I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
- Lí do khách quan:
Dạy văn nói chung, dạy đọc hiểu về tác phẩm truyện hiện đại nói
riêng ở khối lớp 9 trường Trung học cơ sở là dạy cho các em học sinh lứa
tuổi 14, 15 - lứa tuổi hồn nhiên, trong sáng, năng động và nhạy cảm…
phương pháp tìm tòi, khám phá ra thế giới văn chương nghệ thuật. Tác
phẩm văn chương nghệ thuật là thành quả sáng tạo của nhà văn, nhà thơ .
Mỗi tác phẩm văn thơ đều thuộc một thời kì văn học nhất định (có thể
cách xa thời đại mà các em sống hiện nay cả hàng thế kỉ, hàng thập niên
…). Tác phẩm văn chương dù nhỏ nhất : là một câu tục ngữ, một bài ca
dao, hay lớn hơn là một bài văn, một bài thơ, một truyện ngắn hay một bộ
tiểu thuyết đồ sộ đều có giá trị về nội dung và nghệ thuật của nó. Làm thế
nào để giáo viên giúp học sinh đồng cảm với những giá trị tư tưởng nhân
văn cần đạt tới trong mỗi tác phẩm là nhiệm vụ giảng dạy của giáo viên
dạy Ngữ Văn trong nhà trường THCS hiện nay.
Văn hào Nga Lep- Tôn-xTôi từng nói : “Vấn đề không phải biết là
quả đất tròn mà là làm thế nào để biết được quả đất tròn?”. Chân lí là quý
báu ! Nhưng, cách tìm ra chân lí còn quý hơn nhiều. Vì thế, cái khó trong
việc dạy văn, nhất là dạy đọc – hiểu về tác truyện hiện đại là làm sao
hướng cho học sinh tìm ra cái hay, cái đẹp ẩn mình trong từng tác phẩm.
Thực trạng trong những năm gần đây, học sinh khối lớp 9 khi phân
tích tác phẩm truyện, nhất là truyện hiện đại thường lâm vào tình trạng
lúng túng. Học sinh không biết bắt đầu tháo gỡ từ đâu. Kết quả thu được
là những bài viết khô cứng, nghèo nàn ý tưởng, sáo rỗng, và máy móc ….
Các em thường thiên về tóm tắt nội dung tác phẩm nên rất hạn chế về
mạch cảm xúc (không chân thật, còn gượng ép …). Rất ít học sinh chịu
1
khó tìm tòi, khám phá ra các ý mới, ý riêng, ý sâu sắc, ý hay do chính bản
thân các em cảm nhận, thật sự rung động với tác phẩm.
Mặt khác, đa số các em học sinh thường không đọc kĩ tác phẩm
thể hiện được những cảm xúc chân thật, những nhận xét, phân tích minh
xác, sáng tạo của các em đối với một tác phẩm, một nhân vật (một vấn đề
hay một khía cạnh của vấn đề thể hiện trong tác phẩm…). Đó cũng chính
là nguồn động viên không nhỏ giúp tôi đầu tư và quyết định tổng kết kinh
nghiệm này, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của thầy và trò
trong bộ môn Ngữ Văn.
2. Mục đích nghiên cứu.
Từ nhận thức trên, tôi tập trung nghiên cứu làm thế nào hiểu được tác
phẩm truyện và giảng dạy tác phẩm truyện thành công. Muốn vậy giáo
viên phải tìm hiểu đặc trưng của tác phẩm truyện và phương pháp dạy tác
phẩm truyện.
Trong khuôn khổ trao đổi kinh nghiệm cho nghiệp vụ sư phạm tôi quyết
định chọn sáng kiến kinh nghiệm: “ Phương pháp phân tích, cảm thụ tác
phẩm truyện hiện đại ở lớp 9” với mong muốn có thể ứng dụng hiệu quả
hơn, sẻ chia cùng đồng nghiệp phương pháp dạy tác phẩm truyện hiện
đại để dạy tốt phần văn bản này trong chương trình ngữ văn lớp 9.
3. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 9A- Trường THCS Trung Kênh
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Đọc tài liệu.
+ Điều tra, khảo sát cách hiểu, cảm nhận và kĩ năng phân tích tác phẩm
truyện của học sinh.
+ Phương pháp hỗ trợ: Thống kê, lập bảng số liệu đối sánh.
+ Rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy.
3
4. Phạm vi nghiên cứu và thời gian thực hiện.
- Phạm vi:
Áp dụng cho việc giảng dạy phần đọc- hiểu văn bản- tác phẩm truyện
hiện đại trong chương trình Ngữ văn lớp 9, THCS.
Giáo sư Lê Trí Viễn cũng có lời nhắn nhủ : “ Dạy văn lấy cảm làm
đầu”. Người giáo viên dạy học trò phân tích tác phẩm truyện không thể
nghèo nàn cảm xúc . Bởi những trang truyện hay, những số phận của các
nhân vật trong truyện đều có cuộc đời riêng, có tư tưởng, tình cảm, nội
tâm ….phong phú và đa dạng. Cho nên, trong hướng gợi ý học sinh trình
bày những cảm nhận, đánh giá về nhân vật, sự kiện, chủ đề…trong tác
phẩm truyện phải xuất phát từ những rung cảm chân thật, thẩm mĩ. Trong
quá trình hướng dẫn học sinh cách phân tích, giáo viên cần chú ý phát
huy, động viên tính tích cực, sáng tạo của từng học sinh, tránh gò ép học
5
sinh theo những khuôn mẫu nhất định. Người giáo viên phải biết khơi gợi
những cảm xúc của học sinh, kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở học
sinh những nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận thức cái mới qua hình
tượng nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại…Vì vậy, nếu ai đó tự cho
rằng mình đã gợi đầy đủ các ý tưởng của tác phẩm qua từng trang truyện
thì chưa hẳn là một giáo viên dạy tốt, nắm chắc phương pháp hướng dẫn
học sinh cách phân tích tác phẩm truyện.
Dưới đây là một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh cách phân
tích tác phẩm truyện mà bản thân tôi - một giáo viên trực tiếp giảng dạy
Ngữ Văn 9 đã đúc kết được qua nhiều năm.
2. Cơ sở thực tiễn.
- Khi học môn Ngữ Văn, đặc biệt là khi phân tích tác phẩm truyện
đòi hỏi học sinh không chỉ hiểu mà còn cần phải có những cảm nhận,
cách đánh giá về tác phẩm.
- Thực tế cho thấy, học sinh còn gặp nhiều khó khăn khi phân tích
tác phẩm truyện hiện đại.
- Không hiếm trường hợp, học sinh tỏ ra lúng túng trước một tác
phẩm truyện. Thậm chí có những diễn đạt tỏ ra bế tắc, ngô nghê.
- Nhiều giáo viên giảng dạy bộ môn không chú ý xây dựng phương
pháp cho học sinh, dẫn đến hiệu quả bộ môn phụ trách không cao qau các
7
thành hình tượng trong truyện, mặt khác cũng lại là phương tiện để thể
hiện thái độ, tình cảm, tư tưởng, sự đánh giá của tác giả đối với cuộc
sống.
Một truyện hay thường khi do bản thân câu chuyện được kể đồng thời
còn do cách kể chuyện. Có khi từ những truyện không có gì ghê gớm, đặc
biệt mà người kể có thể kể thành rất lý thú, sâu sắc. Đó là vì người kể
thường hay thể hiện cách nhìn, cách nghĩ, cách nhận xét, cách đánh giá,
nói chung là thể hiện thái độ của người kể đối với sự việc và con người
trong truyện.
Lời kể đó là cái nền ngôn ngữ đồng thời là cái nền tình cảm của truyện.
Lời kể trong truyện thường khắc họa nên hình tượng một nhân vật thường
khi là vô hình mà lại vô cùng quan trọng; đó là hình tượng tác giả hay
rộng hơn hình tượng người kể chuyện. Khi phân tích, đọc, giảng truyện ta
không thể nào bỏ qua yếu tố quan trọng này.
