GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 1/18
Tiểu luận QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ ĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 2/18
đại chúng.
Ngày nay, các công ty đại chúng thường thất bại trong xác định và quản lý các rủi ro. Ví
dụ, cuối năm 2007, một cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực thế chấp dưới chuẩn phát sinh từ
một trong những "tính toán sai lầm tồi tệ nhất trong lịch sử của quản lý rủi ro". Trong thực tế,
hệ thống quản lý rủi ro yếu kém có nguy cơ đe dọa kinh tế vĩ mô và dẫn đến cuộc khủng
hoảng tài chính. Trong lịch sử, quản trị rủi ro trong các công ty đại chúng ở Mỹ không phải lúc
nào cũng hoạt động tốt. Có thể minh chứng ở trường hợp đưới đây.
A. Đánh cược với các tranh chấp
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 3/18 Cuộc chiến của Pennzoil và Texaco là một minh chứng điển hình cho nguy cơ của các
cuộc tranh chấp. Vào 3/1/1984, ban điều hành Công ty Getty Oil (cùng với các đơn vị trực
thuộc) đã thống nhất bằng miệng là cho phép bán Getty cho Pennzoil. Sau đó Texaco gây cản
trở thỏa thuận này bằng cách trả giá cao hơn. Penzoil đã kiện Texaco ra tòa và phải bồi thường
một khoản tiền là 11 tỷ USD cho Penzoil, đây là vụ tranh chấp dân sự lớn nhất từ trước đến
giờ. Cuối cùng Tecxaco tuyên bố phá sản và mắc nợ 3 tỷ USD. Có thể thấy rằng ban điều hành
của Texaco đã không hiểu được rủi ro khi theo đuổi Getty và cũng như thất bại trong những
cuộc tranh chấp với chính Penzoil. Báo cáo kiểm toán giúp được rất ít trong việc này, bởi vì
phần lớn vụ kiện tụng không được thể hiện trong báo cáo kiểm toán cũng như không được hỗ
trợ bởi các chuyên gia pháp lý mà điều này lại rất có ý nghĩa với Ban điều hành.
B. Quản lý kém nguồn nhân lực
Việc quản lý kém nguồn nhân lực cũng đem đến nhiều rủi ro cho doanh nghiệp. Ví dụ
điển hình là Công ty Texaco Oil (và các cổ đông) trong suốt thời gian mà chủ nghĩa phân biệt
chủng tộc bên trong Texaco được đưa ra ánh sáng. Cơn ác mộng về nguồn nhân lực tại Texaco
đã bắt đầu từ năm 1994, khi mà những công nhân Mỹ gốc Phi tiến hành một vụ kiện chống lại
công ty, cáo buộc phân biệt chủng tộc. Hành vi phân biệt đối xử của Texaco bị phát hiện trong
Tổng số thua lỗ của Nick Leeson lên đến trên 1.3 tỷ đôla. Ngân hàng Barings bị sụp đổ ngày
26 tháng 2, 1995.
Gần đây, một nhà giao dịch lừa đảo đã lạm dụng gây ra khoản thiệt hại đến 7.2 tỷ đôla
cho một Ngân hàng lớn tại Pháp, điều này cho thấy rằng quản lý rủi ro trong lĩnh vực này đã
hầu như không được cải thiện. Bản thân từ bài học của Leeson đã cho thấy vấn đề cốt lõi là
thường tập trung quá nhiều vào "lợi nhuận” trước mắt mà không quan tâm đến việc quản trị rủi
ro.
