53
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 68, 2011
HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT NẤM RƠM
Ở PHÚ LƯƠNG, PHÚ VANG, THỪA THIÊN HUẾ
Phan Văn Hòa, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Nguyễn Việt Thiên, Công ty cổ phần Dược vật tư y tế Quảng Nam
TÓM TẮT
Phú Lương, Phú Vang, Thừa Thiên Huế có những điều kiện thuận lợi để phát triển nghề
trồng nấm nói chung và nấm rơm nói riêng. Bình quân 1 lứa, năng suất đạt 34,73 kg/vòm, sản
lượng đạt 1.296 kg/hộ/năm với lợi nhuận thu được bình quân năm mỗi hộ hơn 30,5 triệu đồng.
Kết quả phân tích hàm sản xuất Cobb-Douglas cho thấy, nếu hộ đầu tư tăng thêm 1
sào rơm trồng nấm, sau khi tr
ừ đi chi phí mua rơm 47,5 ngàn (mùa Xuân), 50 ngàn (mùa Hạ),
40 ngàn (mùa Thu) và 48 ngàn (mùa Đông), các hộ thu được một khoản giá trị gia tăng ở các
mùa Xuân Hạ Thu Đông tương ứng là 109, 90, 112 và gần 110 ngàn đồng. Nhưng nếu hộ tăng
thuê thêm 1 ngày công lao động để trồng nấm, hộ đã lỗ mất 39,59 đến 44,15 ngàn đồng tuỳ
theo mùa vụ.
Để nâng cao kết quả và hiệu quả trồng nấm, chính quyền địa phương cần quy hoạch
vùng sản xuất n
ấm nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đa dạng hoá các loại nấm khác ngoài
nấm rơm nhằm giảm rủi ro, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, thu hoạch, chế
biến sản phẩm nấm nhằm nâng cao năng suất chất lượng nấm; các hộ trồng nấm cần tập trung
nguồn lực sản xuất vào mùa Hạ, mùa Thu, đầu tư thêm rơm, meo và công lao động gia
đình sẽ
cho năng suất, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, nâng cao kết
quả và hiệu quả sản xuất nấm, đưa nghề trồng nấm thành nghề chính nơi đây.
1. Đặt vấn đề
Nấm rơm được xem là một loại “rau sạch và cao cấp”[1]. Mặc dù hàm lượng
2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, trong khuôn khổ của bài báo, chúng tôi đã sử
dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích dữ liệu chuỗi thời gian, so sánh, hạch
toán kinh tế đặc biệt chúng tôi tập trung điều tra ngẫu nhiên 60 hộ trồng nấm trên tổng
số 510 hộ trồng nấm của xã, sử dụng phương pháp toán kinh tế phân tích hàm sản xuất
Cobb-Douglas để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất nấm rơm của các hộ
điều tra.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nấm rơm được người dân ở Phú Lương trồng quanh năm, từ khi bắt đầu chuẩn
bị nguyên liệu rơm để ủ nấm cho đến khi thu hoạch trong vòng 20-25 ngày, mỗi tháng
có thể sản xuất 1 đến 1,5 lứa, mỗi năm sản xuất cả 4 mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông.
Ở Phú Lương, bình quân mỗi hộ có 2,57 nhà vòm trồng nấm và mức đầu tư trên
1 nhà vòm hơn 2,5 triệu đồng. Bình quân 1 vòm chứa khoảng 483,92 bánh rơm; một
n
ăm mỗi hộ trồng 14,52 lứa, với năng suất bình quân một lứa là 34,73 kg/vòm. Như vậy,
sản lượng hàng năm bình quân mỗi hộ vào khoảng 1.296 kg.
Ngoài đầu tư về nhà vòm và tư liệu sản xuất, các hộ trồng nấm rơm phải đầu tư
nhiều khoản mục chi phí như meo giống, thuê công lao động, sửa chữa, tu bổ nhà vòm,
rơm và lao động gia đình Bình quân mỗi lứa/vòm các hộ phải đầ
u tư 1,5 triệu đồng
chi phí sản xuất, trong đó chi phí trung gian là 945,66 ngàn đồng. Sau khi trừ chi phí sản
xuất, lợi nhuận bình quân một lứa, một vòm là 819 ngàn đồng, giá trị gia tăng bình quân
1,4 triệu đồng/lứa/vòm. Như vậy, bình quân một năm giá trị sản xuất mỗi hộ thu được
87,68 triệu đồng, sau khi trừ chi phí sản xuất (57,11 triệu đồng), lợi nhuận thu được
55
bình quân năm mỗi hộ hơn 30,5 triệu đồng. Đây là khoản lợi nhuận cao và ổn định đối
với hộ nông dân sản xuất nông nghiệp hiện nay ở nông thôn. Bình quân, hộ đầu tư 1
đồng chi phí 1 năm thu được 1,48 đồng giá trị gia tăng và 0,54 đồng lợi nhuận. Như vậy,
có thể thấy, mặc dù nghề trồng nấm rơm mới phát triển và chưa trở thành nghề chính
nghiệm của chủ hộ (năm); D
j
: Biến giả mùa vụ trồng nấm (j=1÷3): D
1
=1 mùa Xuân;
D
2
=1 mùa Hạ; D
3
=1 mùa Thu và D
1
=D
2
=D
3
=0 mùa Đông; A hệ số chặn.
