Hoàn thiện quy chế trả lương tại Công ty Cổ phần Đầu tư, Thương mại và Xây dựng Giao thông 1 - Pdf 11

Bản thảo chuyên đề
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, điều này tạo ra
nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế trong nước.
Tuy nhiên bên cạnh đó xu thế hội nhập cũng đặt ra nhiều thách thức lớn cho
cả nền kinh tế nói chung cũng như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói
riêng. Cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt buộc các doanh nghiệp luôn phải
tự đổi mới mình để theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế và giữ được chỗ
đứng của mình trên thị trường. Con người chính là nhân tố trung tâm quyết
định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhưng làm thế nào để phát huy tiềm
năng con người, kích thích lao động, sáng tạo là vấn đề được nhiều doanh
nghiệp hết sức quan tâm.
Tiền lương đối với doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành chi phí sản
xuất, song tiền lương cũng là khoản thu nhập chính đối với người lao động.
Quy chế trả lương luôn là mối quan tâm hàng đầu của người lao động cũng
như của doanh nghiệp bên cạnh các yếu tố quan trọng khác như: môi trường
làm việc, uy tín của doanh nghiệp, ngành nghề… Một quy chế trả lương phù
hợp có tác dụng nâng cao năng suất và chất lượng lao động, giúp doanh
nghiệp thu hút và duy trì được những cán bộ, nhân viên giỏi.
Thấy được vai trò rất quan trọng của việc phân phối tiền lương đối với
sự phát triển của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nói chung cũng như đối
với Công ty Cổ phần, đầu tư, thương mại và xây dựng giao thông 1 nói riêng,
hơn nữa quy chế trả lương tại Công ty đã được nghiên cứu xây dựng và thực
hiện tốt song vẫn còn một số vấn đề cần hoàn thiện, do vậy trong thời gian
thực tập tại Công ty tôi đã tìm hiểu và chọn đề tài: Hoàn thiện quy chế trả
lương tại Công ty Cổ phần đầu tư, thương mại và xây dựng giao thông 1.
Tôi mong rằng đề tài này sẽ góp phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện hơn
nữa công tác tiền lương nói chung và quy chế trả lương tại Công ty Cổ phần
1
Bản thảo chuyên đề
đầu tư, thương mại và xây dựng giao thông 1 nói riêng để quy chế trả lương

1
Sức lao động là một loại hàng hoá, giá trị của sức lao động chính là
công sức của người lao động kết tinh trong hàng hoá. Tiền lương là một phạm
trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá. Trong nền
kinh tế hiện nay, với sự chuyên môn hoá cao của tư liệu sản xuất mà hình
thành nên một nền kinh tế đa dạng đa ngành nghề. Do vậy tuỳ vào các đặc thù
riêng trong việc sử dụng sức lao động của từng khu vực kinh tế mà các quan
hệ thuê mướn, mua bán sức lao động cũng khác nhau. Sự đánh giá một cách
chính xác giá trị của sức lao động sẽ đưa ra được số tiền lương hợp lý mà
người sử dụng sức lao động có thể trả.
Tiền lương là khoản thu nhập chính đối với người lao động do vậy nó
phải mang đầy đủ giá trị giúp họ có thể tái sản xuất lại sức lao động đã mất
trong quá trình lao động, đồng thời nó còn phải đáp ứng được giá trị tinh thần
cơ bản của người lao động trong cuộc sống để có thể làm động lực thúc đẩy
người lao động trong công việc. Không những thế, tiền lương còn là chi phí
đầu vào bắt buộc của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, do đó tiền lương
có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1
Bộ Luật lao động
3
Bản thảo chuyên đề
của doanh nghiệp thông qua việc tạo động lực, khuyến khích người lao động
làm việc đạt năng suất cao hơn.
* Bản chất của tiền lương
Trong tất cả mọi hình thái kinh tế xã hội, con người luôn đóng vai trò
trung tâm chi phối quyết định mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Để sản xuất
ra của cải vật chất, con người phải hao phí sức lao động. Để có thể tái sản
xuất và duy trì sức lao động đó, người lao động sẽ nhận được những khoản bù
đắp được biểu hiện dưới dạng tiền lương. Tiền lương chính là biểu hiện bằng
tiền của giá trị sức lao động mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao

việc…
* Thúc đẩy sự phân công lao động và tạo nên sự gắn kết trong xã hội
Do tiền lương là giá trị của sức lao động kết tinh trong hàng hoá được
làm ra. Chính vì vậy nếu năng suất lao động của người lao động được nâng
cao thì sẽ có lợi cho cả người lao động lẫn người sử dụng lao động đó. Đối
với người lao động sự chuyên môn hoá giúp họ có thể nâng cao năng suất lao
động của chính mình cũng như có thể theo được cuộc cách mạng khoa học
công nghệ trong việc tạo ra các tư liệu sản xuất mới.
Tiền lương chính là yếu tố thúc đẩy người lao động tiến tới sự chuyên
môn hoá lao động bởi vì khi đó họ được nhận mức lương cao hơn do số lượng
hàng hoá họ làm ra nhiều hơn dựa vào việc tăng năng suất lao động của chính
mình. Đồng thời tiền lương cũng kích thích việc hoàn thiện các mối quan hệ
xã hội: việc gắn hiệu quả làm việc của người lao động với hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp, tổ chức đã thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn
nhau, tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân và sự phát triển
của tổ chức, xã hội.
* Chức năng tích luỹ
5
Bản thảo chuyên đề
Về cơ bản tiền lương không chỉ đảm bảo đơn thuần là tái sản xuất lại
sức lao động cho người lao động, tiền lương còn phải tạo ra được tích luỹ đề
phòng những rủi ro bất thường và duy trì cuộc sống trong tương lai, các yếu
tố này tuy không tham gia trực tiếp vào việc tái sản xuất sức lao động nhưng
nó thực sự cần thiết để đảm bảo một cuộc sống ổn định cho người lao động.
Như vậy, với đầy đủ các chức năng của mình tiền lương cho thấy nó
thật sự là một đơn vị phản ánh giá trị sức lao động, có tác động lớn lao đến
việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và đem lại công bằng xã hội. Do
đó, việc xây dựng một hệ thống chính sách về lương hợp lý sẽ tạo ra điều kiện
cần thiết để bảo đảm việc tăng năng suất lao động, phân bố lao động một cách
hợp lý giữa các ngành, các nghề,các vùng và các lĩnh vực trong nước; thúc

khác nhau thì khác nhau. Với mỗi ngành khác nhau thì tính chất phức
tạp của công việc, yêu cầu về trình độ kỹ thuật và công nghệ khác nhau,
do đó đòi hỏi trình độ lành nghề của công nhân cũng khác nhau. Do đó
việc tính trả lương cũng khác nhau. Trình độ lành nghề càng cao thì
mức lương càng cao.
- Điều kiện lao động: những người làm việc trong điều kiện nặng nhọc,
độc hại, mức hao phí sức lao động lớn hơn do đó được tính trả lương
cao hơn những người làm việc trong điều kiện bình thường.
- Ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành và sự phân bố ngành theo lãnh thổ: với
mỗi thời kỳ khác nhau thì có những ngành được ưu tiên phát triển tuỳ
theo chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Do đó những ngành
trọng điểm thì có mức tiền lương cao hơn nhằm thu hút và khuyến
khích người lao động nhằm đẩy mạnh sự phát triển của ngành; Cùng
một ngành nhưng được phân bố ở những nơi khác nhau thì điều kiện
7
Bản thảo chuyên đề
làm việc, sinh hoạt… khác nhau. Ở những vùng không thuận lợi, xa
xôi, hẻo lánh thì được hưởng mức lương cao hơn.
1.4. Ý nghĩa của tiền lương trong sản xuất kinh doanh
Tiền lương đối với các chủ doanh nghiệp là một phần chi phí đáng kể
trong chi phí sản xuất kinh doanh, song tiền lương cũng là nguồn thu nhập
chính của người lao động. Do đó tiền lương không chỉ mang tính chất là chi
phí mà tiền lương còn mang ý nghĩa là tạo ra động lực, kích thích sản xuất,
sáng tạo của người lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Đối với người sử dụng lao động, tiền lương phản ánh mối quan hệ kinh
tế, xã hội giữa họ với người lao động: tiền lương là một phần chi phí sản xuất,
có ảnh hưởng lớn đến giá thành sản phẩm, vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường, đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Hơn nữa, tiền lương còn là
công cụ quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp, là công cụ để duy trì và
phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, và theo đó, tiền lương còn biểu