D. Gian lận trong kế toán và quản trị doanh nghiệp yếu kém
Tầm quan trọng của quản trị doanh nghiệp và nguy cơ gian lận trong kế toán đã được thể
hiện qua bài học sự sụp đổ bất ngờ của Enron trong năm 2001. Enron tập trung quá mức vào
giá cổ phiếu của mình. Chiến lược của tổng giám đốc điều hành Kenneth Lay và Jeffrey
Skilling tiếp tục thâm nhập thị trường mới và thành lập các công ty con để thổi phồng giá trị
công ty cũng như cổ phiếu. Enron sử dụng các tài khoản ngoài bảng để che giấu các khoản lỗ
và kéo lãi về công ty mẹ. CFO của Enron nhận được hàng chục triệu đôla chỉ trong vài năm từ
việc vận dụng "mục đích riêng theo hướng có lợi cho đơn vị". Các gian lận kế toán tại Enron
dẫn đến việc sụp đỗ của Arthur Andersen, công ty vừa tiến hành kiểm toán vừa tư vấn hệ
thống kế toán cho Enron.
Sự sụp đổ của Enron kéo theo một loạt các vụ bê bối khác trong năm 2002 như: Bristol-
Myers Squibb, Qwest, Xerox, WorldCom, and Global Crossing… Các vụ bê bối này nêu bật
những thiếu sót nghiêm trọng trong quản trị doanh nghiệp. Quốc hội Mỹ sớm thông qua Đạo
luật Sarbanes-Oxley năm 2002 trong nỗ lực cải cách chức năng kiểm toán của các công ty đại
chúng nói riêng và cải cách việc quản trị doanh nghiệp nói chung.
Mỗi một vụ kiện trong tổng số các sự kiện trên cùng nêu ra một câu hỏi: Cách thức thích
hợp nào cho việc quản lý rủi ro tiềm năng một cách toàn diện nhất trong môi trường kinh
doanh?
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 5/18
danh mục đầu tư và lượng hóa các rủi ro về thương mại. Dựa trên lý thuyết của Markowitz,
William Sharpe và John Lintner và xây dựng nên mô hình định giá tài sản (CAPM), là mô
hình dùng để đo lường rủi ro chứng khoán. Vào năm 1973, Fisher Black và Myron Scholes
cho xuất bản về giá quyền chọn, nó nhanh chóng trở thành lý thuyết phát triển có ảnh hưởng
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 6/18 nhất đến thực tiễn, vào năm 1977, Scholes, kết hợp với Robert Merton, cùng nhận được giải
Nobel Kinh tế. Các nghiên cứu này đã cung cấp phương pháp định lượng rủi ro mang tính
cách mạng trong lĩnh vực tài chính và kinh tế. Phương pháp định lượng rủi ro chưa từng có
trước đây.
Trước năm 1970, lãi suất và tỷ giá hối đoái tương đối ổn định và lạm phát chưa được
quan tâm nhiều. Tất cả những điều này đã thay đổi kể từ năm 1971, với sự sụp đổ của hệ thống
Bretton Woods, cố định giá trị tương đối của những tỷ giá lớn vào đồng dollar Mỹ. Tỷ giá tăng
lên đáng kể từ khi chuyển sang chế độ tỷ giá thả nổi. Hơn nữa, cùng với tỷ lệ lạm phát cao từ
cuối năm 1960 đến đầu những năm 1980, đã tạo ra rủi ro lãi suất đáng kể. Trong những năm
1970, giá dầu trở thành một nhân tố chính khi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC)
hạn chế sản xuất để tăng giá. Rủi ro tài chính nổi lên nhanh chóng như một mối quan tâm hàng
đầu trong quản lý rủi ro. Nhu cầu về các công cụ quản lý rủi ro và các công thức toán học để
cung cấp công thức tính cũng vì thế mà tăng theo. Thế giới chứng kiến sự đổi mới nhanh
chóng và sự tiến hóa trong sự hiểu biết và quản lý rủi ro tài chính. Trong vòng một vài năm,
các tổ chức và các doanh nghiệp đã tận dụng những công cụ này và từ “công cụ phái sinh” trở
thành một thuật ngữ phổ biến
Trong những năm 1990, quản lý rủi ro doanh nghiệp hay còn gọi là ERM, lần đầu tiên
xuất hiện như là một phương pháp tiếp cận mới, nhận biết để quản lý rủi ro. Theo tác giả,
ERM là một sự phát triển tự nhiên, là đại diện cho một phương pháp tiên tiến và tinh vi hơn để
quản lý rủi ro. Một số nguồn tin đã nói đến ERM như một mô hình quản lý rủi ro mới.
