Bài Luận
Xây dựng chương trình quản lý
nhân sự cho công ty cổ phần
Chiển lợi Việt Trì – Phú Thọ
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan về nội dung đồ án: “Xây dựng chương trình quản lý
nhân sự cho công ty cổ phần Chiển lợi Việt Trì – Phú Thọ” dưới sự hướng dẫn
của giảng viên Đào Thị Thu, bộ môn Khoa học máy tính – Khoa Công Nghệ
Thông Tin - Đại học công nghệ thông tin và truyền thông Thái Nguyên là không
sao chép nội dung cơ bản từ các đồ án khác và sản phẩm của đồ án là của chính
bản thân nghiên cứu xây dựng nên.
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Giảng viên Đào Thị Thu, bộ môn Khoa
học máy tính – Khoa Công Nghệ Thông Tin - Đại học công nghệ thông tin và
truyền thông Thái Nguyên đã tận tình chỉ dẫn, tạo điều kiện cho em hoàn thành
đồ án tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo phụ trách giảng dạy các môn
học trong những năm học vừa qua.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân viên công ty cổ phần
Chiển Lợi Việt Trì – Phú Thọ đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian thực
tập làm đồ án. Tiếp đến là sự đóng góp ý kiến của các bạn trong lớp đã trao đổi
kinh nghiệm lập trình giúp em hoàn thành được đồ án này.
MỤC LỤC
1
Bài Luận 1
Xây dựng chương trình quản lý nhân sự cho công ty cổ phần 1
Chiển lợi Việt Trì – Phú Thọ 1
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 5
hoàn thiện hơn .
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Việt Thắng
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái niệm cơ bản về hệ cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu (CSDL) là tập hợp các dữ liệu có mối quan hệ với nhau
được lưu trữ trong máy tính theo một quy định nào đó, và được sử dụng cho một
số đông người sử dụng Họ có thể cập nhật số liệu của mình vào máy, lưu trữ,
xử lý phục vụ theo yêu cầu của mình. Cơ sở dữ liệu được thành lập từ các tập tin
cơ sở dữ liệu để dễ quản lý và khai thác, mỗi tập tin cơ sở dữ liệu bao gồm các
mẩu tin (Record) chứa một số thông tin về đối tượng.
Phần chương trình để có thể xử lý, thay đổi dữ liệu được gọi là Hệ quản trị
cơ sở dữ liệu (Database management system). Hệ quản trị cơ sở dữ liệu có một
nhiệm vụ rất quan trọng, nó được coi như là một bộ diễn dịch (Interpreter) với
ngôn ngữ bậc cao, nhằm giúp cho người sử dụng có thể dùng được hệ thống mà
không nhất thiết phải biết tường tận các thuật toán, cũng như là cách lưu trữ, biểu
diễn dữ liệu trong máy tính như thế nào. Việc tổ chức một hệ thống thông tin hay
xây dựng một cơ sở dữ liệu cho một ngành khoa học hoặc một ngành kinh tế nào
đó càng ngày càng trở nên thông dụng, có thể phân loại như sau:
- Tổ chức thông tin trong các bài toán khoa học kĩ thuật.
- Kho dữ liệu trong hệ thống thông tin quản lý.
- Tổ chức dữ liệu có cấu trúc phức tạp như các dữ liệu địa lý.
- Cơ sở dữ liệu trong các hệ thống hỗ trợ công nghiệp, hỗ trợ giảng dạy.
- Tổ chức thông tin đa phương tiện, xử lý tri thức.
