LUẬN VĂN: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Nhật Bản - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng
dệt may Việt Nam sang thị trường
Nhật Bản
Đặc biệt, ngành dệt may Việt Nam tại thị trường Nhật Bản đã và đang dần
khẳng định được chỗ đứng của mình. Thị trường Nhật Bản hiện đang là thị trường
xuất khẩu hàng dệt may lớn thứ 3 của Việt Nam. Thị trường này vốn nổi tiếng là một
thị trường khó tính trên thế giới. Khi ngành dệt may nước ta có thể đứng vững trên thị
trường Nhật thì chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào khả năng cạnh tranh của hàng
dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Để có thể hình dung ra được những khó khăn, thách thức cũng như tìm ra được
các giải pháp tháo gỡ cho ngành dệt may nước ta, em xin trình bày đề tài: “ Giải
pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Nhật Bản” với
các nội dung chủ yếu sau:
Chương I: Lý luận chung về xuất khẩu dệt may
Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu dệt may sang thị trường Nhật
Chương III: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị
trường Nhật Bản


gia khác nhằm mục đích thu lợi. Nếu xét ở góc độ kinh tế, mục đích của việc xuất
khẩu là thu lợi ích kinh tế, cụ thể là lợi nhuận. Nếu xét ở góc độ xã hội, mục đích của
xuất khẩu là nhằm thu được các lợi ích xã hội như an sinh, việc làm, nâng cao chất
lượng cuộc sống …
1.2.Vai trò của xuất khẩu
Đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh
tế và thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò của xuất
khẩu được thể hiện rõ ở các mặt sau:
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa và
hiện đại hóa.
Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát
triển ổn định.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng
cao năng lực sản xuất trong nước.
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng
lực sản xuất trong nước. Nghĩa là xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo ra vốn và
kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hóa kinh tế đất
nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới.
Xuất khẩu cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công
việc quản trị sản xuất và kinh doanh.
Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện
đời sống người dân.
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của
nước ta.
2. Đặc điểm ngành dệt may Việt Nam

Khả năng cạnh tranh của hàng dệt may nước ta ngày càng được cải thiện. Chất
lượng hàng dệt may Việt Nam ngày càng được nâng cao, nhiều thương hiệu Việt
Nam đã có thể vươn ra thị trường quốc tế, chinh phục được nhiều thị trường khó tính
yêu cầu cao cả về kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng sản phẩm như Mỹ, EU, Nhật Bản.
Đây là ba thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam.
Ở Việt Nam, dệt may cũng là một trong những ngành được chú trọng phát triển
khi Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với những ưu thế về nguồn
nhân công dồi dào, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh, Việt
Nam có thể đẩy mạnh hoạt động của ngành dệt may để vừa thu về giá trị xuất khẩu
lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, vừa giải quyết được việc làm
cho phần lớn người lao động.
Các sản phẩm của ngành may mặc nước ta khá đa dạng, phong phú. Sản phẩm của
ngành may mặc không chỉ được biết đến đơn thuần là các sản phẩm quần áo, mà
còn bao gồm những sản phẩm dùng trong các ngành và sinh hoạt như: lều, buồm,
chăn, màn, rèm…Với ngành may mặc Việt Nam, sản phẩm của ngành cũng rất đa
dạng nhằm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Những sản phẩm may mặc phổ biến thường
được xuất khẩu sang các thị trường chính của Việt Nam, như Mỹ, EU, Nhật Bản, là
quần dài, quần short, áo jacket, áo sơ mi, áo bông, áo thun…
2.2.Nhược điểm
Với mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dệt may là một
trong những ngành được chú trọng và ưu tiên phát triển trên cơ sở tận dụng nguồn
nhân công dồi dào, giá rẻ trong nước để thực hiện các đơn hàng may xuất khẩu của
nước ngoài. Đến nay, số lao động trong ngành may là trên 2 triệu lao động. Tuy
ngành may đã thu hút được nhiều lao động, nhưng tính ổn định của nguồn lao động
trong ngành lại không cao. Nguyên nhân chính là do mức thu nhập của công nhân
ngành may khá thấp so với các ngành khác. Do đó, người lao động không mấy mặn
mà với ngành may Họ sẵn sàng chuyển đổi sang những công việc khác có thu nhập