B. Thực trạng quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp
hành bởi một bộ phận giám sát cao
cấp
- Là một tiến trình liên tục - Phạm vi rộng: Cho tất cả các rủi ro
và cơ hội của doanh nghiệp
Ủy ban các tổ chức bảo trợ Treadway ("COSO") đã định nghĩa quản trị rủi ro doanh
nghiệp là quá trình, chịu ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, cấp quản lý và các cá nhân khác,
được ứng dụng trong việc đề ra chiến lược; và được thiết kế để nhận định các vấn đề tiềm
năng có thể làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp, và quản lý rủi ro trong khả năng có thể, cung
cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Định nghĩa COSO được hiểu theo nghĩa rộng hơn là giải quyết những rủi ro và các cơ hội
có ảnh hưởng giá trị được tạo ra cũng như giữ gìn nó. Tuy nhiên, các nhóm khác lại xác định
quản lý rủi ro doanh nghiệp ở phạm vi hạn hẹp hơn. Ví dụ, Thống Kê Bảo Hiểm Xã Hội
("CAS") đã định nghĩa quản lý rủi ro doanh nghiệp như là "quá trình (đánh giá, kiểm soát, khai
thác, tài chính, và giám sát rủi ro từ tất cả các nguồn) làm gia tăng các giá trị ngắn hạn và dài
hạn của doanh nghiệp và cổ đông". CAS đã liệt kê các nguy cơ cần phải quản lý là các mối
nguy, tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và các chiến lược. Vấn đề được đặt ra ở đây là
“không thể đưa ra một mô hình thích hợp cho tất cả các doanh nghiệp” về việc làm thế nào để
nhận biết rủi ro trong tất cả các tổ chức và trong các công ty đa quốc gia.
Trong khi có những tranh cãi giữa lý thuyết và thực tiễn về việc áp dụng ERM thì các
hướng dẫn bên ngoài như là Các Tiêu Chuẩn Quản Lý Rủi Ro ở Úc hay ở New Zealand,
COSO, Group of Thirty Report tại Hoa Kỳ (theo sau là những tai họa trong những năm 1990),
Mô hình tiêu chuẩn kiểm soát được phát triển bởi Viện Kế toán Canada ("CoCo"),
Báo cáo của
Số lượng công ty thực hiện quản trị rủi ro tăng lên – cho thấy càng có nhiều hệ thống
xem xét những rủi ro tiềm ẩn đồng thời làm giảm nhẹ hậu quả trong quá khứ. Các doanh
nghiệp có nhiệm vụ xác định rủi ro, nếu có thể, định lượng và làm thế nào để giảm thiểu
chúng. Những đánh giá này ở cấp độ công ty, đôi khi trực tiếp từ các hội đồng quản trị hoặc
ban kiểm soát. Những đánh giá này được thực hiện trên nhiều lĩnh vực như như uy tín doanh
nghiệp, tranh chấp, phát triển sản phẩm, và những rủi ro về sức khỏe và an toàn, hơn là chỉ tập
trung rủi ro tài chính. Khi những đánh giá trên được thực hiện sẽ mang lại thuận lợi cho công
ty, nhất là khi có sự tham gia tích cực của hội đồng quản trị và ban kiểm soát.
ERM tiếp tục gia tăng tầm quan trọng, một phần là kết quả của Đạo luật Sarbanes-Oxley
năm 2002, trong đó đặt trách nhiệm lớn hơn vào hội đồng quản trị để hiểu rõ và giám sát rủi
ro của tổ chức, đặc biệt các vấn đề mà kiểm toán đưa ra.
