GVHD: Phùng Thị Thủy
PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH
VIÊN THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG NỘI THẤT HOÀNG DŨNG
1.1. Sự hình thành và phát triển của công ty.
Tên công ty:
- Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH một thành viên thương mại
và xây dựng nội thất Hoàng Dũng.
- Mã số doanh nghiệp: 0102164991
- Tên tiến anh: HOANG DUNG TRADINGAND CONSTRUCT
INTERIOR COMPANY LIMITED.
- Tên viết tắt: HOANG DUNG CIC.CO.,LTD
- Loại hình: Công ty TNHH một thành viên
- Địa chỉ đăng ký kinh doanh: Thôn Phương Bảng – xã Song
Phương – Hoài Đức – Hà Nội – Việt Nam.
- Số điện thoại: + 0433 659 673
- Số Fax: + 0433 659 673
Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
Công ty TNHH một thành viên thương mại và xây dựng nội thất
Hoàng Dũng tiền thân là cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ cao cấp được
sáng lập từ năm 1996.
Ngày 01/02/2007, công ty TNHH một thành viên thương mại và xây
dựng nội thất Hoàng Dũng chính thức thành lập với quyết định của
Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội, số đăng ký kinh doanh lần 1
là 0104000902.
Công ty thay đổi đăng ký kinh doanh lần 2 với số đăng ký kinh doanh
0102164991 do Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp ngày 11/08/2011.
1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty và cơ cấu tổ chức đối với bộ
phận kinh doanh:
Tổng số cán bộ công nhân viên trong công ty là hơn 300 người.Cơ cấu tổ
chức của công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:
SVTH: Nguyễn Trường Trung – Lớp K45C3 1
ngày tại công ty; soạn thảo hợp đồng, công văn, giấy tờ giao dịch nội
bộ đối ngoại của công ty.
Phòng kế toán tài vụ: hạch toán thống kê tài chính các hoạt động thu
chi của công ty; kiểm soát tình hình tài chinh, doanh thu bán hàng của
công ty; hạch toán tình hình tài chính kế toán, báo cáo thuế cho cơ
quan chức năng có thẩm quyền.
Phòng kỹ thuật thiết bị vật tư: cung cấp và quản lý trang thiết bị phục
vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Theo dõi, sửa chữa và
bảo trì máy móc. Tiếp thu vận hành các thiết bị công nghệ mới. Kiểm
tra, giám sát nguồn nguyên liệu đầu vào và đầu ra của sản phẩm, đảm
bảo nguồn nhập hàng và có chất lượng đúng hợp đồng đã ký kết.
Xưởng sản xuất: tiến hành sản xuất các sản phẩm đồ gỗ nội thất cho
công ty.
1.3. Nghành nghề và lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty:
Hoạt động xây dựng chuyên dụng khác
Vận tải hàng hóa bằng đường bộ
Hoàn thiện công trình xây dựng
Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa
SVTH: Nguyễn Trường Trung – Lớp K45C3 3
GVHD: Phùng Thị Thủy
Sản xuất và buôn bán vật liệu xât dựng, sắt thép, các mặt hàng làm từ
nhựa, vật liệu nhựa, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng nông lâm, thủy hải
sản, hàng tiêu dùng, đồ dùng gia đình, văn phòng.
Buôn bán vật tư, thiết bị văn phòng, thiết bị bảo hộ lao động và vệ
sinh môi trường.
Sản xuất mua bán đồ gỗ nội thất, ngoại thất.
Sản xuất, mua bán đồ thủ công mỹ nghệ, đồ lưu niệm.
Mua bán tấm trần thạch cao, trần kim loại và lắp đặt.
Mua bán, lắp đặt khung nhôm, cửa cuốn, kính thủy lực, kính mỹ thuật.
Tư vấn đầu tư xây dựng ( khôn bao gồm dịch vụ thiết kế công trình).
2010 tương ứng tăng 34.629.000 (vnđ), năm 2012 lợi nhuận đạt 1.637.391
(vnđ) tăng 29.026% so với năm 2011. Ta có thể thấy, năm 2012 doanh thu và
lợi nhuận tăng nhanh hơn so với năm 2011, nguyên nhân chủ yếu của điều
này là do chi phí sản xuất và kinh doanh của công ty năm 2011 tăng nhanh
hơn so với năm 2012.