nguyên liệu sản xuất trong nước với giá thành rẻ hơn.
Trình độ công nghệ và năng lực sản xuất của các doanh nghiệp may Việt Nam
hiện nay vẫn còn thấp hơn 30 – 50% so với mặt bằng chung của khu vực. Với trình độ
như vây, khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam bị giảm đi phần nào.
Bảng 1: Hiện trạng năng lực sản xuất doanh nghiệp dệt may (2005)
Sản phẩm Số doanh nghiệp Năng lực sản xuất hàng năm
Các loại sợi 102 260 ngàn tấn
Dệt 135 680 triệu mét vuông
Sản phẩm dệt kim 56 300 ngàn tấn
Vải 1050 2000 triệu đơn vị sản phẩm
Nguồn: Hiệp hội Dệt May Việt Nam
Tuy nhiên, trong thời gian qua, một số doanh nghiệp cũng đã chủ động đầu tư cải
tiến về công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí,
từ đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Ngành dệt may trong nước là phụ thuộc quá nhiều vào một vài thị trường như Mỹ
(chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu), EU (17%), Nhật (8%) (theo số liệu năm
2008 của Hiệp hội dệt may Việt Nam). Do vậy, ngành dệt may nước dễ bị tác động
khi các thị trường trên gặp sự cố. Đặc biệt là vừa qua tình hình khủng hoảng trên toàn
thế giới, nhu cầu tiêu thụ hàng giảm mạnh do người dân các thị trường lớn thắt chặt
chi tiêu. Nhiều đơn đặt hàng từ nước ngoài bị rút lại cũng đã gây ảnh hưởng khá lớn
đến hoạt động xuất khẩu dệt may của nước ta. Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu dệt may sang thị trường Nhật
Bản của Việt Nam
1.Tình hình nhập khẩu dệt may của Nhật Bản
Nhật Bản – nền kinh tế lớn thứ hai thế giới - là một thị trường lớn với dân số

hải quan tại cảng đến (thông tin chi tiết có thể liên hệ văn phòng thương mại quốc tế
và công nghiệp khu vực hoặc Hiệp hội nhập khẩu hàng dệt Nhật Bản).
1.1.2.Hàng rào phi thuế quan
Về hạn ngạch, một số mặt hàng có hạn ngạch tối đa cho từng nước xác định vào
đầu mỗi năm tài chính và phải qua kiểm tra hàng ngày, theo đó nhập khẩu được tính
toán hàng ngày và mức thuế tối huệ quốc (MFN) được áp dụng 2 ngày sau khi mức
hạn ngạch tối đa nói trên bị vượt quá.
Thứ hai là các quy định về luật liên quan đến nhập khẩu, nhìn chung, hàng dệt
may vào thị trường Nhật Bản không phải theo một quy định nào, hay nói cách khác là
được nhập tự do vào Nhật. Hàng dệt may có sử dụng một phần da hay phụ kiện da
phải tuân thủ theo công ước Washington.
Về nhãn hiệu hàng hoá, Luật hàng hoá đạt chất lượng tốt yêu cầu hàng dệt may
phải có nhãn hiệu với các thông tin sau:
- Loại sợi dệt, tỉ lệ sợi pha
- Cách giặt và sử dụng
- Loại da được sử dụng
- Nhãn phải ghi rõ tên, địa chỉ, số điện thoại có thể liên hệ.
Tuy vậy, doanh nghiệp xuất khẩu dệt may vào Nhất cần quan tâm tới một số quy
định luật pháp thương mại tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn đến việc tiêu thụ hàng hóa:
Luật trách nhiệm sản phẩm:Luật trách nhiệm sản phẩm được áp dụng đối với các
sản phẩm nói chung và sản phẩm nhập khẩu nói riêng. Luật này được ban hành vào
tháng 7-1995 để bảo vệ người tiêu dùng. Luật này quy định nếu như một sản phẩm có
khuyết tật gây ra thương tích cho người hoặc thiệt hại về của cải thì nạn nhân có thể
đòi nhà sản xuất bồi thường cho các thiệt hại xảy ra liên quan đến sản phẩm có khuyết
tật và các quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và khuyết tật của sản phẩm.
Quy định tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản-JIS:Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật
Bản JIS là một trong những tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi ở Nhật. Tiêu chuẩn này