1.1.1. Ứng dụng trong các bài toán khoa học kĩ thuật
Các bài toán này có thuật toán khó, thường thì không đòi hỏi công cụ tốt
nhất về tổ chức dữ liệu. Tuy nhiên, trong các bài toán phức tạp hơn, với nhiều dữ
liệu trung gian thì cách tổ chức dữ liệu hợp lý là điều không thể không nghĩ đến.
diện người dùng trong cơ sở dữ liệu, đề cập các nghiên cứu về quan hệ và sự
kiện, đề cập việc tổ chức các câu hỏi cho người sử dụng. Người ta nhận thấy
không có ngôn ngữ nào là đặc biệt quan trọng và ưu điểm trội hơn hẳn, ngay cả
ngôn ngữ đồ thị. Một giao diện hiển thị thường được người ta ưa chuộng, với khả
năng:
+ Đưa ra câu trả lời dưới dạng hiển thị như đồ thị, lược đồ, có tác dụng
nhấn mạnh trực giác.
+ Có khả năng lựa chọn thông tin nhanh một cách tự nhiên, và nhanh
chóng.
+ Tìm kiếm trong cơ sở dữ liệu theo phương thức con người đã quen
thuộc, chẳng hạn theo cách tìm sách trong các tủ sách của thư viện.
Trong số các giao diện người dùng, giao diện đa hình thái, giao diện dùng
ngôn ngữ tự nhiên được quan tâm và nay cũng có nhiều kết quả tốt đẹp.
Tuy không được xây dựng như hệ thống tri thức hay hệ chuyên gia, cơ sở
dữ liệu có thể mô tả và xử lý các tri thức. Một thế hệ mới của các cơ sở dữ liệu
suy diễn, các tri thức xử lý được thể hiện dưới các dạng:
1. Tri thức tổng quát như các luật và sự kiện,
2. Các điều kiện thay đổi, hoặc kích hoạt dữ liệu,
3. Suy diễn các thông tin có liên hệ với các sự kiện và luật.
Ngoài ra, người ta còn đề cập khía cạnh về xử lý các tri thức không đầy
đủ.
* Cơ sở dữ liệu được thành lập từ các tập tin cơ sở dữ liệu để quản lý và
khai thác. Mỗi tập tin cơ sở dữ liệu bao gồm các mẩu tin (Record) chứa một số
thông tin về đối tượng.
Nhu cầu tích lũy và xử lý các dữ liệu đã nảy sinh trong mọi công việc,
trong mọi hoạt động của con người. Một cá nhân hay một tổ chức có thể đã ngầm
có một hệ thống xử lý dữ liệu, cho dù cơ chế hoạt động của nó là thủ công và
chưa tự động hoá.
Một bài toán nhỏ cũng cần đến dữ liệu, nhưng không nhất thiết phải quản lý
các dữ liệu này theo các phương pháp khoa học. Do khả năng tổng hợp của người
Tuy phân biệt được các hệ thống quản trị tệp với các hệ quản trị cơ sở dữ
liệu, người ta vẫn nhìn nhận việc xử lý dữ liệu theo cách người ta đã quen dùng.
Theo cách nhìn từ bộ nhớ ngoài đang lưu trữ các dữ liệu cho đến nơi có người
yêu cầu xử lý dữ liệu, người ta thấy có các chức năng liên quan đến dữ liệu như:
- Chức năng quản lý dữ liệu ở bộ nhớ phụ, như hệ thống quản lý các tệp
phân phối khoảng trống trên thiết bị nhớ.
- Chức năng quản lý dữ liệu trong các tệp, quản lý quan hệ giữa các dữ
liệu nhằm tìm kiếm nhanh. Đó là hệ truy nhập dữ liệu hay hệ thống quản trị dữ
liệu theo cấu trúc vật lý của dữ liệu. Do vậy chương trình ứng dụng thực hiện
chức năng quản trị dữ liệu không thể quản lý dữ liệu một cách rõ ràng được.
- Chức năng quản trị dữ liệu theo các ứng dụng. Nếu người sử dụng được
phép mô tả dữ liệu, họ có thể diễn tả yêu cầu về dữ liệu nhờ một ngôn ngữ. Đó là
hệ quản trị cơ sở dữ liệu ngoài, có các khả năng phân tích, dịch các câu hỏi, và
tạo dạng dữ liệu phù hợp với thế giới bên ngoài.