Kết quả ước lượng hàm Cobb-Douglas từ các hộ trồng nấm rơm được điều tra ở
Phú Lương năm 2010 cho ta hàm sản xuất sau:
Y=0,825.X
1
(-0,025)
.X
2
0,153
.X
3
0,573
.X
4
0,144
(MP
Xi
)
Giá trị sản phẩm cận biên của đầu
vào (1000đ)
(MPV
Xi
)
Chênh lệch giữa giá trị sản phẩm cận
biên và đơn giá của đầu vào (1000đ)
(MPV
Xi
– P
Xi
)
Các đầu vào
Xuân Hạ Thu Đông Xuân Hạ Thu Đông Xuân Hạ Thu Đông
1. Tuổi vòm -0,49 -0,76 -0,61 -0,37 -38,45 -34,39 -37,26 -38,76 -226,22 -222,16 -225,03 -226,53
2. Lượng rơm 2,01 3,11 2,49 1,50 156,50 139,98 151,69 157,80 109,00 89,98 111,69 109,80
3. Lượng meo
giống
0,22 0,34 0,27 0,17 17,27 15,45 16,74 17,41 15,07 13,25 14,54 15,21
4. Ngày công lao
động
0,51 0,80 0,64 0,39 40,08 35,85 38,85 40,41 -39,92 -44,15 -41,15 -39,59
5. Năm kinh
nghiệm chủ hộ
0,53 0,82 0,66 0,40 41,34 36,97 40,07 41,68 41,34 36,97 40,07 41,68
Nguồn: Tính toán của tác giả.
và hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên, để trồng nấm rơm ở Phú Lương, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế
mang lại kết quả và hiệu quả cao về mặt kinh tế và tr
ở thành nghề mang lại thu nhập
cao cho người dân nơi đây, chính quyền địa phương cũng như người dân cần thực hiện
một số giải pháp sau:
- Ngay từ bây giờ, cần quy hoạch lại vùng sản xuất nấm rơm ở địa phương,
nhằm kiểm soát môi trường, đảm bảo nấm sạch bệnh, nâng cao năng suất, chất lượng
nấm, đảm bảo trồng nấm c
ủa các hộ đạt kết quả và hiệu quả kinh tế cao.
- Cần nâng cao kiến thức kỹ thuật, áp dụng tiến bộ sản xuất mới tiên tiến thông
qua tập huấn sản xuất, thu hoạch, chế biến, bảo quản và kiến thức thị trường cho người
trồng nấm nhằm đảm bảo cho người trồng nấm thu được kết quả và hiệu quả cao nhất,
bở
i lẽ hiện nay người dân trồng nấm rơm ở Phú Lương chủ yếu áp dụng kiến thức
truyền thống, lạc hậu. 58
- Cần nghiên cứu áp dụng công nghệ máy móc thu hoạch và chế biến, bảo quản
sau thu hoạch nhằm nâng cao chất lượng nấm khi phân phối đến tay người tiêu dùng
hoặc chế biến thành nấm khô, kéo dài thời gian lưu chuyển, bảo quản, sử dụng nấm.
- Nghiên cứu áp dụng một số loại giống nấm khác thị trường đang có xu hướng
tiêu dùng cao như đùi gà, mộc nhĩ, nấm sò, nấm linh chi… giúp hộ đa dạng hóa sản
phẩm, giảm thiểu rủi ro và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường.
- Đối với nấm rơm, các hộ cần tập trung nguồn lực, nguyên liệu sản xuất vào
mùa Hạ và mùa Thu, tăng lượng rơm rạ, lượng meo giống, đầu tư xây dựng nhà vòm
mới và ngày công lao động nhàn rỗi của gia đình để sản xuất nấm, đảm bảo hộ trồng
nấm sử dụng tốt các yếu tố nguồn lực, đạt kết quả và hiệu quả kinh tế cao.
4. Kết luận và kiến nghị
59
Ngoài ra, để nâng cao kết quả và hiệu quả trồng nấm, chính quyền địa phương
cần quy hoạch vùng sản xuất nấm nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm rủi ro; áp
dụng mạnh tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, thu hoạch, chế biến nấm rơm nhằm
nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường,
nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất nấm rơm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Viện di truyền nông nghiệp, Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Nấm ăn, cơ sở khoa học và công nghệ nuôi trồng, Nxb. Nông
nghiệp, Hà Nội, 2008.
[2]. Damodar N. Gujarati, Basic Econometrics, McGraw-Hill Book Company, Singapore,
1988.
[3]. Hoàng Văn Ký, Kỹ thuật trồng nấm rơm, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 2008.
ECONOMIC EFFECTS OF MUSHROOM CULTIVATION IN PHU VANG,
THUA THIEN HUE
Phan Van Hoa, College of Economics, Hue University
Nguyen Viet Thien, Quang Nam Pharmaceutical Joint Stock Company
SUMMARY
Phu Luong has favorable conditions for the development of mushroom cultivation in
general and in particular mushroom. On average, a litter, yield obtains 34,73 kg / surround,
output of 1,296 kg / household/year with profits per year per household of more than 30,5
million VND.
Analysis results of Cobb-Douglas production function showed that if households invest
an additional straw pole, after subtracting the cost of straw 47,5 thousand (Spring), 50
thousand (Summer), 40 thousand (Autumn) and 48 thousand (Winter), the household will
receive a sum of value added in the Spring, Summer, Autumm, Winter respectively 109, 90, 112
and nearly 110 thousand VND. But if they spend an additional day of labor for mushroom
cultivation, they will lose 39,59 to 44,15 thousand dollars depending on the season.
To improve the efficiency of mushroom production, local governments need to plan the