Để hướng dẫn cho việc thực hiện ERM, một số khung lý thuyết đã được phát triển và
được biết đến rộng rãi nhất là khung lý thuyết COSO mang tên Quản trị rủi ro doanh nghiệp –
khung lý thuyết tích hợp, ban hành năm 2004. Khung lý thuyết này cung cấp một công cụ tiêu
chuẩn để giúp các tổ chức vạch ra lộ trình để hướng đến việc thực hiện hệ thống ERM một
cách toàn diện. Dưới góc độ ERM, rủi ro có thể được phân loại theo hai nghĩa rộng hơn: rủi ro
cơ bản (rủi ro mà một công ty cần phải có lợi thế cạnh tranh để xử lý những vấn đề trong mô
hình kinh doanh của họ) và rủi ro không cơ bản (những rủi ro có thể được phòng ngừa hoặc có
thể chuyển giao thông qua kỹ thuật quản lý rủi ro).
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 9/18 Nhằm cho thấy vì sao doanh nghiệp nên thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro, thì trước
tiên cần phải giải thích được vấn đề: "Tại sao nhiều công ty không sử dụng ERM?" Bằng
chứng từ các cuộc nghiên cứu và khảo sát đã chỉ ra rằng, đến nay, chỉ có khoảng 10% các
công ty lớn tuyên bố đã thực hiện nhiều khía cạnh của ERM, trong khi gần như tất cả những
công ty khác nói rằng họ có kế hoạch để làm điều đó trong tương lai. Một điểm khó khăn
trong việc triển khai các chương trình ERM là do sự hạn chế về thông tin, kể cả các tình
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 10/18 khứ đã cho thấy rằng nguy cơ thua lỗ rất dễ đổ ập vào những doanh nghiệp thiếu sự chuẩn bị.
Chương trình ERM có thể giúp các tổ chức thành công và thịnh vượng nếu chúng được thực
hiện đúng đắn và giám sát kỹ lưỡng bởi các các trưởng bộ phận và ban lãnh đạo trong tổ chức.
Các đại biểu tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Hội đồng Quản trị dành cho Doanh nghiệp / Nhà
đầu tư tổ chức tại London vào tháng 7 năm 2005 đã phát biểu rằng:
Nên khuyến khích việc áp dụng rộng rãi chương trình quản trị rủi ro doanh nghiệp
(ERM) như là một quy trình hiệu quả để tiếp cận và đối phó với những rủi ro họat động và
những nguy cơ mang tính chiến lược. Tầm quan trọng của việc này thể hiện không chỉ ở chỗ
giúp cho doanh nghiệp hiểu rõ định hướng phát triển lâu dài của mình, mà còn giúp truyền tải
đến thị trường những thông điệp rõ ràng về chiến lược đó.
III. LUẬT QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
Như đã trình bày ở trên, ERM đã hỗ trợ quản lý tài chính một cách hiệu quả thông qua
việc tăng cường xác định và quản lý được tất cả các rủi ro mà công ty phải đối mặt. Phương
pháp quản lý rủi ro này mang tính hệ thống, toàn diện và đã được trải nghiệm thực tế và cho
thấy kết quả là ERM đã được thực hiện như quan điểm lý thuyết của nó. Các yếu tố chủ chốt
để thực hiện chương trình ERM thành công, có thể liên quan đến quản trị doanh nghiệp, thì
quản trị rủi ro phải mang tính minh bạch và khái quát, tránh quản lý rủi ro theo cơ chế đóng,
và phải có sự tham gia của các cấp lãnh đạo (nhất là hội đồng quản trị) trong việc quả trị rủi ro.
Thật không may là các quy định về quản trị doanh nghiệp không đủ khái quát để kiểm soát
lĩnh vực tài chính hiện nay.
Thay vào đó, luật quản trị doanh nghiệp ở cấp tiểu Bang cho phép doanh nghiệp tự quản
lý để thực hiện ERM hoặc không có khung ERM ở tất cả doanh nghiệp. Hội đồng quản trị chỉ
đơn thuần được trao quyền để quản lý doanh nghiệp họ khi thấy là hợp lý và không có thành
thạo việc quản lý rủi ro hay việc kiểm soát rủi ro. Đối với các công ty đại chúng, điều này có
nghĩa là CEO là trung tâm của việc quản lý rủi ro. Đây là kết quả tự nhiên của việc sở hữu
lượng cổ phần lớn kết hợp với năng lực của CEO mà hội đồng quản trị chọn lựa và trách
này cùng với những yêu cầu khác trong việc niêm yết tỷ giá hối đoái, đã tạo ra nhiều động lực
tích cực cho việc hình thành một khung quản lý rủi ro hiệu quả hơn tại các công ty đại chúng.