-Hàng từ nguyên liệu thô: ít có ở Nhật, ví dụ hàng Casomia, angora, mohair
-Sản phẩm dùng nhiều sức lao động: những sản phẩm làm bằng tay được sản xuất
ở các nước có mức tiền lương thấp
-Sản phẩm thủ công truyền thống
Từ năm 1997 do thuế tiêu thụ tăng, đồng yên mất giá nên mức tiêu dùng bị giảm,
rõ nhất là hàng may mặc của nam giới và trẻ em. Trước tình hình đó, các nhà kinh
doanh hàng dệt may Nhật bản đã nhanh chóng thay đổi cơ cấu kinh doanh, thu hẹp
qui mô sản xuất, đặc biệt tập trung nghiên cứu các sản phẩm mang tính thời trang,
vòng đời ngắn. Hiện nay, hình thức kinh doanh theo kiểu người sản xuất đảm nhận
luôn khâu bán hàng đã trở nên thông dụng ở Nhật.
1.3.Xu hướng nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản
Nhật Bản là một nước có nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới và nhập khẩu dệt may
hàng đầu, Nhật Bản có sức ảnh hưởng lớn đến nhu cầu hàng hoá và dịch vụ của thế
giới. Cụ thể hơn, Nhật như là một nhà tiêu thụ quần áo chủ chốt và tầm ảnh hưởng
của xu hướng thời trang tại quốc gia này không thể phủ nhận. Nhật Bản chỉ đứng sau
Mỹ về chi tiêu cho quần áo và nhu cầu về bông.
Nhập khẩu hàng may mặc vào Nhật năm 1999 đạt 681,529 tấn (tăng 20% so với
năm trước) và đạt 1.622 tỷ yên (giảm 3,7% về giá trị). Hàng may mặc nhập khẩu vào
Nhật tăng rất nhanh vào những năm 80 và tiếp tục tăng với tốc độ khá vào những năm
90. Năm 1997, khi đồng yên mất giá và tiêu dùng giảm, hàng nhập khẩu chứng lại và
giảm dần. Xu hướng này vẫn tiếp tục vào năm 1998. Sau đó, với những biện pháp
tăng cường tiếp thị tới tận tay người tiêu dùng và các cửa hàng tăng cường giảm giá
đối với những mặt hàng có nhu cầu thấp để kích thích người mua hàng, từ năm 1999
đến nay thị trường hàng nhập khẩu có xu hướng phục hồi. Hiện Nhật Bản là thị
trường lớn thứ hai trên thế giới về tiêu thụ hàng dệt may, trong đó thị trường thời
trang hàng ngày cho tầng lớp phụ nữ trẻ chiếm khoảng 60% trong tổng thể thị trường
quần áo và có trị giá khoảng 28 tỷ USD.