PHẦN II: TÌNH HÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ
HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH
VIÊN THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG NỘI THẤT HOÀNG DŨNG
1. Đặc điểm ngành hàng, thị trường và khách hàng trọng điểm
của công ty:
2.1.1.Đặc điểm ngành hàng đồ gỗ nội thất:
Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ 12 trên thế giới về sản xuất gỗ và
thứ 6 về xuất khẩu gỗ trên thế giới. Tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam
là nhà xuất khẩu gỗ lớn nhất. Tốc độ tăng trưởng của ngành xuất khẩu
đồ gỗ của Việt Nam đạt mức trung bình 16%/ năm trong giai đoạn
2005-2012. Các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã được xuất
khẩu ra trên 150 quốc gia và được thế giới ưa chuộng chủ yếu là các đồ
nội ngoại thất gỗ bằng chất liệu gỗ rừng tự nhiên và các loại đồ gỗ mỹ
nghệ, trạm trổ tinh xảo. Tuy nhiên, kim nghạch xuất khẩu gỗ của Việt
Nam mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ tổng nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ
của cả thế giới. Do đó, tiềm năng thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ cho
Việt Nam còn rất lớn.
Tại thị trường nội địa, mức độ tiêu dùng đồ gỗ tại Việt Nam bình quân là
11USD/người/năm (khoảng 1 tỷ USD/năm) và tăng trưởng khoảng
15%/năm. Đây là mức quá thấp so với hơn 100 USD/ người/ năm ở
châu Âu và Mỹ. Tiềm năng tăng trưởng tiêu thụ gỗ tại thị trường nội địa
do vậy còn rất nhiều do mức tiêu dùng gỗ vẫn ở mức thấp, dân số đông
và thu nhập đầu người đang tăng lên nhanh chóng trong giai đoạn hiện
nay.
Nghành sản xuất và chế biến gỗ ở Việt Nam còn phụ thuộc vào nguyên
1. Sự ảnh hưởng của các nhân tố môi trường vĩ mô đến hoạt động
sản xuất và kinh doanh của công ty.
Môi trường kinh tế
Trong những năm gần đây, khủng hoảng kinh tế có những tác động
xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Điều này thể
hiện qua số liệu ở bảng 1.1. Lợi nhuận sau thuế của công năm 2011
tăng 22.855% so với năm 2010, đến năm 2012 sự gia tăng lợi
nhuận so với năm trước giảm xuống còn 7.969%. Khủng hoảng kinh
tế làm gia tăng lạm phát, giá cả leo thang… khiến cho nhu cầu của
khách hàng về tất cả các mặt hàng đều giảm, trong đó có sản phẩm
nội thất.
Có thể thấy, giữa bất động sản và xây dựng có liên quan chặt chẽ
với sự phát triển của nghành nội thất. Khi bất động sản và xây dựng
phát triển thì ngành nội thất cũng phát triển theo và ngược lại.
SVTH: Nguyễn Trường Trung – Lớp K45C3 6
GVHD: Phùng Thị Thủy
Trong những năm gần đây, bất động sản và xây dựng có dấu hiệu
chững lại, đặc biệt là ngành bất động sản, điều này có tác động
không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, do tập
khách hàng chủ yếu mà công ty hướng tới là các nhà thầu xây dựng.
Việt Nam gia nhập WTO cũng là một nhân tố tác động mạnh mẽ tới
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Đây là cơ hội lớn cho
công ty mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm. tuy nhiên đây
cũng là thách thức lớn khi công ty phải đối mặt với nhiều đối thủ
cạnh tranh hơn, với những sản phẩm cao cấp và công nghệ tiên tiến
hơn.
Môi trường nhân khẩu học:
Thu nhập của khách hàng tác động đến quyết định mua sản phẩm.
