Đề tài
Các hình thức chế tài do vi
phạm hợp đồng trong
thương mại
1
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp tồn tại và phát triển
trong một thời gian dài của giai đoạn quá độ đi lên CNXH ở nước ta. Mọi hoạt
động của các đơn vị kinh tế ở giai đoạn đó nhất nhất phải tuân theo kế hoạch,
chỉ tiêu mà Nhà nước đã ấn định. Bước sang nền kinh tế thị trường, do được
thiết lập trên nền tảng pháp lý của quyền tự do kinh doanh, quan hệ thương mại
và đầu tư có phương thức hình thành chủ yếu là thông qua quan hệ hợp đồng.
Sự thoả thuận, thống nhất ý chí một cách tự nguyện, bình đẳng giúp cho các bên
cùng có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện các mục tiêu nghề nghiệp của
mình. Pháp luật hợp đồng với sứ mệnh là nền tảng pháp lý của mọi sự thoả
thuận tự nguyện luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ
hợp đồng bình đẳng, an toàn cùng có lợi cho tổ chức, cá nhân. Từ năm 2005,
khi Luật Thương mại (2005) và Bộ luật Dân sự (2005) được ban hành, Pháp
lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 bị huỷ bỏ, sự điều chỉnh đối với các quan hệ
hợp đồng nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng đã có sự
thay đổi căn bản. Pháp luật đã quy định rõ nghĩa vụ của các bên trong việc thực
hiện các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng. Nếu một bên có hành vi vi
phạm gây thiệt hại cho bên kia thì phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi.
Việc quy định các hình thức chế tài trong thương mại có ý nghĩa quan trọng
nhằm đảm bảo ổn định các quan hệ hợp đồng, trật tự pháp luật, khôi phục lợi
ích của bên bị vi phạm, giáo dục ý thức pháp luật về hợp đồng. Tiếp nhận sự đổi
mới của hệ thống pháp luật về hợp đồng trong những năm gần đây, nhu cầu tìm
hiểu về vấn đề chế tài trong thương mại ngày càng trở nên bức thiết nhằm ổn
định các quan hệ hợp đồng, nhất là khi Việt Nam đã tham ra vào “sân chơi”
quốc tế về các vấn đề thương mại (Việt Nam tham gia vào tổ chức Thương mại
thế giới WTO). Nhận thức rõ được điều đó em đã lựa chọn đề tài : “ Các hình
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG
VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VÀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG
MẠI
Khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức
trao đổi hàng hóa thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong
việc điều tiết các quan hệ tài sản. Hợp đồng là hình thức pháp lý thích hợp và có
hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá - tiền tệ. Ngày nay, phần
lớn các quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bằng hợp đồng. Vai trò và vị trí của
chế định hợp đồng ngày càng được khẳng định trong mọi hệ thống pháp luật.
Trong hệ thống pháp luật của một quốc gia, pháp luật về hợp đồng giữ vị trí vô
cùng quan trọng. Vai trò trung tâm của hợp đồng trong hệ thống kinh tế và pháp
luật không phải là ngẫu nhiên, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường, nơi mà
mọi hàng hoá, dịch vụ phải được tự do lưu thông trên thị trường thì vai trò của
hợp đồng ngày càng được thể hiện rõ hơn, bởi lẽ trong các quan hệ hợp đồng thì
ý chí của các bên mang tính quyết định. Về mặt nguyên tắc, pháp luật tôn trọng
ý chí của các bên và chỉ can thiệp trong các trường hợp mà ở đó có sự giới hạn
của pháp luật.
Hợp đồng có bản chất là sự tự nguyện thoả thuận và thống nhất ý chí
nhằm xác lập, thay đổi, hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các
chủ thể trong xã hội. Hợp đồng là căn cứ pháp lý phổ biến làm phát sinh quyền
và nghĩa vụ giữa các bên. Giao kết và thực hiện các hợp đồng chính là cách thức
cơ bản để thực hiện hiệu quả các hoạt động kinh tế.
Khi nghiên cứu hợp đồng và pháp luật về hợp đồng cần lưu ý một số vấn
đề sau đây:
4
Thứ nhất, hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên
tham gia giao kết.
Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong vận hành của nền kinh tế thị
trường. Chức năng cơ bản của hợp đồng quyết định bản chất và giá trị xã hội
chí của mọi cá nhân và các chủ thể khác trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ
của mình, pháp luật các nước đều cho phép các chủ thể được hoàn toàn tự do
giao kết hợp đồng, miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Việc hình
thành các hạn chế của nguyên tắc tự do trong ký kết hợp đồng xuất phát từ quan
điểm bảo vệ trật tự công và lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, pháp luật sẽ bảo
vệ lợi ích và quyền của các bên song lợi ích này phải không được xâm hại đến
trật tự và lợi ích công.
Thứ ba, chế định hợp đồng mang tính bắt buộc song cũng hết sức linh
hoạt, mềm dẻo.
Điều này không dễ dàng đạt được nếu như quy định pháp luật không
được xây dựng theo hướng đề cao tự do ý chí của các bên, pháp luật chỉ can
thiệp ở giới hạn cần thiết. Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành không đưa ra định
nghĩa về hợp đồng thương mại mà chỉ định nghĩa về hợp đồng dân sự. Theo
Điều 388, Bộ luật Dân sự (2005) “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các
bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Quyền
và nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng dân sự được hiểu bao gồm cả các quyền và
nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ thương mại. Khái niệm hợp đồng dân sự trong
Bộ luật Dân sự (2005) được xem là khái niệm chung về hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại, đầu tư kinh doanh. Về lí luận, hợp đồng trong thương mại là một
dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, hợp đồng trong thương mại có
những đặc điểm riêng nhất định, khác với những hợp đồng dân sự thông thường
theo cách hiểu truyền thống. Có thể xem xét hợp đồng thương mại trong mối
liên hệ với hợp đồng dân sự theo nguyên lý mối liên hệ giữa cái chung và cái
riêng. Từ cách tiếp cận này những vấn đề cơ bản về hợp đồng thương mại như:
giao kết hợp đồng, nguyên tắc và các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng,
hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu được điều chỉnh bởi pháp luật và
6
không có sự khác biệt với các hợp đồng dân sự thông thường. Song, xuất phát
từ đặc điểm và yêu cầu của hoạt động thương mại, một số vấn đề về hợp đồng
trong thương mại được quy định trong các lĩnh vực cụ thể, có tính chất là sự
bên của hợp đồng trong thương mại không có mục đích lợi nhuận. Những hợp
đồng này, về nguyên tắc không đương nhiên chịu sự điều chỉnh bởi những quy
định riêng của pháp luật thương mại. Theo khoản 3, Điều 1, Luật Thương mại
(2005) “hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch
với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi
đó chọn áp dụng Luật này” thì sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương
mại (2005).
Bộ luật Dân sự (2005) và Luật Thương mại (2005) ra đời đánh dấu bước
phát triển mới của pháp luật về hợp đồng và là sự thống nhất pháp luật về hợp
đồng ở Việt Nam. Các quy định về hợp đồng trong thương mại đã có những
thay đổi cơ bản cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung pháp lý. Luật Thương mại
(2005) là nguồn quan trọng điều chỉnh các giao dịch thương mại giữa các
thương nhân với nhau và với các bên có liên quan nhằm triển khai hoạt động
kinh doanh… Luật Thương mại xây dựng trên cơ sở tiếp tục phát triển các quy
định mang tính chất nguyên tắc của Bộ luật Dân sự, cụ thể hoá các nguyên tắc
này cho thích hợp để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh. Bên
cạnh các quy định trong Bộ luật Dân sự (2005) và Luật Thương mại (2005), một
số hợp đồng đặc thù trong thương mại còn được điểu chỉnh bởi quy định trong
các luật chuyên ngành như: Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo
hiểm, Luật Xây dựng, Bộ luật Hàng hải Thông thường, ngoài việc phải tuân
thủ các quy định chung về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại,
mỗi loại hợp đồng cụ thể còn chịu sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành đó.
Nguyên tắc áp dụng pháp luật được xác định rõ trong Luật Thương mại (2005)
là: Hợp đồng thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên
quan. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong Luật Thương mại và
pháp luật có liên quan. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật
khác thì áp dụng quy định của luật đó. Hoạt động thương mại không được quy
8
định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ
S.S.Alêcseev: lý luận chung về chủ nghĩa xã hội. XB lần thứII – SVE DLOSK1964.