Mặc dù cả quần áo dệt kim lẫn dệt thoi nhập khẩu vào Nhật đều tăng trong giai đoạn
này nhưng nhu cầu hàng dệt kim tăng rõ ràng hơn cả. Tại cả thị trường Nhật lẫn Mỹ,
sự phát triển mạnh của chất liệu bông trong quần áo dệt kim được thể hiện trong
doanh số bán lẻ và khối lượng nhập khẩu.
1.4.Thị phần nhập khẩu và xuất xứ hàng dệt may ở thị trường Nhật
Từ năm 1987 trở lại đây, hàng nhập khẩu luôn chiếm tới 60% tính về giá trị và
trên 60% tính về số lượng trên thị trường Nhật. Trung quốc đứng đầu danh sách xuất
khẩu hàng dệt may sang Nhật bản, chiếm 60-80%. Hiện nay, nhập khẩu từ Hàn quốc,
Đài loan, Hongkong giảm dần trong khi nhập khẩu từ Việt nam, Thái lan, Indonexia,
và các nước ASEAN khác ngày một gia tăng. Thị trường nhập khẩu sản phẩm dệt
may của Nhật Bản rất lớn. Trung bình mỗi năm, Nhật nhập khẩu hàng dệt may nhiều
nhất là Trung Quốc với tỷ trọng 73,6%, tiếp đến là EU 8,1%, Mỹ 2,5%, Đài Loan
1,3%, ASEAN chiếm 7,5% và Việt Nam hiện là đối tác lớn nhất của Nhật Bản trong
khối ASEAN với lượng hàng dệt may xuất khẩu chiếm 34,4% trong khối ASEAN,
chiếm gần 3% thị phần tại Nhật.

2.Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản của Việt Nam qua các năm
(từ 1998 tới nay)
Theo đánh giá của Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, quan hệ thương mại Việt-
Nhật đang phát triển với tốc độ cao. Nhật luôn duy trì vị trí là một trong 3 thị trường
xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam sau Mỹ và EU. Trong quan hệ thương mại với
Nhật Bản, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây luôn đạt tốc
độ phát triển khá cao, tăng trung bình từ 15-20% so với năm trước. Trong cán cân
thương mại, Việt Nam luôn là nước xuất siêu.
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang Nhật, mặt hàng dệt may là mặt hàng có
kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam sang Nhật Bản từ trước tới nay.Điển hình
trong năm 2005,hàng dệt may đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong 10 mặt hàng

8
199
9
200
0
200
1
200
2
200
3
200
4
200
5
200
6
200
7
2008KN XK dệt may
sang Nhật
321 417 620 588 521 514 531 604 636 700 820
KNXK dệt may
sang Mỹ
26 34 50 45 951
197
3

2
365
4
436
8
483
8
592
7
778
0
9130

Nguồn : www.vietnamtextile.org
Bên cạnh đó, dựa vào Biểu đồ thể hiện kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam
sang Nhật Bản từ 1998 tới nay, và ước tính năm 2009, 2010, 2015 ta có thể thấy
được xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang Nhật cũng có nhiều biến động, cụ thể
là tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng giảm thất thường qua các năm. Trong giai
đoạn 1998-2000, kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng mạnh từ 321 triệu USD năm
1998 tới năm 2000 kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Nhật đạt 620 triệu USD.
Nhưng sau đó lại giảm đi chỉ còn 514 triệu USD năm 2003; từ năm 2003 tới năm
2008 kim ngạch xuất khẩu mới tăng lên mức 820 triệu vào năm 2008.Như vậy, kim
ngạch xuất khẩu dệt may sang Nhật mới chỉ gấp 1,6 lần trong 5 năm trở lại đây. Theo
thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy, 6 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may qua thị trường Nhật Bản ước đạt 440 triệu USD, tăng 22% so với cùng
kỳ năm 2009. Trong đó, các mặt hàng áo thun, áo sơ mi, đồ lót đều tăng mạnh.
Biểu đồ 1: kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam sang Nhật Bản từ 1998
tới nay, và ước tính năm 2009, 2010, 2015 (đơn vị: triệu USD)
2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

T
ỷ t
r
ọng
(%)
23,8 23,9 32,8 30,0 18,9 14,0 12,1 12,5 10,7 9,0 9,0
Nguồn: tự tổng hợp
Giai đoạn trước năm 2000 là giai đoạn hàng dệt may xuất khẩu sang Nhật đạt tỷ
trọng lớn với tốc độ tăng kim ngạch mạnh mẽ, sang giai đoạn từ sau năm 2000 tỷ
trọng hàng dệt may sang thị trường Nhật Bản trong cơ cấu thị trường hàng dệt may
nước ta bắt đầu đi xuống. Năm 2000, kim ngạch hàng dệt may sang Nhật chiếm
32,8% kim ngạch xuất khẩu dệt may cả nước tới năm 2008 chỉ còn 9%, mức giảm
bình quân là 2,5% một năm.
Bên cạnh đó, ta cũng có thể thấy rõ sự suy giảm về tỷ trọng hàng dệt may xuất