Theo số liệu của UBND thành phố Hà Nội, GDP năm 2012 của thành
phố là 8.1%, thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch và nhỏ hơn cùng kỳ các
Tài nguyên rừng của nước ta ngày càng cạn kiệt, đây là một bất lợi
cho công ty, điều này khiến cho nguồn nguyên liệu đầu vào của công
ty ngày càng khan hiếm, công ty sẽ phải nhập khẩu nguyên liệu từ
nguồn ngoài nước, như vậy sẽ phải chịu giá nguyên vật liệu đầu vào
khá cao dẫn đến giá sản phẩm cũng tăng lên.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất
và chế biến gỗ ngày càng được nâng cao. Công ty hiện được trang bị
một số loại máy dùng trong sản xuất và chế biến gỗ như: máy bào,
máy đánh phào chỉ, máy trà nhám, máy mài trà, máy rung gỗ, máy
khoan gỗ… Tuy nhiên, so với công nghệ sản xuất tự động của một số
daonh nghiệp lớn và của các đối thủ ngoài nước thì công nghệ sản
xuất của công ty TNHH một thành viên thương mại và xây dựng nội
thất Hoàng Dũng còn lạc hậu, không thể sản xuất được sản phẩm
khối lượng lớn và chất lượng cao.
Môi trường văn hóa – xã hội
Nghề gỗ là một trong những nghề truyền thống của người Việt
Nam. Trên các tác phẩm đồ gỗ của người Việt bao giờ cũng có các
họa tiết điêu khắc, chạm trổ rất tinh tế. Các sản phẩm đồ gỗ của
người Việt không chỉ mang giá trị sử dụng hàng ngày mà còn mang
cả giá trị tinh thần trong đó. Tuy nhiên, do sự phát triển, hội nhập
văn hóa với thế giới, các sản phẩm đồ gỗ truyền thống đang dần
được thay thế bằng các sản phẩm hiện đại để đáp ứng nhu cầu của
người dân.
Để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, công ty TNHH một
thành viên thương mại và xây dựng nội thất Hoàng Dũng đã chia
sản phẩm đồ gỗ của mình thành 3 dòng: cổ điển, đương đại và hiện
đại.
2. Sự ảnh hưởng của các nhân tố môi trường vi mô đến hoạt động
sản xuất và kinh doanh của công ty:
Môi trường nội tại:
sản xuất trên tuyến phố Đê La thành. Những công ty, nhà sản xuất
này cũng tập trung vào phân đoạn thị trường trung cấp, với mẫu
mã thiết kế đa dạng, bền và đẹp. Tuy nhiên, đây đa phần là những
hộ gia đình đã sản xuất gỗ lâu năm, hoạt động nghiên cứu và tìm
hiểu thị trường không tốt. Tại tuyến phố Đê La Thành cũng có một
số công ty đại diện cho các công ty nội thất lớn như Hòa Phát…,
tuy nhiên phân khúc thị trường trọng điểm mà các công ty lớn
hướng tới là cao cấp chứ không tập trung vào đoạn thị trường
trung cấp.
Mảng công trình: công ty phải đối mặt với các ông lớn như AA,
TTT hay Trường Thành, là những công ty lớn, đã tham gia vào
lĩnh vực thi công nội thất từ rất lâu. Tuy nhiên, đây là những công
ty phát triển mạnh ở thị trường miền Nam, hiện nay đang mở
rộng ra khu vực phía Bắc, nên ít có lợi thế về am hiểu thị trường
và khách hàng. Ngoài ra, còn có một số đối thủ cạnh tranh như:
nội thất AK, MoreHome…
- Trung gian marketing:
SVTH: Nguyễn Trường Trung – Lớp K45C3 9
GVHD: Phùng Thị Thủy
Ngân hàng mà công ty lựa chọn mở tài khoản và giao dịch là
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thăng Long. Đây
là một chi nhánh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Agribank tại Hà Nội.
- Khách hàng:
Khách hàng trọng điểm mà công ty hướng đến là tập khách hàng
tổ chức, cụ thể là các công ty xây dựng. Đối với tập khách hàng
này , công ty cung cấp các thiết bị nội thất thi công, nhận thầu và
lắp đặt các sản phẩm về gỗ nội thất như cửa, sàn, trần. Công ty
cũng nhận sản xuất các sản phẩm bàn, ghế, giường, tủ… theo yêu
cầu của nhà thầu.