9
hành vi vi phạm pháp luật và với bản thân người vi phạm. Hơn nữa trách nhiệm
pháp lý như là hậu quả của việc không thi hành hoặc thi hành không đúng quy
định của pháp luật, thể hiện trong việc áp dụng những biện pháp trừng phạt đối
với hành vi phạm, bắt buộc thực hiện những quy định pháp luật và buộc khôi
phục các quyền bị vi phạm.
Quan niệm này có từ rất lâu trong khoa học pháp lý, nó bị ảnh hưởng bởi
luật dân sự, một ngành luật phát triển từ rất sớm (từ thời cổ La Mã). Những hình
phạt cổ điển được áp dụng đối với những hành vi trộm cắp, giết người được
nâng lên thành khái niệm hình sự. Cùng với sự phát triển của lịch sử các quan
hệ xã hội mới cũng hình thành và phát triển như quan hệ hành chính, quan hệ
lao động, quan hệ kinh tế đã đòi hỏi khoa học pháp lý phải điều chỉnh và đáp
ứng kịp thời, do đó xuất hiện nhiều ngành luật mới như: Luật Hành chính, Luật
Lao động, Luật kinh tế lúc này trách nhiệm pháp lý được mỗi ngành luật đưa
ra thành đối tượng nghiên cứu riêng. Quan niệm trách nhiệm pháp lý là nghĩa vụ
phải gánh chịu những tước đoạt mang tính chất nhân thân hay tài sản tương ứng
với hành vi vi phạm pháp luật theo quy định pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong
việc ngăn ngừa những vi phạm tương tự sẽ xảy ra, giáo dục phòng ngừa người
vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật lao động,
trách nhiệm đó gọi là “trách nhiệm đối với hành vi đã xảy ra”.
1.2.2. Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
(i). Khái niệm
Chế tài thương mại và chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là hai
khái niệm không hoàn toàn đồng nhất. Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý ở Việt Nam
vẫn có cách nhận diện khác nhau về vấn đề này.
- Theo nghĩa rộng, chế tài trong thương mại là những hình thức chế tài áp
dụng với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại.
Hành vi vi phạm ở đây là hành vi xâm phạm trái pháp luật đến lợi ích của
đối tác, người tiêu dùng, xã hội và trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực
theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, thương nhân có thể bị áp
dụng các chế tài, như: chế tài dân sự, chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự.
Thứ hai, hành vi vi phạm hợp đồng thương mại.
Để tiến hành các hoạt động thương mại, thương nhân phải ký kết và thực
hiện các hợp đồng thương mại. Khi hợp đồng được hình thành và có hiệu lực
pháp luật, những cam kết trong hợp đồng có giá trị bắt buộc thực hiện đối với
các bên. Nếu một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy
đủ nghĩa vụ đã thỏa thuận thì bị coi là vi phạm hợp đồng thương mại. Trong
hợp đồng thương mại ngoài các điều khoản do các bên thỏa thuận và ghi rõ
trong hợp đồng thì các bên còn phải tuân thủ những những nội dung pháp lý bắt
buộc đã được pháp luật quy định mà các bên có thể thỏa thuận hoặc không thỏa
thuận trong hợp đồng (điều khoản thường lệ). Mặc dù, những điều khoản này
không được đưa vào hợp đồng nhưng theo quy định của pháp luật thì việc các
bên không thực hiện những điều khoản này cũng sẽ bị coi là hành vi vi phạm
hợp đồng thương mại cũng tức là vi phạm pháp luật về hợp đồng thương mại và
sẽ bị áp dụng chế tài. Các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi pham, bồi thường thiệt hại
Như vậy, hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại không chỉ bao gồm các
hành vi vi phạm chế độ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại, xâm phạm
trật tự quản lý hoạt động thương mại của Nhà nước [được quy định tại Điều
320, Luật Thương mại (2005)] mà còn bao gồm những hành vi vi phạm hợp
đồng thương mại. Phù hợp với từng loại hành vi vi phạm, pháp luật hiện hành
quy định các hình thức trách nhiệm pháp lý với nhiều loại chế tài khác nhau.