Tuy nhiên, đạo luật này chỉ tập trung vào chức năng kiểm toán và việc tuân thủ luật pháp.
Chức năng tuân thủ luật pháp chủ yếu là một cơ chế tự nguyện và mới thực hiện tại một số ít
các công ty đại chúng. Ở khía cạnh của chức năng kiểm toán, dĩ nhiên đạo luật SOX đã chuyển
việc kiểm soát chức năng kiểm toán từ CEO sang hội đồng quản trị. Các rủi ro không được
công bố chi tiết. Chẳng hạn, rủi ro về kiện tụng/tranh chấp nói chung là sẽ không được công
bố một cách chi tiết theo như thông lệ kiểm toán. Tương tự, những giao dịch ngoài bảng cân
đối vẫn có thể đưa một công ty đến những rủi ro lớn, thậm chí là sống còn mà những rủi ro đó
vẫn không được công bố rộng rãi. Do đó, cải cách về kiểm toán không thích hợp với quản lý
rủi ro.
Thực tế, cả đạo luật SOX hay các quy định, các luật khác về quản trị doanh nghiệp không
yêu cầu rủi ro phải được xác định và quản lý một cách có hệ thống trong doanh nghiệp. Cũng
không có yêu cầu công ty trong việc quản lý rủi ro ở cấp độ hội đồng quản trị hay thông qua
một ủy ban thuộc hội đồng quản trị. Do đó, mặc dù có nhiều nổ lực trong cuộc cải cách SOX,
quản lý rủi ro vẫn có thể theo ý của CEO.
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 12/18 Sự kiện gần đây tại các thị trường tài chính toàn cầu tiếp tục chứng minh sự thấp kém của
chế độ quản trị doanh nghiệp chúng ta cho tới khi quản trị rủi ro được quan tâm. Trong mùa hè
2007, đã xảy ra rủi ro lớn về định giá và công bố thông tin không đầy đủ làm xuất hiện rủi ro.
Đặc biệt, định giá trong thị trường cho vay mua bất động sản dưới chuẩn làm ảnh hưởng thị
trường vốn toàn cầu tác động đến khả năng thanh toán của các thể chế tài chính lớn nhất trên
thế giới và làm cho nguồn vốn bị giảm sút. Tính bất ổn định của các khoản lỗ do cho các
khách hàng dưới chuẩn vay mua nhà và việc thiếu tính minh bạch trong việc xác định tổ chức
nào gây ra rủi ro đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng tín dụng và thanh toán trong lĩnh vực tài
chính.
kiểm soát, đây là lần đầu tiên quy định bắt buộc về điều này. SOX yêu cầu thành viên trong
ban kiểm soát phải có kiến thức chuyên môn và yêu cầu giải trình trong trường hợp ban kiểm
soát không có thành viên có bằng cấp chuyên môn. Ngoài ra, SOX cho phép ban kiểm soát có
quyền kiểm tra hoạt động kiểm toán và giám sát các kiểm toán viên của công ty cổ phần. SOX
cũng cung cấp quy chế liên bang của các kiểm toán viên và thành lập ra một bộ phận điều
hành mới, đó là Ban Giám sát Kế toán các công ty đại chúng, để giám sát việc thực thi các quy
định. Cuối cùng, SOX không cho phép CEO kiểm soát chức năng kiểm toán.