- Sơn nội ngoại thất
- Sơn sàn
10%
4 Vật liệu xây dựng:
- Cung cấp vật tư sika
10%
Qua bảng trên ta có thể thấy cơ cấu chủng loại sản phẩm của công
ty rất đa dạng và phong phú. Trong mỗi sản phẩm mà công ty kinh
doanh lại có các chủng loại khác nhau, như ván sàn bao gồm sàn
công nghiệp và sàn tự nhiên; còn trong tủ gỗ thì có tủ ti vi, tủ quần
áo, tủ trang trí… Không những đa dạng chủng loại mà hệ thống sản
phẩm của công ty còn hợp lý về cơ cấu. Hiện nay, khách hàng đang
ưa chuộng các sản phẩm từ gỗ, vừa thân thiện, an toàn trong sử
dụng, lại bền và đẹp, vì vậy công ty tập trung sản xuất và kinh
doanh các sản phẩm về gỗ.
Các hoạt động biến thể chủng loại, hạn chế chủng loại của công ty
trong 3 năm qua.
Từ khi thành lập đến nay, công ty luôn sản xuất và cung cấp sản
phẩm cho thị trường trung cấp. Công ty chưa có ý định cung cấp
sản phẩm của mình cho thị trường cao cấp bởi tại đoạn thị trường
này có rất nhiều đối thủ cạnh tranh lớn cả trong và ngoài nước
như: Phố Xinh,Nhà Xinh, Hòa Phát, Đại siêu thị Mê Linh… với hệ
thống sản phẩm đa dạng và không gian trưng bày rộng lớn, các
công ty này đã chiếm lĩnh phần lớn thị trường cao cấp. Và một lí do
khiến công ty chưa có ý định mở rộng thị trương lên thị trường cấp
cao hơn đó là hoạt động marketing cảu công ty chưa được chú
trọng. Công ty mới chỉ sản xuất sản phẩm theo thiết kế có sẵn mà
không có sự đổi mới. Vì vậy, tốc độ gia tăng lợi nhuận của công ty có
chiều hướng giảm.
Về hoạt động hạn chế chủng loại, trước đây công ty cung cấp ván
giá dựa trên giá mua và giá của các đối thủ cạnh tranh. Từ giá mua,
công ty so sánh với giá sản phẩm cùng loại mà đối thủ cạn tranh đưa
ra, sau đó đặt mức giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh và cao hơn giá
mua. Phần chênh lệc giữa giá của công ty với đối thủ cạnh tranh là rất
nhỏ. Ví dụ, ván sàn gỗ ROBINA, loại AC3, dày 8mm bán tại công ty với
giá 230.000đ/ so với giá trên thị trường là 240. 000đ/
Các biện pháp và điều kiện phân biệt giá.
Công ty thực hiện biện pháp phân biệt giá theo chất liệu sản phẩm.
Có nghĩa là, đối với từng loại gỗ khác nhau, công ty sẽ đưa ra các
đơn giá khác giá khác nhau. Ví dụ về sản phẩm bàn ăn của công ty,
các mức giá được đưa ra như sau: đối với một bộ bàn ăn gồm 1 bàn
và 6 ghế; bàn dài 1.8m, rộng 75cm, mặt bàn sư dụng kính cường lực
dầy 8mm có mài trơn được làm bằng gỗ xoan đào có giá 9.000.000
(vnđ), với gỗ công nghiệp MDF là 6.500.000 (vnđ).
Ngoài ra công ty còn thực hiện phân biệt giá theo đối tượng khách
hàng, các khách hàng là tổ chức ( các công ty xây dựng) thường
SVTH: Nguyễn Trường Trung – Lớp K45C3 12
GVHD: Phùng Thị Thủy
được hưởng mức giá thấp hơn so với các khách hàng đặt và mua lẻ,
do các nhà thầu xây dựng thường có những đơn đặt hàng số lượng
lớn.
3. Thực trạng về biến số phân phối của công ty:
Các dạng kênh phân phối, số lượng và các loại hình trung gian của
các kênh phân phối.
Mặt hàng kinh doanh của công ty là mặt hàng có giá trị, thời gian
sử dụng lâu dài, yêu cầu cao về kiểu dáng, mẫu mã có thể là do công
ty tự sản xuất hoặc mua từ các nguồn khác. Vì vậy công ty chọn
kênh phân phối ngắn để cung cấp sản phẩm cho khách hàng nhằm
đưa hàng hóa đến khách hàng nhanh nhất với chi phí thấp nhất.
Dưới đây là sơ đồ hệ thống kênh phân phối của công ty:
cùng
Các công
ty xây
dựng
Công ty
TNHH một
thành viên
TM và XD
nội thất
Hoàng
Dũng
GVHD: Phùng Thị Thủy
Ngoài ra , công ty cũng tham gia vào một số hội chợ triển lãm về đồ gỗ
nội thất và các hội chợ kích cầu tiêu dùng để tìm kiếm khách hàng và
giới thiệu sản phẩm.
PHẦN III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP THIẾT CỦA CÔNG TY VÀ ĐỊNH
HƯỚNG ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1. Đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh và marketing của
công ty:
1. Đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh và marketing và những
vấn đề đặt ra.
Trong 3 năm hoạt động gần đây, công ty đã đạt được những thành quả
nhất định. Doanh số và lợi nhuận của công ty năm sau cao hơn năm
trước. Điều này cho thấy, công ty đang có cơ chế tổ chức quản lý phù hợp
và những chiến lược kinh doanh hiệu quả.
Tuy nhiên, trong sản xuất và kinh doanh công ty vẫn còn tồn tại một số
hạn chế như sau:
Công ty vẫn chưa có một phòng marketing riêng biệt, điều nay
khiến cho hoạt động nghiên cứu marketing của công ty gặp nhiều
khó khăn, công việc nghiên cứu marketing của công ty hiện giao
trong thời gian tới.
Do nhu cầu ngày càng thay đổi, mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay
gắt, công ty cần thiết phải thiết lập phòng marketing để thực hiện các hoạt động
nghiên cứu marketing. Hiện nay, các vấn đề tồn tại của công ty đều liên quan đến
hoạt động nghiên cứu marketing. Để có thể đưa ra sản phẩm mới, có sự khác biệt,
hay có một chiến lược thâm nhập thị trường đúng đắn, công ty đều phải tổ chức
hoạt động nghiên cứu marketing.
Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối cũng là một vấn đề cấp thiết mà công ty cần
giải quyết. Trên thị trường Hà Nội hiện nay, công ty chỉ có một cửa hàng trực thuộc,
SVTH: Nguyễn Trường Trung – Lớp K45C3 15
GVHD: Phùng Thị Thủy
như vậy , có thể thấy mức độ bao phủ thị trường trọng điểm của công ty còn thấp,
sản phẩm không thể phân phối rộng rãi tới nhiều người tiêu dùng.
2. Những vấn đề công ty đã thực hiện nhưng chưa đạt kết quả và
đang muốn tiếp tục giải quyết trong thời gian tới.
Xúc tiến bán là vấn đề nan giải của công ty trong những năm gần đây. Công ty đã
nhận thức được tầm quan trọng của xúc tiến bán trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Tuy nhiên, do đặc thù sản phẩm nội thất là mặt hàng có giá trị cao
và sử dụng lâu dài nên hoạt động xúc tiến thương mại gặp không ít khó khăn. Trong
thời gian tới, công ty có ý định xây dựng một chương trình xúc tiến bán thử nghiệm
dành cho sản phẩm ván công nghiệp được bán tại các cửa hàng trực thuộc của công
ty.
Ngoài ra, để được phép thực hiện hoạt động xuất khẩu, ngoài việc nâng cao chất
lượng sản phẩm, công ty đang cố gắng có được chứng chỉ FSC( chứng chỉ về nguồn
gốc, xuất xứ gỗ) và chứng chỉ COC( chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm).
3. Định hướng đề tài khóa luận tốt nghiệp:
Định hướng 1: Hoàn thiện xúc tiến thương mại đối với sản phẩm ván sàn gỗ công
nghiệp tại công ty TNHH một thành viên thương mại và xây dựng nội thất Hoàng
Dũng taị Hà Nội.
Định hướng 2: Hoàn thiện kênh phân phối đối với sản phẩm ván sàn gỗ công nghiệp