49,9 triệu USD/năm.
Bảng 5: Bảng thể hiện sự thay đổi trong kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
sang thị trường Nhật Bản từ năm 1998 tới năm 2008
Năm

1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

KN XK dệt
may sang Nhật

321 417 620 588 521 514 531


2909 3542 4340 5240 6090 8538T
ỷ trọng (%)

21.19

23.34

24.07

23.43

21.37

2002

So với
2001
2003

So với
2002
2004

So với
2003
2005

So với
2004
2006

So với
2005
2007

So với
2006
2008

So với
2007
Chênh
lệch KN

Về mặt cơ cấu, trong năm 2008, xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang thị
trường Nhật Bản đạt được mức tăng trưởng khá chủ yếu nhờ kim ngạch xuất khẩu các
mặt hàng áo kimono, áo thun, áo sơ mi, khăn bông, váy… tăng mạnh so với năm
2007. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu áo kimono sang Nhật Bản đạt cao nhất với mức
tăng trưởng mạnh, gần 131 triệu USD, tăng 43,2% so với năm 2007. Tiếp đến là mặt
hàng quần, đạt 118,29 triệu USD, nhưng giảm 5,7% so với năm 2007, áo thun là mặt
hàng có tốc độ tăng mạnh nhất với 161,1%, đạt 81,37 triệu USD. Ngoài ra, một số
mặt hàng cũng đạt được tốc độ tăng trưởng cao như áo sơ mi tăng 36,3%, váy tăng
59%…
Trong 17 nhóm hàng dệt may (trên 10 triệu USD) mà Nhật Bản nhập khẩu từ
Việt Nam thì có đến 11 nhóm hàng đang trong xu hướng tăng, trong đó có nhóm áo
thun tăng đến trên 161%, tiếp đến là nhóm váy tăng trên 58%, áo kimono tăng 43%
và áo sơ mi tăng 36,5%. Việc gia tăng nhập khẩu hàng dệt may từ Việt Nam của Nhật
Bản cho thấy, hàng dệt may Việt Nam đã từng bước chinh phục được giới tiêu dùng
khó tính của nước này.
Theo VITAS đánh giá kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Nhật
Bản tăng cao trong thời gian gần đây chủ yếu nhờ sự vực dậy của mặt hàng áo
kimono, áo sơ my, áo thun Còn những sản phẩm chủ lực khác như đồ lót, tơ tằm,
khăn bông lại giảm. Điều này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu dệt may của Việt Nam
vào Nhật Bản chưa thực sự bền vững. Nhật Bản là thị trường không hạn ngạch lớn
nhất của hàng dệt may Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, đặc biệt từ
năm 1994. Vào thời điểm năm 1997, Việt Nam đã trở thành một trong 7 nước xuất
khẩu quần áo lớn nhất vào Nhật Bản với thị phần hàng dệt thoi là 3,6% và dệt kim là
2,3%.
2.5.Đánh giá thị phần hàng dệt may Việt Nam ở Nhật Bản
Như ta đã biết, thị phần hàng dệt may ở Nhật Bản của Trung Quốc là lớn nhất
chiếm 60-80%.Và Nhật Bản cũng nhập khẩu hàng dệt may từ rất nhiều nước khác
trên thế giới. Do đó, nước ta chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ ở Nhật Bản.
Bảng 5 : Thị phần hàng dệt may trên thị trường Nhật năm 2007