Một tác phẩm tự sự( truyện ) tất nhiên cũng giống như bất kì một tác
phẩm văn học nào khác, đòi hỏi phải được phân tích toàn diện, cặn kẽ và
đúng phương hướng. Điều đặc biệt ở tác phẩm truyện là cấu tạo hình
tượng tác phẩm dựa vào 3 yếu tố: Tình tiết( cốt truyện), nhân vật và lời
kể. Vì vậy khi phân tích truyện cần lưu tâm đến ba yếu tố này. Đó cũng là
đặc trưng phân biệt cấu tạo một tác phẩm truyện với một bài thơ trữ tình
hay một bài văn chính luận.
2.Thực trạng
Hơn mười năm đứng trên bục giảng, tôi thường trăn trở với những
bài giảng của mình. Có những bài giảng thành công. tuy nhiên, không ít
bài giảng thất bại. Những dấu ấn của thất bại khơi dậy trong tôi khao khát
tìm tòi để khắc phục. Một trong những thể văn mà cả thầy và trò, trong
thực tế đều rất “ngại” đối mặt. Đó là thể truyện(hiện đại) với những đặc
8
trưng nổi bật vừa trình bày ở trên. Trên lý thuyết, ai nắm được quy luật,
Đồng thời giúp học sinh cảm nhận sâu sắc giá trị nội dung của tác
phẩm… (như phân tích một tác phẩm văn học nói chung) thì giáo viên
cần đặc biệt chú ý hướng dẫn học sinh theo những giải pháp quan trọng
sau.
1.1 Giải pháp thứ nhất: Hướng dẫn học sinh nẵm vững sự phát triển
của tình tiết(cốt truyện)(tức là hướng dẫn học sinh tóm tắt cốt
truyện)
Hiểu một cách ngắn gọn, cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể được
tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định của nhà văn. Nhờ
cốt truyện, nhà văn thể hiện sự hình thành, đặc điểm của mỗi tính cách
cũng như sự tác động qua lại giữa các tính cách. Cũng nhờ cốt truyện, nhà
văn tái hiện các xung đột xã hội, chứng tỏ năng lực, cách thức chiếm lĩnh
thực tại khách quan của mình. Dù đa dạng, mọi cốt truyện đều trải qua
một tiến trình vận động có hình thành, phát triển và kết thúc
Học một bài thơ trữ tình phải nắm được diễn biến của cảm xúc.
Học một bài văn nghị luận phải nắm được trình tự lập luận của tác giả.
Còn học một tác phẩm truyện trước hết phải nắm được diễn biến của câu
chuyện, tức là phải tóm tắt được cốt truyện. Thực tế cho thấy, nhiều
trường hợp, giáo viên không nắm chắc diễn biến của cốt truyện nên còn
lúng túng khi hướng dẫn học sinh phân tích.
Để hiểu được nội dung phản ánh, để phân tích được các giá trị về mặt
tư tưởng lẫn nghệ thuật của một tác phẩm tự sự, cần tóm tắt chính xác cốt
10
truyện của nó. Có thể xem tóm tắt cốt truyện là yêu cầu có tính chất tạo
nền, là cơ sở để từ đó tìm hiểu các vấn đề khác của tác phẩm. Cách tóm
tắt cốt truyện thể hiện mức độ thâm nhập tác phẩm, năng lực bao quát và
khả năng diễn đạt cô đúc, gãy gọn của người tóm tắt.
- Muốn tóm tắt được cốt truyện một tác phẩm tự sự, trước tiên cần đọc
kĩ tác phẩm và trả lời được những câu hỏi sau:
- Hoàn cảnh xã hội, thời kì lịch sử mà tác phẩm phản ánh, tái hiện?
(Ông Hai không muốn đi). Ông muốn ở lại để bảo vệ làng, bảo vệ niềm tự
hào của cuộc đời ông. Nhưng do hoàn cảnh và do yêu cầu của cách mạng
ông và gia đình phải tản cư đến nơi mới.