1.2. Cấu trúc một hệ cơ sở dữ liệu
Một hệ cơ sở dữ liệu được chia thành các mức khác nhau: mức vật lý, mức
lôgíc.
- Cơ sở dữ liệu mức vật lý là tập hợp các tệp CSDL theo một cấu trúc nào
đó được lưu trữ trên các thiết bị nhớ thứ cấp như đĩa từ, băng từ. Cơ cấu ở mức
lôgic là một sự biểu diễn trừu tượng của cơ sở dữ liệu vật lý. Cấu trúc của một
CSDL bao gồm:
- Thể hiện (Instance): Một khi đã được thiết kế, thường người ta quan tâm
tới “Bộ khung” hay còn gọi là “mẫu” của CSDL. Dữ liệu hiện có trong CSDL
gọi là thể hiện của CSDL, mặc dù khi dữ liệu thay đổi trong một chu kỳ thời gian
nào đó thì “Bộ khung” của CSDL vẫn không thay đổi.
- Lược đồ (scheme): Thường “Bộ khung” nêu trên bao gồm một số danh
mục, hoặc chỉ tiêu hoặc một số kiểu của các thực thể trong CSDL. Giữa các thực
thể có thể có mối quan hệ nào đó với nhau.
* Có các lược đồ sau:
- Lược đồ khái niệm là bộ khung của cơ sở dữ liệu khái niệm.
CSDL là tập các dữ liệu (DL) có cấu trúc cho nên CSDL quan hệ là CSDL
nhưng phải có các đặc trưng sau:
- Một quan hệ là một quan hệ 2 chiều bao gồm các cột và các hàng của các
thành phần DL.
- Mỗi bảng (Table) là một quan hệ.Và tên mỗi bảng phải là duy nhất, một
bảng bao gồm 1 hay nhiều cột (Đây là số trường - field). Số cột có trong
bảng chính là số trường quan hệ.
- Mỗi bảng bao gồm không hoặc nhiều dòng (Số bản ghi - record). Đây
chính là các bản ghi của quan hệ.
• Khoá chính : Là một hay nhiều cột trong bảng có đặc điểm dữ liệu của các
cột này phải có khi nhập, và là duy nhất không trùng lặp.
• Khoá ngoài: Là một hoặc nhiều cột chứa khoá chính của một quan hệ
khác, dùng để tạo mối liên kết giữa 2 bảng.
VD: Ta có một CSDL quản lý nhân sự cho Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Yên
Bái với các bảng như sau: Bảng NHANVIEN: Lưu trữ các thông tin chung của
cán bộ như mã cán bộ, họ tên, ngày sinh,… Bảng LUONG: lưu trữ thông tin về
lương của cán bộ. Bảng CHUCVU: lưu trữ thông tin về chức vụ của nhân viên.
1.3.2. Các loại quan hệ
Microsoft Access cung cấp cho chúng ta 3 loại quan hệ:
- Quan hệ một - một (one to one): Trong mối quan hệ một – một, một dòng
trên bảng A chỉ có một dòng tương ứng trên bảng B và ngược lại.
Mối quan hệ này thường không phổ biến lắm vì hầu hết các thông tin có
liên quan theo cách này sẽ được gộp lại trong một bảng. Chúng ta có thể tạo ra
mối quan hệ này khi các cột trong bảng ban đầu được chia thành những bảng
riêng rẽ, mà những bảng này có chung một khoá chính. Điều này thường được áp
dụng trong trường hợp vì lý do bảo mật DL.
VD: Hai bảng CANBO (MaCB, HoTen, DiaChi, NoiSinh, SDT, GT) và
bảng LUONG (MaCB, Bacluong). Tính bảo mật thể hiện ở chỗ văn phòng chỉ
quan tâm tới Bacluong còn các phòng khác thì không cần.