Theo nghĩa này, chế tài trong thương mại có thể được áp dụng đối với mọi vi
phạm pháp luật thương mại: từ những hành vi làm tổn hại đến lợi ích Nhà nước,
lợi ích của người tiêu dùng như đầu cơ lũng đoạn thị trường….đến các vi phạm
pháp luật cã tính chất “riêng tư” giữa các thương nhân, như hành vi không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết trong hợp đồng. Những hình thức
chế tài được áp dụng trong các trường hợp này có thể là chế tài hành chính, chế
tài hình sự hoặc chế tài mang tính chất dân sự, phù hợp với tính chất của từng
Thứ nhất, chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại phát sinh trong
quá trình thực hiện hợp đồng.
Khác với trách nhiệm pháp lý nói chung được áp dung đối với mọi vi
phạm pháp luật, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong thương mại chỉ được
áp dụng đối với những vi phạm pháp luật hợp đồng hay vi phạm những điều
khoản mà các bên đã thoả thuận. Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng đã
được pháp luật thừa nhận, các bên được quyền tự do quyết định việc giao kết
những hợp đồng trong thương mại phù hợp với mục đích kinh doanh của mình.
Chính vì vậy, trách nhiệm hợp đồng chủ yếu phát sinh trong quá trình thực hiện
hợp đồng (khi đã có hợp đồng và các bên đã bị ràng buộc với nhau về quyền và
nghĩa vụ)
Thứ hai, chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại là loại trách
nhiệm pháp lý mang tính tài sản.
Đặc điểm chung của bất kỳ loại trách nhiệm pháp lý nào cũng đều là sự
tước đoạt hay hạn chế các quyền về tài sản hay phi tài sản của chủ thể có hành
vi vi phạm. Khác biệt với đặc điểm chung này, trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng trong thương mại được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng và hợp
đồng thương mại sẽ buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về
tài sản. Yếu tố tài sản thể hiện ở cách thức bên vi phạm phải gánh chịu những
hậu quả bất lợi, đó là:
- Bên vi phạm phải dùng tiền (tài sản) thuộc quyền sở hữu hoặc quyền
quản lý của doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp Nhà nước) để thực hiện nghĩa
vụ nộp phạt, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do đã không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng, không đầy đủ cam kết trong hợp đồng. Việc nộp tiền phạt hay bồi
thường thiệt hại được thực hiện theo sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng
hoặc theo quy định của pháp luật.
- Bên vi phạm buộc phải có những chi phí hợp lý cần thiết để thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng khi bên bị vi phạm áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng
(ví dụ: chi phí để sửa chữa sai xót, loại trừ khuyết tật của hàng hoá )
14
với B, B lại bán lại cho C, rồi C lại bán lại cho D… Khi A vi phạm hợp đồng thì
kéo theo B vi phạm hợp đồng với C và tiếp đó C lại vi phạm hợp đồng với D…
Nhưng khi có hành vi vi phạm hợp đồng, chế tài thương mại sẽ được áp dụng
trực tiếp đối với bên vi phạm. Tính phân định trách nhiệm trong chuỗi mối quan
hệ này thể hiện ở việc C sẽ phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với D do hành vi
vi phạm của mình mà không cần xét đến nguyên nhân của vi phạm đó là do A
hay B gây ra. Việc bên vi phạm phải trực tiếp chịu trách nhiệm với bên bị vi
phạm thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau đây:
- Bên vi phạm hợp đồng phải dùng tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc
quyền quản lý của mình để nộp tiền phạt hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại.
- Khi bị áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng, bên vi phạm phải trực
tiếp thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, phải dùng tài sản của mình để trang trải các
chi phí sửa chữa, loại trừ khuyết tật của hàng hoá hoặc phải chấp nhận phải
giảm giá.
- Khi áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện
hợp đồng hay hủy hợp đồng, bên bị áp dụng và trực tiếp bị ảnh hưởng tới quyền
và lợi ích cũng chính là bên vi phạm.
Phù hợp với quyền tự do kinh doanh, quyền tự do hợp đồng được pháp
luật bảo hộ, khi các bên tự nguyện thiết lập quan hệ hợp đồng thì nghĩa vụ hợp
đồng phát sinh và là nghĩa vụ trực tiếp của các bên với nhau. Chính vì vậy, khi
truy cứu trách nhiệm hợp đồng, bên bị vi phạm là chủ thể được thụ hưởng trọn
vẹn sự bù đắp mà bên vi phạm đã thực hiện.