Tác giả Tác giả không ủng hộ sự can thiệp bằng các quy định pháp luật trong việc quản
trị rủi ro. Thứ nhất, không giống như nhiệm vụ kiểm toán, có rất ít sự thống nhất trong việc
quản trị rủi ro. Các doanh nghiệp khác nhau có các dạng rủi ro khác nhau và do đó biện pháp
để quản trị rủi ro tối ưu cũng khác nhau. Thứ hai, quản lý rủi ro đang tiến triển theo hướng
lành mạnh, ít nhất là tại một số công ty, và sự ảnh hưởng của chính phủ dường như không thúc
đẩy sự phát triển theo hướng tích cực. Thứ ba, bởi vì ERM vẫn còn trong giai đoạn phôi thai
nên các dữ liệu thực nghiệm hiện không hỗ trợ được vai trò điều hành sâu sát. Nói một cách
đơn giản, là hiện nay vẫn chưa có biện pháp cụ thể trong việc quản trị rủi ro cho từng doanh
nghiệp.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng nên bắt buộc công khai cách thức quản trị rủi ro của doanh
nghiệp cho các nhà đầu tư bên ngoài. Với cách thức ERM của công ty, nhà đầu tư có quyền
biết các yếu tố của ERM mà công ty đã thực hiện. Các công ty phải công bố thông tin liên
quan đến ERM bao gồm: 1) liệu doanh nghiệp có thực hiện chức năng quản lý rủi ro một cách
toàn diện hay không; 2) mức độ tham gia hội đồng quản trị trong ERM; 3) liệu CEO có kiểm
soát các chức năng đó hay không; 4) doanh nghiệp có đủ khả năng để nhận diện rủi ro hay
không; 5) bất kỳ sự khác biệt nào giữa việc quản lý và nhà quản trị rủi ro liên quan đến rủi ro
hiện tại của công ty. Phương pháp tiếp cận có sự giao hòa giữa điều hành công ty và ERM thì
sẽ phù hợp với những hướng dẫn của SEC.
Trước đây, SEC đã sử dụng phương pháp này như là phương tiện để xem xét mức độ
quan trọng và sự tiến triển của các vấn đề trong quá khứ. Trong những năm 1970, SEC đã ban
hành các hướng dẫn liên quan đến vấn đề năng lượng. Trong năm 1998, SEC cũng ban hành
các hướng dẫn liên quan đến sự cố “Y2K”.
Sự giao hòa giữa quản trị rủi ro và quản lý doanh nghiệp có giá trị kinh tế vĩ mô tương
VI. MỘT SỐ BÀI NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
A. Enterprise Risk Management- Integrated Framework (2004)
Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission (COSO)
Giải thích hàm ý khái niệm quản trị rủi ro doanh nghiệp cho rằng sự tồn tại của mỗi
doanh nghiệp đều nhằm mục tiêu đem lại giá trị cho những người có quyền lợi đối với doanh
nghiệp. Và tất cả các doanh nghiệp đều phải đối mặt với những điều không chắc chắn. Thách
thức đối với việc quản trị doanh nghiệp là làm thế nào xác định mức độ không chắc chắn mà
doanh nghiệp có thể chấp nhận khi cố gắng tạo ra giá trị cho những người nắm giữ lợi ích
trong doanh nghiệp. Sự không chắc chắn đại diện cho cả rủi ro và các cơ hội mà doanh nghiệp
gặp phải. Nó có thể làm gia tăng và có thể làm xói mòn giá trị. Việc quản trị rủi ro sẽ cho phép
ban lãnh đạo doanh nghiệp giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả trên cơ sở cân đối giữa rủi
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 15/18 ro và cơ hội, đồng thời giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm tạo ra lợi ích
nhiều hơn.
Trong đó, cũng có nêu ra các chức năng của quá trình quản trị rủi ro doanh nghiệp
nhằm:
Cân đối giữa khẩu vị rủi ro & mục tiêu DN trong quá trình hoạch định chiến lược
Tăng tính hiệu quả trong các quyết định ứng phó với rủi ro
Giảm bớt những biến cố bất thường & những khoản thua lỗ trong quá trình hoạt
động
Nhận diện và kiểm soát các loại rủi ro trong doanh nghiệp
Giúp doanh nghiệp kịp thời nắm bắt các cơ hội sinh lợi
Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn.