- Quan hệ một - nhiều (one to many): Đây là một mối quan hệ được sử
chấp DL, sao lưu DL và một số chức năng nâng cao khác như tính bảo mật chưa cao
1.3.4. Công cụ và môi trường phát triển bài toán
Để giải quyết yêu cầu mà bài toán quản lý nhân sự với những chức năng đã
được phân tích ở trên, chúng ta có thể sử dụng nhiều phần mềm quản trị cơ sở dữ
liệu khác nhau như: Foxpro (for DOS hoặc for Windows), Visual basic, Access
Mỗi ngôn ngữ, mỗi hệ quản trị cơ sở dữ liệu đều có những điểm mạnh
riêng và dĩ nhiên cũng sẽ có những hạn chế riêng.
Việc chọn một công cụ, một môi trường để triển khai bài toán quản lý đặt ra
tùy thuộc nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố chủ quan của người làm chương trình.
Trong khuôn khổ thời gian và khả năng của bản thân, sau khi cân nhắc,
lựa chọn. Em quyết định chọn phần mềm ứng dụng ACCESS một trong năm ứng
dụng của Microsoft office 2003 for Windows.
1.4. Giới thiệu chung về Microsoft Access
1.4.1. Khởi động Access và thoát khỏi Access
Khởi động Access: để khởi động MS Access ta có thể dùng các cách sau:
Cách 1: Nhấn đúp (D_click) vào shortcut của Access trên màn hình Destop.
Cách 2: Nhấn chuột (Click) vào Menu Start, chọn Program rồi chọn Microsoft
Access.
Màn hình Access khi vừa khởi động như hình sau:
Từ hộp hội thoại, bạn chọn một trong các tuỳ chọn sau:
Blank Access database: để tạo ngay một cơ sở dữ liệu mới.
Access database wizards: để tạo mới một cơ sở dữ liệu dựa trên cơ sở dữ
liệu mẫu của Access.
Open an existing file: sẽ mở một cơ sở dữ liệu đã được tạo ra trước đó.
Chọn một trong 3 tuỳ chọn này rồi nhấn nút Access sẽ đáp ứng
yêu cầu.
Thoát khỏi Access: Để thoát khỏi Access, chúng ta có thể dùng các cách sau:
Cách 1: Click vào nút ở góc trên bên phải cửa sổ Access để đóng cửa sổ Access.
Cách 2: Click vào menu File, chọn mục Exit như hình sau để thoát khỏi Access.
Cách 3: Nhấn tổ hợp phím Alt-F4.
Các khả năng của một hệ CSDL là cho chúng ta quyền kiểm soát hoàn
toàn bằng các định nghĩa dữ liệu, làm việc với dữ liệu và chia sẻ với
dữ liệu khác. Một hệ CSDL có ba khả năng chính: Định nghĩa dữ
liệu, xử lý dữ liệu và kiểm soát dữ liệu. Toàn bộ chức năng trên nằm
trong các tính năng mạnh mẽ của Microsoft Access.
a. Định nghĩa dữ liệu
Xác định dữ liệu nào sẽ được lưu giữ trong một CSDL, loại của dữ liệu
và mối quan hệ giữa các dữ liệu.
b. Xử lý dữ liệu
Có nhiều cách xử lý dữ liệu là các bảng, các truy vấn, các biểu mẫu, các
báo cáo, các macro và module trong Microsoft Access.
1.5. Các đối tượng của Microft Access
1.5.1. Bảng (Table)
Bảng là thành phần cơ bản của CSDL quan hệ và cũng là nơi Access lưu
trữ dữ liệu. Mỗi bảng gồm các trường (Field) hay còn gọi là các cột (column) lưu
giữ các dữ liệu khác nhau và các bảng ghi (record) hay còn gọi là các hàng (row)
lưu giữ tất cả các thông tin về một cá thể xác định của chủ thể đó. Có thể nói một
khóa cơ bản (Primary) (gồm một hoặc nhiều trường) và một hoặc nhiều chỉ mục
(Index) cho mỗi bảng đẻ rút tăng tốc truy nhập dữ liệu.