Thứ năm, chủ thể có quyền lựa chọn và quyết định áp dụng các hình
thức chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là bên bị vi phạm trong quan hệ
hợp đồng.
Khi có hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại, bên bị vi phạm có
quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện một hay nhiều hình thức chế tài theo sự
cam kết trong hợp đồng hoặc theo quy định pháp luật. Trường hợp yêu cầu thực
hiện chế tài trong thương mại không được đáp ứng, bên bị vi phạm có quyền
16
17
Với tính chất là một loại trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng trong thương mại được áp dụng khi có những căn cứ do pháp luật quy
định. Với mỗi hình thức chế tài, căn cứ áp dụng có sự khác nhau nhất định, phụ
thuộc vào tính chất và mục đích của hình thức chế tài đó. Căn cứ áp dụng chế
tài do vi phạm hợp đồng thương mại, bao gồm:
* Có hành vi vi phạm hợp đồng.
Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý để áp dụng đối với tất cả các
hình thức chế tài trong thương mại do vi phạm hợp đồng. Hành vi vi phạm hợp
đồng trong thương mại là xử sự của các chủ thể hợp đồng không phù hợp với
nghĩa vụ theo hợp đồng. Biểu hiện cụ thể của vi phạm hợp đồng trong thương
mại theo khoản 12, Điều 3, Luật Thương mại (2005) : “vi phạm hợp đồng là
việc một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của luật
này”. Như vậy, trong quan hệ hợp đồng trong thương mại, các bên không chỉ
phải thực hiện những nghĩa vụ thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng (ghi vào
trong hợp đồng) mà còn phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của pháp
luật (trong khoa học pháp lý gọi điều khoản thường lệ). Vì vậy, khi xem xét
hành vi có vi phạm hợp đồng hay không cần phải căn cứ vào hợp đồng và các
quy định của pháp luật. Song làm thế nào để xác định khi nào thì một bên vi
phạm các nghĩa vụ hợp đồng đối với bên kia? Điều này chỉ có thể xác định được
khi có cơ sở xác định chính xác nghĩa vụ của các bên (những hành vi phải làm
và hành vi không đựơc làm). Có như vậy mới xác định được thế nào là vi phạm
và mức độ vi phạm hợp đồng.
Luật Thương mại (2005) phân chia hành vi vi phạm hợp đồng thành hai
loại, bao gồm: vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản. Theo khoản 13, Điều
3, Luật Thương mại (2005) thì :”Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của
một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết
hợp đồng ”. Như vậy, có thể hiểu những vi phạm còn lại sẽ là những vi phạm
không cơ bản. Việc phân định thành hai loại vi phạm cơ bản và vi phạm không
nhận, trong một số trường hợp còn có thêm nghĩa vụ cung cấp thông tin bảo
hành cho hàng hoá Như vậy, thực hiện các điều khoản đã cam kết trong hợp
19
đồng là nghĩa vụ của các bên. Trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng thì coi đó là vi phạm hợp
đồng, là một trong những căn cứ quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lý.
- Các tài liệu khác.
Trong ký kết hợp đồng trong thương mại các bên cố gắng quy định sao
cho việc thực hiện hợp đồng diễn ra suôn sẻ, song trong quá trình thực hiện luôn
có thể phát sinh các tình huống bất ngờ dẫn đến việc hai bên thấy phải sửa đổi,
bổ sung hợp đồng. Họ có thể thực hiện việc này thông qua fax, telex, các phụ
lục hợp đồng Các tài liệu thoả thuận này được coi như là một phần hợp đồng
và có giá trị pháp lý như hợp đồng. Do có giá trị pháp lý và cũng thể hiện ý chí
thống nhất của các bên như hợp đồng, các tài liệu này cũng trở thành một căn
cứ xác định nghĩa vụ.
- Những nội dung pháp lý bắt buộc.
Những nội dung pháp lý bắt buộc đã được pháp luật quy định mà các bên
có thể thỏa thuận hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng (điều khoản thường lệ).
Hành vi vi phạm hợp đồng là yếu tố đầu tiên phải xét đến nếu bên bị vi
phạm muốn áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại. Đây là nghĩa vụ
chứng minh của bên bị vi phạm để truy cứu trách nhiệm đối với bên vi phạm.