+ Đến nơi tản cư, ông Hai vẫn khôn nguôi nhớ làng. Ông vẫn theo dõi tin
tức về làng. Khi nghe tin thất thiệt: “ Làng chợ Dầu Việt gian theo giặc”,
ông Hai rất buồn, hổ thẹn, tủi cực: Ra đường ông cúi gằm mặt xuống mà
đi. Trong ý nghĩ của ông “Làng thì yêu thật nhưng làng theo tây mất rồi
thì phải thù”. Ông dồn tất cả những băn khoăn vào cuộc trò chuyện với
đứa con trai.
+ Khi nghe tin cải chính: Làng Dầu không theo Tây, ông Hai cảm thấy
sung sướng và tự hào vì làng ông là làng kháng chiến…
1.2 Giải pháp thứ hai: Hướng dẫn học sinh nắm tình huống quan
trọng của truyện.
Sau khi tóm tắt cốt truyện, giáo viên cần hướng dẫn để học sinh
nắm được tình huống của truyện. Tình huống có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc thể hiện tính cách và số phận nhân vật, thể hiện chủ đề
của tác phẩm. Có thể xem tình huống là loại hoàn cảnh bất bình thường,
hoàn cảnh “có vấn đề” đòi hỏi con người trong đó phải xử lí, phải vượt
12
qua. Khi được hoặc bị đặt trong tình huống, con người ta mới bộc lộ tính
cách, bản chất của mình một cách đầy đủ, chân thực nhất. Nếu cuộc sống
là một dòng sông thì tình huống là các xoáy nước. Nó chính là phần đậm
đặc nhất của cuộc sống, nơi thể hiện tập trung bản chất một xã hội, một
thời đại. Như vậy tình huống gắn chặt với cốt truyện, thường hiện lên rõ
rệt ở các bước ngoặt trên dòng của cốt truyện và tác động trực tiếp tới
nhân vật. Xây dựng tình huống trở thành nhiệm vụ và hứng thú, trở thành
nơi thử thách tài nghệ của nhà văn. Một số truyện trong sách giáo khoa
Ngữ văn lớp 9 có cốt truyện đơn giản, thường tập trung vào soi rọi đời
sống nội tâm và những vận động tâm lý ở một tình huống quan trọng. Do
đó, gió viên cần hướng dẫn học sinh nhận ra được tình huống truyện và
tác phẩm là người chở nội dung, phản ánh tư tưởng, chủ đề của tác phẩm,
là nơi kí thác quan niệm về con người, về nhân sinh của nhà văn. Bởi thế,
phân tích nhân vật trở thành con đường quan trọng nhất để đi đến giá trị
hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm, để nhận ra lí tưởng thẩm mĩ của
nhà văn. Một nhân vật văn học lớn bao giờ cũng thể hiện một số phận,
một quan niệm nhân sinh độc đáo và thường điển hình cho một tầng lớp
xã hội, một giai cấp, thậm chí một thời đại nào đó.
Về nhân vật cũng có những dạng khác nhau đòi hỏi sự phân tích
phù hợp với mỗi kiểu loại.
Chẳng hạn: Nếu nhân vật anh thanh niên trong truyện “ Lặng lẽ Sa Pa”
chỉ là“ một bức chân dung” ( theo cách nói của tác giả) thì những nhân
vật bé Thu ( trong “ Chiếc lược ngà”), Phương Định ( trong “ Những ngôi
sao xa xôi”), ông Hai( trong “ Làng”) lại là những nhân vật được khắc
14
họa khá rõ về tính cách và nội tâm; còn Nhĩ ( trong “ Bến quê”) là loại
nhân vật tư tưởng để tác giả gửi gắm những chiêm nghiệm, triết lí về
cuộc sống và con người.
Khi phân tích nhân vật hướng dẫn HS chú trọng những điểm sau:
a. Lưu ý cho HS đến các chi tiết miêu tả, tự sự, nhận xét về nhân vật
trong tác phẩm.
Những chi tiết này có lúc được bộc lộ rõ ràng, nhưng thường rất tế
nhị, kín đáo ẩn trong lời văn đọc qua thường ít gây chú ý.
b. Phát hiện và lựa chọn các chi tiết tiêu biểu, sắp xếp, phân loại
chúng theo trình tự hợp lý nhằm làm sáng tỏ tính cách nhân vật.
Có thể lần lượt xem xét nhân vật thông qua các phương diện sau:
+ Lai lịch:
Đây là phương diện đầu tiên góp phần hình thành đặc điểm tính cách
cùng cuộc đời của nhân vật. Lai lịch có quan hệ trực tiếp và quan trọng
với đường đời của một người cũng như mục đầu tiên ta thường khai trong
bản “Sơ yếu lí lịch” là thành phần xuất thân, hoàn cảnh gia đình vậy.
sống, lạc quan, cởi mở chân thành…
+ Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm truyện thường được cá thể
hóa cao độ, nghĩa là mang đậm dấu ấn của một cá nhân. Qua đó ta có thể
nhận ra tính cách của nhân vật( ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại)
Chẳng hạn:
16
Ngôn ngữ của Ông Hai trong truyện ngắn “Làng” thật mộc mạc giản
dị, giàu tính khẩu ngữ và là lời ăn tiếng nói của nông dân: “ Các ông, các
bà ở đâu ta lên đấy ạ?”, “ Thì vưỡn! Lúa dưới ta tốt nhiều chứ?”. Đặc biệt
là những lời độc thoại, độc thoại nội tâm của ông Hai… Ngôn ngữ ấy đã
góp phần khắc họa tính cách thẳng thắn, bộc trực, chất phác của ông Hai,
cũng như những diễn biến tâm lý căng thẳng của ông xung quanh tin làng
chợ Dầu quê ông theo giặc.
Trong truyện ngắn “ Những ngôi sao xa xôi”(Lê Minh Khuê), nhân vật
Phương Định được khắc hoạ những nét cá tính đặc biệt. một cô gái lãng
mạn, lạc quan, mơ mộng, đầy chất thơ trong một tâm hồn ắp tràn niềm tin
sống. Nhưng, ở cô, người đọc còn cảm nhận được một tinh thần thép giữa
chiến trường khói lửa… Những nét tính cách ấy được thông qua ngôn
ngữ của chính nhân vật( ngôn ngữ đối thoại, đặc biệt ngôn ngữ độc thoại
nội tâm).
+ Nội tâm:
Khi phân tích nhân vật, cần quan tâm đến thế giới bên trong với những
cảm giác, cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ… Thế giới bên trong này thường
tương tác với thế giới bên ngoài (môi trường thiên nhiên, sự biến chuyển
của đời sống xã hội, quan hệ và hành vi của các nhân vật khác) đồng thời
cũng có qui luật vận động riêng của nó. Một nghệ sĩ tài năng thường cũng
là một bậc thầy trong việc nắm bắt và diễn tả tâm lí con người. Miêu tả
chân thực, tinh tế đời sống nội tâm nhân vật là điều kiện thử thách tài
nghệ nhà văn và cảm nhận, phân tích được một cách kĩ lưỡng, thuyết
như thế: hồi hộp, lo lắng,căng thẳng…. Kề bên cái chết im lìm, đáng sợ,
bất ngờ từng cảm giác của cô gái trở nên sắc nhọn hơn. Cảm xúc và suy
nghĩ chân thực của cô đã truyền sang cho người đọc nỗi niềm đồng cảm
18
yêu mến và sự kính phục. Một cô nữ sinh nhỏ nhắn, nhạy cảm, giàu mơ
mộng mà cũng thật anh hùng. Đó là diễn biến tâm lí rất chân thực mà chỉ
có người trong cuộc mới có thể tả như vậy.
+ Cử chỉ, hành động.
Bản chất của con người ta bộc lộ chân xác, đầy đủ nhất qua cử chỉ,
hành động. Phân tích nhân vật, vì thế, cần tập trung khai thác kĩ nhất các
cử chỉ, hành động. Đó là sự thật hiển nhiên. Nhưng đáng chú ý là bản
chất nhân vật không chỉ bộc lộ ở việc nhân vật ấy làm mà còn qua cách
làm việc ấy của nhân vật nữa. Vế sau này cũng là một phương diện vô
cùng quan trọng để nhà văn cá tính hóa nhân vật.
Chẳng hạn: Nhân vật bé Thu( “ Chiếc lược ngà”), bất ngờ gặp anh Sáu,
nó nhất định không chịu gọi ba chỉ vì vết thẹo dài trên mặt anh đã khiến
anh không giống với bức hình mà Ba đã chụp chung với má nó. Trong hai
ngày anh Sáu ở nhà, mặc kệ những lời nói, cử chỉ âu yếm, vỗ về của anh
Sáu, bé Thu vẫn thờ ơ, bướng bỉnh, không chịu gọi Ba, thậm chí khi bị
dồn vào thế bí, phải nhờ đến sự giúp đỡ của anh Sáu ( Mẹ dặn nó trông
nồi cơm, đến khi cơm sôi nó rất hoảng sợ) cứ tưởng con bé sẽ cất tiếng
gọi ba, nào ngờ nó nhất định không gọi mà chỉ nói trống không: “ Cơm
sôi rồi chắt nước giùm cái!”, “ Cơm sôi rồi, nhão bây giờ!”. Đó là phản
ứng tâm lí tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ. Trong sự cứng
đầu của bé Thu ẩn chứa cả sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu đối với
người cha trong bức hình chụp chung với má.
Cho đến khi, anh Sáu chuẩn bị lên đường trở về căn cứ thì thái độ của
Thu thay đổi đột ngột, kì lạ đến khó hiểu và rất cảm động:
Nhà văn đặc tả: “ Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy tình cha con như bỗng
nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét
các nhân vật phụ khác:
Anh thanh niên không xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện mà nhà
văn đã để cho bác lái xe giới thiệu về anh với hai người khách trong
chuyến xe khách lên Sa Pa ( Ông họa sĩ và cô kĩ sư trẻ). Lời giới thiệu
đầy ấn tượng của bác đã làm cho ông họa sĩ, cô kĩ sư và cả người đọc đón
chờ sự xuất hiện của nhân vật: “Tôi sắp giới thiệu với bác một trong
những người cô độc nhất thế gian. Thế nào bác cũng thích vẽ hắn.”. Cũng
qua lời kể của bác mà ta biết được những nét sơ lược về nhân vật
chính( tuổi tác, hoàn cảnh sống, công việc và nỗi thèm được gặp người
của anh thanh niên khi mới lên sống một mình trên đỉnh núi cao “bốn bề
chỉ cây cỏ và mây mù lạnh lẽo”.
Đặc biệt là qua những quan sát, suy nghĩ của ông họa sĩ, cô kĩ sư
về anh thanh niên ta thấy như một ánh sáng được lọc qua nhiều lớp kính
nó trở nên trong trẻo và rực rỡ hơn. Anh hiện lên rõ nét và đẹp hơn, chủ
đề tác phẩm trở nên sâu, rộng hơn.
Tuy nhiên, không phải bất cứ nhân vật nào cũng được nhà văn thể
hiện đầy đủ các phương diện này (lai lịch, ngoại hình, ngôn ngữ, nội tâm,
cử chỉ, hành động, qua lời của nhân vật khác). Tùy trường hợp mà có chỗ
nhiều, chỗ ít, chỗ đậm, chỗ nhạt. Bởi thế, không phải cứ máy móc tìm đủ,
phân tích đủ mà cần biết tập trung, xoáy sâu vào các phương diện thành
công nhất của tác phẩm. Cũng không cứ phải tuần tự theo sáu phương
diện như thế mà nên sắp xếp theo thực tế, theo ý chủ quan của người phân
tích.
Chẳng hạn : Truyện ngắn : “Làng” đặc biệt thành công ở nghệ thuật
miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật nên khi phân tích nhân vật ông Hai
21
cần tập trung vào hai phương diện này. Còn nhân vật anh thanh niên
trong “ Lặng lẽ Sa Pa” lại hiện lên chủ yếu qua cảm xúc và suy nghĩ cùng
thái độ cảm mến của các nhân vật phụ.
Cuối cùng, tổng hợp các mặt phân tích về nhân vật thành một nhận
cách mạng.
Cốt truyện diễn biến theo tâm lí tạo tình huống căng thẳng để thử
thách nội tâm, Kim Lân đã đưa người đọc tới một thứ tình cảm cao đẹp:
lòng yêu làng của một lão nông trở thành niềm say mê, hãnh diện, thành
thói quen được khoe về làng mình. Tình yêu ấy thống nhất với tình yêu
dân tộc khi đất nước đang bị kẻ thù xâm chiếm. Đó cũng là tình cảm sắt
son của dân tộc Việt Nam:
“ Tình yêu Tổ quốc là đỉnh núi bờ sông,
Những lúc tột cùng là dòng huyết chảy”.
1.4. Giải pháp thứ tư: Hướng dẫn học sinh cảm và hiểu được cái hay,
thú vị trong lời kể của tác giả( hay chính là lời của người kể chuyện).
Lời kể chính là ngôn ngữ nghệ thuật của truyện. Phân tích lời kể
của tác giả thực chất là phân tích ngôn ngữ khi giảng truyện.
Ngôn ngữ nghệ thuật bao giờ cũng nhằm khêu gợi được sự sống
và truyền đạt được cảm xúc. Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong lời kể
chuyện. Cái hay của lời kể trong truyện chính là ở chỗ tự nhiên, nhuần
nhị, sinh động và truyền cảm. Một câu chuyện hay là câu chuyện tự nó
sống qua lời kể. Muốn vậy lời kể phải xen lẫn với miêu tả( tả cảnh, tả vật,
tả người, tả tình).
Khi phân tích lời kể trong truyện cần chú trọng chỉ ra được sức
mạnh gợi tả của ngôn ngữ, chỉ rõ các từ ngữ, câu văn, cách viết, lối kể
23
của tác giả đã làm hiển hiện được cảnh, việc, người như thế nào? Đồng
thời gây xúc cảm cho người đọc ra sao?
Thường thường khi phân tích ngôn ngữ đòi hỏi người thầy phải có
kiến thức cơ bản về tu từ học. Nhưng, cái hay của ngôn ngữ trong văn
học có muôn màu nghìn vẻ, tùy thuộc vào sự đa dạng biến hóa của nội
dung. Ngôn ngữ lời văn được xem là hay khi diễn đạt được tốt nhất nội
dung cuộc sống và nội dung tư tưởng, tình cảm của tác phẩm. Cái hay của
ngôn ngữ nghệ thuật là ở chỗ sinh động và rung cảm, chất chứa chất liệu
mang đậm cá tính của nhân vật nên rất sinh động.
Nói tóm lại, giảng dạy truyện thì phải phân tích lời kể của truyện,
phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm. Lời kể truyện là sợi tơ dệt
nên tình tiết, dệt nên toàn bộ hình tượng.
1.5. Giải pháp thứ năm: thuyết trình và giảng bình của thầy cô là
chất “men” gợi xúc cảm cho học trò về nhân vật
Nói chung, bình giảng xoáy vào ấn tượng chủ quan và không nhất
thiết phải xem xét toàn diện đối tượng. Người đọc cần chắt lọc xem yếu
tố nào ( hoặc một vài yếu tố) gây ấn tượng đậm nhất, lay động mình sâu
xa nhất. Ấn tượng càng sâu đậm,càng ám ảnh bao nhiêu thì càng dễ
truyền cảm bấy nhiêu. Ngọn nguồn của lời bình bao giờ cũng phải là sự
truyền cảm. Nếu bình nghiêng về cảm thì giảng nghiêng về hiểu. Bình
nghiêng về sự rung động tâm hồn thì giảng nghiêng về nhận thức trí tuệ.
Bình là sự thăng hoa cất cánh còn giảng là sự đào sâu tìm cơ sở, làm điểm
tựa, làm đòn bẩy cho sự cất cánh.
25