Quản trị rủi ro giúp cho doanh nghiệp thực hiện được chiến lược đã đề ra và tránh được
những cạm bẫy cũng như những hiểm họa bất ngờ trong quá trình hoạt động của mình
Doanh nghiệp quản lý rủi ro bao gồm tám thành phần liên quan đến nhau. Tám thành
DCC không áp dụng cho các mối quan hệ phi tuyến tính và vì vậy DCC chỉ là một thước đo về
sự phụ thuộc giữa các biến chỉ có trong phân phối ellip
1.2. Mô phỏng lịch sử
Một phương pháp phổ biến để đo lường rủi ro thị trường là mô phỏng lịch sử. Một
danh mục đầu tư nhất định được định giá dựa trên các dữ liệu lịch sử của tài sản trong danh
mục đó. Ưu điểm chính của phương pháp này là không cần giả định về phân phối xác suất.
Tuy nhiên, dự báo rủi ro thị trường bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về lợi nhuận trong và
ngoài mẫu khiến mô hình này trở nên không chính xác.
1.3. Phương pháp “Stress test”
Phương pháp “Stress test” là một phương pháp tiếp cận dựa trên việc mô phỏng các
kịch bản khủng hoảng có thể xảy ra cho danh mục đầu tư. Giả định về xác suất của các kịch
bản này là không cần thiết, dù thực tế việc phán đoán về các xác suất này là có thể.
1.4. Mô phỏng Monte Carlo
Một mô phỏng rất phổ biến trong quản trị rủi ro là mô phỏng Monte Carlo. Dựa trên
một mô hình ngẫu nhiên cho các yếu tố cơ sở, danh mục đầu tư được định giá dựa trên một số
kịch bản được dự báo trước và để tính VaR. Ưu điểm của mô phỏng Monte Carlo so với mô
phỏng lịch sử là các kịch bản có thể xảy ra nhưng không nhất thiết là đã xảy ra trong quá khứ.
2. Kết luận:
Tác giả cho rằng không có mô hình nào được xem là tốt nhất cho tất cả các tình huống.
Hơn thế nữa, có nhiều sự chỉ trích về khả năng của những mô hình hiện có dựa trên những
thông tin của quá khứ mà phải dự đoán về khoảng lỗ của những danh mục đầu tư. Ngay cả học
thuyết nổi tiếng của RiskMetricsTM cũng chịu những áp lực.
Thật sự, một điều rất rõ ràng trong quản trị rủi ro là cố gắng phát triển những mô hình
phức tạp hơn và sử dụng những tài sản phức tạp trong ngành, việc này đòi hỏi phải có những
mô hình phức tạp hơn. Vì vậy, khả năng sẽ có những cải tiến trong tương lai không xa. Đưa ra
thêm nhiều quy định sẽ tăng cường tính an toàn của hệ thống, nghiên cứu có thể phát triển
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 17/18
Cơ chế chứng khoán hoá đã đánh đồng các khoản vay đủ chuẩn và không đủ chuẩn,
gây ra cả bong bóng nhà đất lẫn chứng khoán.
Cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn trong hệ thống tài chính toàn cầu như
một ví dụ về tầm quan trọng của quản trị rủi ro trong các tổ chức tài chính.
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 18/18 Kết luận: Rủi ro của nợ thế chấp dưới chuẩn tưởng như đã được phòng ngừa bằng cách
những khoản nợ này được cấu trúc lại thành vô số chứng khoán và được phân phối tới mọi
ngóc ngách trên thế giới. Nhưng, khi tín dụng bị thắt chặt, rủi ro đã xuất hiện trở lại ngay trên
bảng cân đối kế toán của các ngân hàng hoặc tại các chi nhánh của chúng như của SIV và các
tổ chức trung gian. Rủi ro mất danh tiếng đã khiến cho những ngân hàng này không thể để các
công ty con của họ sụp đổ mà không có bất kỳ trách nhiệm nào.
Do đó, chúng ta cần phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của tín dụng là:
- Biết sản phẩm của bạn.
- Hiểu rõ khách hàng của bạn