Ví dụ: Công ty TNHH sản xuất hàng tiêu dùng Nano kiện công ty cổ
phần Bita về việc góp vốn thành lập liên doanh tại thành phố Hồ Chí Minh từ
năm 1993. Dự án liên doanh này không thành, Nano yêu cầu Toà án nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh buộc công ty Bita phải bồi thường cho Nano
867.916USD cung với 600.000 USD phạt vi phạm hợp đồng. Trong khi đó Bita
yêu cầu Toà án buộc Nano phải trả lại cho họ khoản tiền đã góp vốn liên doanh
là 2.967.387USD. Toà án đã xem xét các chứng từ do hai bên cung cấp, chấp
nhận một phần yêu cầu của mỗi bên. Bù trừ qua lại, Toà án buộc công ty Nano
phải hoàn trả lại cho công ty Bita 1.891.000USD.
bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi
phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm
3
. Nếu bên vi phạm
chậm thanh toán tiền thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền
2
khoản 2, Điều 307, Bộ Luật Dân sự (2005)
3
khoản 2, Điều 302, Luật Thương mại (2005)
21
chậm trả đó theo lãi xuất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm
thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả
4
.
* Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế xảy ra
được hiểu là giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế xảy ra có mối
quan hệ nội tại, tất yếu. Thiệt hại phát sinh là do kết quả tất nhiên của sự vi
phạm hợp đồng. Trường hợp có hành vi vi phạm hợp đồng của một bên và bên
kia có bị thiệt hại, nhưng thiệt hại này không phải do hành vi của bên vi phạm
gây ra thì ở đây không có mối quan hệ nhân quả, bên vi phạm không phải chịu
trách nhiệm bồi thường với phần thiệt hại đó. Hành vi vi phạm phải là nguyên
nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Có nghĩa là, hành vi vi phạm phải luôn hàm chứa
(luôn tiềm ẩn sẵn) khả năng dẫn đến thiệt hại đó và thiệt hại đó xảy ra là sự hiện
thực hóa khả năng nói trên (trong điều kiện thích ứng) mà thôi. Trên thực tế,
một hành vi vi phạm hợp đồng có thể gây ra nhiều khoản thiệt hại và một khoản
thiệt hại cũng có thể được phát sinh do nhiều nguyên nhân. Trong khi các chủ
thể hợp đồng, đặc biệt các chủ thể kinh doanh, có thể cùng lúc tham gia nhiều
quan hệ hợp đồng khác nhau. Vì vậy, việc xác định chính xác mối quan hệ nhân
quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế không phải bao giờ cũng
bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm trong mọi trường hợp.
Ngoài các căn cứ trên ra, Luật thương mại (2005) còn bổ sung căn cứ áp
dụng đối với chế tài phạt vi phạm (phạt hợp đồng) phải có “sự thỏa thuận” của
các bên. Khi có hành vi vi phạm xảy ra, nếu các bên không có thoả thuận về
việc áp dụng chế tài phạt vi phạm thì bên bị vi phạm sẽ không được áp dụng
chế tài này đối với bên bị vi phạm.
23
24
CHƯƠNG II
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÁC HÌNH THỨC CHẾ TÀI DO VI PHẠM
HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI
2.1. BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG
2.1.1.Khái niệm
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi
phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng
được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh
5
.
Mục đích của các bên khi ký kết hợp đồng là muốn các quyền và nghĩa
vụ phát sinh từ hợp đồng được thực hiện đúng, đầy đủ và thiện chí, mang lại lợi
ích kinh tế cho mỗi bên. Đây chính là cơ sở thực tiễn của biện pháp buộc thực
hiện đúng hợp đồng, một biện pháp được áp dụng phổ biến khi có hành vi vi
phạm hợp đồng.
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng là nhằm đảm bảo
thực hiện trên thực tế hợp đồng đã ký kết, làm cho nghĩa vụ hợp đồng phải được
tiếp tục thực hiện. Các bên xuất phát từ mục tiêu kinh doanh để ký kết hợp đồng
chứ không phải là nhằm đạt được lợi ích từ việc nộp phạt hay bồi thường thiệt
hại từ phía bạn hàng. Trong nhiều trường hợp tiền phạt hay bồi thường thiệt hại
không thể thay thế lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng đã ký kết của các bên.
2.1.2 Căn cứ áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng