trăm năm, vốn kinh doanh hàng tỷ Đôla Mỹ. Thêm vào đó, trình độ cán bộ làm
công tác bảo hiểm nói chúng còn bấp caaoj so với đòi hỏi của thị trường mà còn non yếu
so với mặt bằng thế giới.
Thứ ba, Hành vi trục lợi trong bảo hiểm hàng hoá XNK. Hàng hoá được yêu cầu bảo
hiểm trong hàng trình vận chuyển nhưng chưa đóng phí bảo hiểm. Khi biết hàng về đến
nới an toàn, khách hàng xin huỷ đơn bảo hiểm hoặc huỷ hợp đồng bảo hiểm để khỏi phải
đóng phí. Thậm chí có chủ hàng biết thông tin hàng hoá của mình bị tổn thất rồi mới đến
mua bảo hiểm hoặc thông đồng với cán bộ của doanh nghiệp bảo hiểm để mua bảo hiểm
và nhận bồi thường cho tổn thất đó. Trên thực tế còn có việc tạo hiện trường giả các vụ tai
nạn, cháy hoặc chìm tàu, cố ý gây tai nạn trong bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm,
gian lận đối với người thứ ba, mặc dù đã nhận tiền bảo hiểm
Từ những hạn chế kể trên, để có thể phát triển bảo hiểm hàng hóa trong xuất nhập
khẩu thời gian tới, nhóm cho rằng cần đẩy mạnh những mặt sau:
1.8. Một số định hướng giải pháp cho bảo hiểm hàng hóa XNK

mình để giảm bớt chi phí phát sinh và nâng cao chi phí công việc. Bên cạnh đó, công tác
bồi thường phụ thuộc rất lớn vào việc triển khai các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất
và đơn giản hóa các thủ tục trong quá trình xét giải quyết khiếu nại, đòi bồi thường. Vì
thế để nâng cao chất lượng công tác này không chỉ cần làm tốt các công tác trên mà phải
có những biện pháp ngăn ngừa những gian lận có thể xảy ra trong quá trình khiếu nại đòi
bồi thường. Để ngăn ngừa những gian lận có thể xảy ra tổn thất khi xem xét khiếu nại đòi
bồi thường tổn thất cần phải xác định rõ các tổn thất. Kinh nghiệm thực tế của cán bộ là
khá quan trọng, bên cạnh đó, công ty nên đề ra những yêu cầu đối với KH về tinh thần
trung thực cũng như thiện chí khi ký kết hợp đồng đặc biệt là đối với những khách hàng
mới. Nếu họ vi phạm thì phải có thể xử lý theo mức độ nặng nhẹ khác nhau. Có thực hiện
được như trên thì mới đạt hiệu quả thiết thực trong việc ngăn ngừa gian lận trong bảo
hiểm hàng hóa XNK.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
Với những đặc điểm của mình, vận tải đường biển thường gặp phải rất nhiều rủi ro
bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì thế, để công tác đề phòng, hạn chế tổn thất
có hiệu quả thì công tác này cần được thực hiện ngay từ khi xếp hàng lên tàu và tiếp tục
duy trì trong suốt hành trình cho đến khi dỡ hàng tại cảng đến.
Để đề phòng tổn thất có thể xảy ra, các công ty nên chỉ định một công ty khác của
bảo hiểm tại bến cảng hoặc thuộc đơn vị chuyên trách tiến hành quá trình bốc xếp hàng
lên, xuống tàu nhằm ngăn chặn những công nhân bốc xếp không làm đúng quy cách hoặc
dùng phương tiện không thích hợp trong việc bốc xếp hàng hóa từ đó hạn chế được số vụ
bồi thường tổn thất. Ngoài ra công ty cũng cần chú ý tham mưu cho KH về các mặt: điều
kiện BH tốt nhất, chất lượng hàng, bao bì đóng gói, điều kiện bốc dỡ, tình trạng tàu, tình
trạng tài chính của tàu…
Thứ tư, hoàn thiện công tác phòng chống trục lợi bảo hiểm
Xét một cách toàn diện, đây là một trong những biện pháp không tác động trực tiếp
đến việc mở rộng bảo hiểm hàng hóa trong xuất nhập khẩu nhưng lại tối cần thiết để giảm
thiểu các rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm cũng như phòng tránh được rủi ro đạo đức
xuất phát từ cả phía khách hàng lẫn các nhân viên bảo hiểm. Do đó, hoàn thiện được công
tác phòng chống trục lợi bảo hiểm thông qua các cơ chế giám sát chặt chẽ và thỏa thuận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status