động; quan hệ mật thiết với sự vận động của thị trường lao động; tuân theo
những quy luật kinh tế khách quan nhưng lại vừa đảm bảo tuân theo các quy
định của Pháp luật và của Nhà nước. Muốn xây dựng được một quy chế trả
lương hợp lý, mang lại hiệu quả cao và có ý nghĩa trong thực tiễn thì cần phải
dựa trên những căn cứ:
- Căn cứ vào các Nghị định, thông tư của Chính phủ, các bộ ngành có
liên quan về tiền lương và quy chế trả lương.
- Căn cứ vào các điều lệ hoạt động, quy định chung và đặc điểm của
doanh nghiệp, tổ chức.
- Căn cứ vào ý kiến đóng góp của những người trong công ty.
2.3. Nội dung cơ bản của quy chế trả lương
2.3.1. Quy định các nguyên tắc chung
9
Bản thảo chuyên đề
* Quy định đối tượng và điều kiện áp dụng quy chế:
Trong phần này nêu rõ áp dụng cho những đối tượng nào và điều kiện
để được trả lương.
* Quy định các nguyên tắc chung về cách thức phân phối tiền lương,
tiền thưởng
- Tuân theo các nguyên tắc chung về tiền lương (trả công ngang nhau
cho những lao động như nhau, …).
- Chống phân phối bình quân.
- Quỹ tiền lương không được sử dụng vào mục đích khác.
- Quy chế trả lương phải được phổ biến công khai đến mọi người lao
động trong doanh nghiệp và phải được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền.
2.3.2. Nguồn hình thành và sử dụng quỹ tiền lương
* Nguồn hình thành quỹ tiền lương
Bao gồm:
- Quỹ lương từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Quỹ lương dự phòng.

bản…).
2.3.4. Tổ chức thực hiện
Quy định cách thức tổ chức xây dựng và phân phối quỹ tiền lương.
Doanh nghiệp phải tổ chức việc xây dựng và thực hiện quy chế trả lương như
sau:
Thành lập hội đồng xây dựng quy chế trả lương do Giám đốc làm Chủ
tịch. Số thành viên do Giám đốc quyết định.
Hội đồng dự thảo quy chế, tổ chức lấy ý kiến dân chủ trong toàn doanh
nghiệp sau đó hoàn chỉnh.
11
Bản thảo chuyên đề
Giám đốc lấy ý kiến của những người đại diện các bộ phận sau đó công
bố chính thức. Quy chế phải được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, được
công bố rộng rãi, các bộ phận có liên quan với công tác tiền lương phối hợp
cùng Giám đốc triển khai thực hiện quy chế.
2.4. Trình tự xây dựng quy chế trả lương
2.4.1. Nghiên cứu các quy định của Nhà nước về tiền lương, xem xét
mức lương tối thiểu
Việc tìm hiểu và tuân thủ đúng các quy định của Nhà nước và của Pháp
luật về tiền lương và các vấn đề về lao động là việc làm cần thiết và bắt buộc.
Cần nghiên cứu các văn bản pháp quy của Nhà nước liên quan đến vấn đề tiền
lương và xem xét mức lương tối thiểu của Nhà nước quy định, việc này đảm
bảo cho doanh nghiệp tuân thủ theo quy định của Nhà nước và làm cơ sở để
tính trả lương cho người lao động một cách khoa học.
2.4.2. Điều tra mức lương thịnh hành
Một doanh nghiệp không chỉ chịu sức ép cạnh tranh về đầu ra của sản
phẩm, dịch vụ, về thị trường kinh doanh… mà còn phải chịu sự cạnh tranh
gay gắt của các yếu tố đầu vào mà yếu tố quan trọng nhất là nguồn nhân lực.
Việc điều tra mức lương thịnh hành và xác định được mặt bằng mức lương
bình quân của các vị trí lao động trong cùng ngành và trong cùng khu vực địa

các bản mô tả khái quát cho các công việc; Đánh giá từng công việc bằng
cách so sánh bản mô tả của công việc đó với các bản mô tả của các hạng và
sau đó công việc đó được xếp vào hạng phù hợp. Các hạng công việc được
sắp xếp theo thứ tự từ cao đến thấp và mỗi hạng có một bản mô tả bằng lời
các ví dụ về các loại công việc phù hợp với hạng đó.
13
Bản thảo chuyên đề
Ưu điểm: phương pháp này đã duy trì sự chênh lệch về trả công giữa
các công việc trong một tổ chức đặc biệt lớn và tiêu chuẩn hoá tiền công cho
các công việc tương tự nhau.
Nhược điểm: do có tính ổn định lớn nên phương pháp này không thích
ứng được với những yếu tố như những sự chênh lệch tiền công giữa các vùng,
các thay đổi của thị trường lao động.
* Phương pháp so sánh yếu tố
Mỗi công việc được sắp xếp thứ tự theo từng yếu tố thù lao và nó sẽ
nhận được một giá trị tiền tương ứng. Phương pháp này khá phức tạp do đó ít
được sử dụng trong thực tiễn.
2.4.4. Xác định các ngạch lương
“Ngạch lương là một nhóm các công việc dọc theo hệ thống thứ bậc về
giá trị của các công việc và được trả cùng một mức tiền công”
2
Trong một công ty có thể có nhiều ngạch lương, có thể có 6, 8 hay 10,
12 và 15, 20 ngạch lương.
2.4.5. Xác định mức lương cho từng ngạch
Trong mỗi phương pháp đánh giá thì xác định một mức tiền công
chung cho cả ngạch. Để có tác dụng khuyến khích người lao động làm việc,
nhiều doanh nghiệp đã xác định một khoản tiền công để trả công cho những
người lao động khác nhau cùng thực hiện các công việc trong ngạch thay vì
sử dụng một mức tiền công duy nhất và chung cho các công việc trong ngạch.
2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện quy chế

khuyết tật chưa khắc phục được, sự vận động của thị trường và vai trò quản lý
của Nhà nước là không thể tách rời, do đó các doanh nghiệp cần kết hợp với
các quy định của Nhà nước về tiền lương để xây dựng quy chế trả lương một
cách khoa học và hợp lý nhất.
15
Bản thảo chuyên đề
* Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và khả năng ứng dụng của khoa
học kỹ thuật vào các hoạt động kinh tế
Khoa học kỹ thuật phát triển làm thay đổi phương thức làm việc của
người lao động, do đó cách thức trả lương cũng thay đổi. Hơn nữa với sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật, cùng với cách thức quản lý khoa học và sâu sát hơn
của Nhà nước về tiền lương và thu nhập, đã thực sự làm tăng vai trò, động lực
và tác dụng đòn bẩy của tiền lương.
* Sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế
Cơ chế quản lý của Nhà nước có vai trò kết hợp vai trò điều tiết của
Nhà nước và Chính phủ với quy luật vận động khách quan của thị trường, quy
định các quyền và nghĩa vụ đối với các tổ chức, cá nhân, điều tiết vĩ mô các
cơ chế kinh doanh, các chính sách tiền lương. Do đó cơ chế quản lý kinh tế
thay đổi cũng làm cơ chế trả lương phải thay đổi theo.
* Loại hình sở hữu doanh nghiệp
Mỗi loại hình sở hữu khác nhau của doanh nghiệp sẽ có những cơ chế
quản lý và những quy định về nguyên tắc, cách thức trả lương khác nhau. Do
đó loại hình sở hữu của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và
thực hiện quy chế trả lương trong doanh nghiệp.
2.5.2. Các nhân tố chủ quan
* Công đoàn
Công đoàn là tổ chức do những người lao động thành lập ra nhằm mục
đích đại diện cho họ thoả thuận với chủ doanh nghiệp (người sử dụng lao
động) về quyền và nghĩa vụ của họ, bảo vệ những quyền lợi chính đáng cho
người lao động.

Bản thảo chuyên đề
Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, với sự đòi hỏi của các
quy luật khách quan của thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung
cầu… và sự thay đổi trong nhận thức của các chủ doanh nghiệp về vai trò tạo
động lực trong sản xuất của tiền lương, quy chế trả lương đã ngày càng được
hoàn thiện và đòi hỏi ở mức độ cao hơn: vừa phải tuân theo những quy luật
khách quan của thị trường, vừa phải tuân thủ các quy định của Nhà nước.
Tiền lương đã không chỉ đơn thuần là yếu tố đầu vào của sản xuất, là thu nhập
để tái sản xuất sức lao động mà thông qua đó, người lao động muốn khẳng
định vai trò và vị trí của mình trong xã hội.
Hơn nữa tiền lương vừa là phần thu nhập chủ yếu của người lao động,
nó cũng là một phần trong chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do
đó có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Việc xây dựng một quy chế trả lương hoàn chỉnh sẽ tạo ra sự minh
bạch và nhất quán trong công tác tiền lương, đảm bảo lợi ích cho doanh
nghiệp và đồng thời cũng tạo ra được sự công bằng trong trả lương, sự tin cậy
và ủng hộ của người lao động, điều này có tác dụng kích thích lao động sản
xuất lớn đối với người lao động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản
xuất kinh doanh.
2.6.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện quy chế trả lương tại Công ty Cổ
phần, đầu tư, thương mại và xây dựng giao thông 1
Công ty Cổ phần đầu tư, thương mại và xây dựng giao thông 1 là Công
ty mới chuyển sang hình thức công ty cổ phần từ năm 2005, mặc dù Công ty
đã xây dựng cho mình quy chế trả lương mới song quy chế trả lương này vẫn
còn một số mặt thiếu sót, vẫn còn nhiều tính cứng nhắc. Mặt khác do tình
hình thị trường luôn biến động do đó quy chế trả lương cũng cần đổi mới và
hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới.
18
Bản thảo chuyên đề
Tiền lương là công cụ hữu hiệu để Công ty quản lý lao động và tạo

ngày 09 tháng 11 năm 2004. Công ty là một trong các doanh nghiệp kinh
doanh có tín nhiệm trong lĩnh vực: đầu tư, thương mại và xây dựng các công
trình giao thông ở Việt Nam và các nước trong khu vực.
Ra đời trong giai đoạn xây dựng cầu Chương Dương lịch sử (1982),
Công ty đã từng bước phát triển về các mặt: kỹ thuật, công nghệ, quản lý, đầu
tư, dịch vụ thương mại… và đã giành được uy tín trên thị trường đưa vị thế
20
Bản thảo chuyên đề
của Công ty đứng vào hàng ngũ các đơn vị xây dựng cơ bản giao thông hàng
đầu, luôn đạt được các mục tiêu về tiến độ, chất lượng và hiệu quả trong sản
xuất kinh doanh.
Công ty có một đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý là các kỹ sư, cử nhân
và công nhân lành nghề bậc cao được đào tạo trong nước và nước ngoài, đủ
sức quản lý các dự án đầu tư, làm chủ các công nghệ mới, tổ chức quản lý
theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000. Công ty là chủ sở hữu các thiết bị thi
công đồng bộ hiện đại đủ năng lực thi công nền, mặt đường, các công trình
cầu, cống, cấp thoát nước, khu công nghiệp và dân dụng theo tiêu chuẩn quốc
tế. Vốn pháp định của Công ty năm 2007 là 80000000000VNĐ. Tổng tài sản
của Công ty tại thời điểm 31/12/2006 là 178826241619VNĐ. Bên cạnh các
hoạt động về xây dựng cơ bản và thương mại, Công ty hiện là chủ đầu tư và
chủ quản đầu tư các dự án.
1.2. Đặc điểm ngành nghề, quy trình công nghệ
1.2.1. Ngành nghề kinh doanh
- Xây dựng các công trình giao thông trong và ngoài nước (bao gồm:
cầu đường, sân bay, cầu tàu, bến cảng, hầm).
- Xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, thuỷ lợi, thuỷ điện;
lắp đặt đường dây và trạm điện đến 35KV.
- Xử lý nền đất yếu, san lấp mặt bằng, nạo vét, đào đắp nền móng công
trình, hạ tầng kỹ thuật.
- Tư vấn, khảo sát, thiết kế các công trình giao thông, dân dụng, thuỷ lợi,

trong việc phát triển sản xuất kinh doanh về xây dựng các công trình và các
lĩnh vực khác nhằm mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế của
đất nước và thu lợi nhuận cho doanh nghiệp, đồng thời tạo được công ăn việc
làm ổn định đời sống cho người lao động trong doanh nghiệp, không ngừng
tăng gia lợi tức cho các cổ đông của công ty.
22
Bản thảo chuyên đề
1.2.3. Phạm vi kinh doanh và hoạt động
Công ty được phép lập kế hoạch và tiến hành tất cả các hoạt động kinh
doanh theo quy định của Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Điều lệ này
phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và thực hiện các biện pháp
thích hợp để đạt được các mục tiêu của Công ty.
Công ty có thể tiến hành hoạt động kinh doanh ở trong nước và ở ngoài
nước, trong các lĩnh vực hoạt động được pháp luật cho phép và được Hội
đồng quản trị phê chuẩn.
 Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng, địa bàn hoạt
động rộng, do đó việc định mức lao động khó khăn, ảnh hưởng đến việc xây
dựng quỹ tiền lương cho từng công trình.
Công nhân trong Công ty chủ yếu là kỹ sư, công nhân kỹ thuật, phải di
chuyển nhiều nơi, khó khăn trong việc xây dựng các chương trình cải thiện
điều kiện lao động cho công nhân.
1.2.4. Các sản phẩm dịch vụ chủ yếu
* Sản phẩm xây lắp
- Các công trình thuỷ điện: hồ chứa nước, đập dâng, nhà xưởng, hệ thống
đường giao thông, … các nhà máy vừa và nhỏ;
- Các công trình giao thông, thuỷ lợi: sân bay, bến cảng, cầu cống, hệ
thống các công trình thuỷ lợi, …
- Hệ thống đường dây và các trạm biến thế điện;
- Hệ thống nền móng các công trình;
- Các sản phẩm xây dựng dân dụng: Nhà ở, văn phòng làm việc, các

TCLĐ-
HC
Phòng
KHTT
Phòng
MTbị
Phòng
KD
XNK
Phòng
TCKT
Phòng
KTTC
Ban
Đầu t
10 đơn vị thi công
Xởng sửa
chữa
Đội tc cơ giới
25

Trích đoạn Nguồn hỡnh thành và sử dụng quỹ tiền lương của Cụng ty Cỏc yếu tố cơ bản tớnh tiền lương Cỏch thức phõn phối quỹ tiền lương BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG CBCNV THÁNG 02 NĂM Tổ chức thực hiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status