a. Đặt khóa chính (Primary key):
Mỗi bảng trong một CSDL quan hệ đều có một khóa cơ bản và xác định khóa
cơ bản trong Microsoft Access tùy theo từng tính chất quan trọng của bảng hay từng
CSDL mà ta chọn khóa chính cho phù hợp: Mở bảng ở chế độ Design, chọn một
hoặc nhiều trường muốn định nghĩa là khóa. Dùng chuột bấm vào nút Primary key
trên thanh công cụ.
b. Định nghĩa khóa quan hệ:
Sau khi định nghĩa song hai hay nhiều bảng có quan hệ thì nên báo cho
Access biết cách thức quan hệ giữa các bảng. Nếu như vậy, Access sẽ biết liên
kết tất cả các bảng mỗi khi sử dụng chúng sau này trong các truy vấn biểu mẫu
hay báo cáo.
ngữ truy vấn có cấu trúc SQL (Structured Query Language), hoặc công cụ truy
vấn bằng ví dụ QBE (Query by Example) tạo truy vấn.Truy vấn bằng ví dụ là
một công cụ hỗ trợ truy vấn DL mà không cần phải biết lệnh SQL.
Cách 1: Dùng ngôn ngữ SQL:
Cách 2: Dùng công cụ QBE:
1.5.3. Biểu mẫu (Form)
Mẫu biểu là đối tượng được thiết kế chủ yếu dùng để nhập hoặc hiển thị dữ
liệu, hoặc điều khiển việc thực hiện một ứng dụng. Các mẫu biểu được dùng để
trình bày hoàn toàn theo ý muốn các dữ liệu được truy xuất từ các bảng hoặc các
truy vấn. Biểu mẫu được thiết kế để thể hiện, soạn thảo hoặc nhập DL. Biểu mẫu
có mục đích làm “Thân thiện hoá ” những thao tác trên giúp người dùng có cảm
giác đang điền thông tin vào những phiếu rất “đời thường”. Trong biểu mẫu còn
có thể chứa những biểu mẫu con (SubForm), cho phép cùng lúc cập nhật trên
nhiều bảng khác nhau. Trên Form có nhiều công cụ hỗ trợ thao tác, nếu phối hợp
tốt với Macro và Module sẽ xử lý được những yêu cầu phức tạp.
Mẫu biểu là phương tiện giao diện cơ bản giữa người sử dụng và một ứng
dụng Microsoft Access và có thể thiết kế các mẫu biểu cho nhiều mục đích khác
nhau.
+ Hiển thị và điều chỉnh dữ liệu.
+ Điều khiển tiến trình của ứng dụng .
+ Nhập các dữ liệu.
+ Hiển thị các thông báo.
1.5.4. Báo cáo, báo biểu (Report)
Báo biểu là kết quả đầu ra sau cùng của quá trình khai thác số liệu. Dùng để
in ấn hoặc thể hiện các báo biểu có nguồn gốc từ bảng hoặc từ truy vấn. Báo biểu
có hình thứ trình bày phong phú, đẹp mắt vì có thể bao gồm những hình ảnh, đồ
thị và có thể xuất ra các tập tin khác như Word/Excel.
Báo cáo là một đối tượng được thiết kế để định nghĩa quy cách, tính toán, in
và tổng hợp các dữ liệu được chọn.
* Các tính năng tiên tiến của báo cáo trong Access:
hoặc thủ tục của riêng mình để thực hiện một hành động phức tạp nào đó mà
không thể thực hiện bằng công cụ tập lệnh, hoặc làm chương trình chạy nhanh
hơn.
1.5.7. Trang Web (Pages)
Cho phép chúng ta có thể tạo ra các trang Web mà trên đó có chứa DL động
lấy từ một CSDL động nào đó. Người sử dụng có thể truy cập vào CSDL thông
qua trình duyệt Web (Microsoft Internet Explorer).