S. Korea 258 1.1
United States 198 0.8
Malaysia 170 0.7
India 157 0.7
Indonesia 134 0.6
Myanmar 95 0.4
Philippines 78 0.3
Taiwan 61 0.3
Nhật Bản.
Theo số liệu thống kê, năm 2008 có 575 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng
dệt may sang Nhật Bản, tăng 10 doanh nghiệp so với năm 2007. Trong đó, số lượng
doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lần đầu sang thị trường này khá lớn và nhiều doanh
nghiệp đạt được kim ngạch xuất khẩu cao. Có khoảng 10 doanh nghiệp đạt kim ngạch
xuất khẩu từ 1-5 triệu USD.
Trong năm 2008, Tổng công ty may Việt Tiến là đơn vị đi đầu trong xuất khẩu
hàng dệt may sang Nhật Bản cả về trị giá và tốc độ tăng trưởng, đạt 56,3 triệu USD,
tăng 36% so với năm 2007.Sang tháng 1/2009, nước ta có 290 doanh nghiệp tham gia
xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nhật Bản, tăng 20 đơn vị so với cùng thời
điểm này năm 2008.

3.Kết luận về tình hình xuất khẩu hàng dệt may nước ta sang thị trường Nhật
Bản:
Đã trên 35 năm trôi qua kể từ ngày Việt Nam và Nhật bản chính thức thiết lập
quan hệ ngoại giao năm 1973, quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước đã trải qua
rất nhiều thăng trầm. Ngành dệt may nước ta xuất khẩu sang Nhật cũng đã đạt được
rất nhiều thành tựu song cũng có không ít những hạn chế còn tồn tại.
3.1.Thành tựu

Bên cạnh những thành tựu đạt được nêu trên, hàng dệt may nước ta sang Nhật
còn tồn tại những mặt còn hạn chế như sau :
Mặt hạn chế đầu tiên mà ta có thể dễ dàng nhận thấy là thị phần hàng dệt may
trên thị trường Nhật Bản của nước ta hiện nay vẫn còn quá nhỏ bé chỉ khoảng từ 1%
tới 3%. Con số này thấp hơn rất nhiều so với Trung Quốc (từ 60% tới 80%). Khả
năng mở rộng thị phần hàng dệt may nước ta trên thị trường Nhật Bản trong những
năm trước 2008 vẫn còn chưa tương xứng với quan hệ hai nước. Trong 5 năm từ 2001
tới 2007 mới chỉ chiếm được 2% thị phần.Tuy vậy, chúng ta hoàn toàn có thể tin
tưởng sẽ mở rông thị phần hơn nữa trong thời gian tới khi Hiệp định EPA đi vào thực
tiễn, hàng dệt may nước ta sẽ có thêm lợi thế ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu vào thị
trường Nhật Bản.
Hai là xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật vẫn chưa thật sự bền vững, ổn định. Ta
có thể thấy rõ điều này khi kim ngạch dệt may thay đổi thất thường trong những năm
trở lại đây. Giai đoạn 1998-2000, kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng mạnh từ 321
triệu USD năm 1998 tới năm 2000 kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Nhật đạt 620
triệu USD. Nhưng sau đó lại giảm đi chỉ còn 514 triệu USD năm 2003; từ năm 2003
tới năm 2008 kim ngạch xuất khẩu mới tăng nhẹ lên mức 820 triệu vào năm 2008.
Bên cạnh đó, trong tỷ trọng hàng dệt may nước ta trong tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may của cả nước và tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nước ta sang thị
trường truyền thống này có dấu hiệu suy giảm. Năm 2000, kim ngạch hàng dệt may
sang Nhật chiếm 32,8% kim ngạch xuất khẩu dệt may cả nước tới năm 2008 chỉ còn
9%.
Thứ ba, số lượng doanh nghiệp dệt may nước ta có thể xuất khẩu sang Nhật tuy
có tăng qua các năm nhưng chỉ chiếm một phần nhỏ trên tổng số hơn 2000 doanh
nghiệp xuất khẩu hàng dệt may nước ta năm 2008.
3.3.Nguyên nhân những hạn chế
Những hạn chế kể trên của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status