LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Giải pháp mở rộng
cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Sài Gòn – chi nhánh Hà Nội” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu nêu trong khoá luận là trung thực, chính xác, xuất
phát từ thực tế tại Chi nhánh ngân hàng.
Tác giả khoá luận
Sinh viên: Phan Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ
1 SCB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
2 NHTM Ngân hàng thương mại
3 TMCP Thương mại cổ phần
4 NHNN Ngân hàng nhà nước
5 KBNN Kho bạc nhà nước
6 HĐQT Hội đồng quản trị
7 XHCN Xã hội chủ nghĩa
8 TCKT Tổ chức kinh tế
9 DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
10 BGĐ Ban giám đốc
11 VCSH Vốn chủ sở hữu
12 CNTT Công nghệ thông tin
13 KTKS Kiểm tra kiểm soát
14 HSC Hội sở chính
15 CBTD Cán bộ tín dụng
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Vốn là điều kiện tiên quyết đối với bất kỳ doanh nghiệp nào trong việc
Khoá luận sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phương pháp duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống
kê kế toán, phương pháp so sánh, đối chiếu với thực tiễn, qua đó hệ thống hoá
được những vấn đề mang tính lý luận thực trạng cho vay ngắn hạn các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh từ đó chỉ ra mặt tồn tại và đưa ra hệ thống các giải
pháp mở rộng cho vay ngắn hạn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Ngân
hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hà Nội.
3. Kết cấu khoá luận
Khoá luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghiệp vụ cho vay ngắn hạn của NHTM đối
với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Chương 2: Thực trạng cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh
Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng cho vay ngắn hạn đối
với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Ngân hàng TMCP
Sài Gòn – Chi nhánh Hà Nội.
Ngoài nỗ lực không ngừng của bản thân em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến các anh chị cán bộ của Phòng giao dịch Thanh Xuân đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và thạc sĩ Nguyễn Thị Hoài Thu - người đã giúp đỡ em rất
nhiều trong việc hoàn thành khoá luận này.
2
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ CHO VAY NGẮN HẠN CỦA
NHTM ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. Nghiệp vụ cho vay ngắn hạn của NHTM
1.1.1. Khái niệm nghiệp vụ cho vay ngắn hạn của NHTM
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng, tín
nhiệm). Trong thực tế cuộc sống có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ
tín dụng, ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà
không phải như vậy mà vốn cho vay luôn gắn liền với quá trình luân chuyển
vốn của khách hàng. Trong cho vay ngắn hạn, các ngân hàng thương mại
thường cho vay khi khách hàng phát sinh nhu cầu vốn để mua vật tư, nguyên
liệu, hoặc trang trải các chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo
ra sản phẩm hàng hoá, đồng thời khi hàng hoá được tiêu thụ, khách hàng có
thu nhập, ngân hàng sẽ tiến hành thu hồi nợ. Xuất phát từ đặc điểm này mà
các ngân hàng thường quy định cơ sở để xác định thời hạn cho vay, đó là phải
căn cứ vào chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng cho vay.
1.1.2.2. Thời gian thu hồi vốn nhanh
Cho vay ngắn hạn của các ngân hàng thương mại chủ yếu để đáp ứng
những nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh
doanh của khách hàng. Khi kết thúc chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn được
giải phóng ra dưới hình thái tiền tệ thì khách hàng phải hoàn trả vốn vay cho
ngân hàng. Trên thực tế, thời gian một vòng luân chuyển vốn lưu động
thường rất nhanh dưới 12 tháng. Khi doanh nghiệp thu hồi được vốn thì
khoản vốn sẽ được dùng để trả nợ cho ngân hàng. Do vậy dẫn đến thời hạn
cho vay vốn ngắn hạn của các ngân hàng thương mại cũng ngắn tương ứng.
4
1.1.2.3. Hình thức cho vay phong phú
Do việc thiếu vốn lưu động tại các doanh nghiệp trong chu kỳ sản xuất
kinh doanh chỉ mang tính chất tạm thời và đôi khi các doanh nghiệp không dự
báo trước được. Nên để đáp ứng được nhu cầu hết sức đa dạng của khách
hàng, để góp phần phân tán rủi ro, đồng thời để tăng cường sức cạnh tranh
trên thị trường tín dụng, các ngân hàng thương mại không ngừng phát triển
các hình thức cho vay trong nghiệp vụ cho vay ngắn hạn của mình. Điều đó
đã làm cho các hình thức cho vay ngắn hạn đa dạng như: nghiệp vụ ứng
trước, nghiệp vụ thấu chi, nghiệp vụ chiết khấu, nghiệp vụ factoring, nghiệp
vụ thẻ tín dụng…
1.1.2.4. Là nghiệp vụ cho vay chủ yếu của ngân hàng thương mại
Xuất phát từ chức năng của các ngân hàng thương mại là đi vay để cho
hình thức tín dụng ngắn hạn phổ biến trên thế giới, được các NHTM thế giới
ưa thích sử dụng.
* Tín dụng ứng trước
Tín dụng ứng trước là một hình thức cho vay mà ngân hàng cho khách
hàng vay tiền bằng cách mở và ứng cho họ một số tiền trên tài khoản của họ
tại ngân hàng.
Khoản tiền vay được thực hiện bằng cách ghi có toàn bộ hay nhiều lần
số tiền của một khoản ứng trước đã được thoả thuận vào tài khoản tiền gửi
(hoặc tài khoản vãng lai) của khách hàng và ghi nợ số tiền đó vàô một tài
khoản vay (tài khoản ứng trước) đã được hình thành hoặc sử dụng trực tiếp
bằng cách phát hành séc để chi trả mang số hiệu tài khoản ứng trước.
Khi thực hiện một khoản ứng trước, tuỳ vào sự nhìn nhận của ngân
hàng với khách hàng mà ngân hàng có thể đưa ra một trong hai hình thức :
- Ứng trước có đảm bảo.
- Ứng trước không đảm bảo.
6
* Thấu chi
Thấu chi là loại tín dụng mà qua đó ngân hàng cho phép khách hàng
được sử dụng vượt quá số tiền mà họ đã ký thác ở ngân hàng trên tài khoản
vãng lai.
Để được phép thấu chi trên tài khoản vãng lai thì khách hàng cần làm
đơn xin vay dưới hình thức vượt chi trên tài khoản vãng lai, đồng thời nộp
kèm các hồ sơ khác theo yêu cầu của ngân hàng. Sau khi xem xét, thẩm định
hồ sơ vay vốn, ngân hàng và khách hàng tính toán thoả thuận hạn mức tín
dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng trong thời gian thực hiện kế hoạch.
* Bao thanh toán
Theo công ước quốc tế về bao thanh toán quốc tế của UNIDROIT
1988, nghiệp vụ bao thanh toán là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các
khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa các tổ chức tài trợ và bên
cung ứng.
Với tính chất như vậy nên loại cho vay này có các đặc điểm cơ bản là:
- Đối tượng cho vay là toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt, vì vậy
phải xác định hạn mức tín dụng để làm cơ sở cho việc giải ngân.
- Không có kỳ hạn nợ cụ thể gắn với từng lần giải ngân mà chỉ có thời
hạn cho vay cuối cùng và các điều kiện sử dụng vốn vay, trừ một số trường
hợp đặc biệt.
- Chi phí mà người đi vay phải trả bao gồm chi phí lãi và chi phí phi
lãi. Thông thường chi phí phi lãi bao gồm có chi phí cam kết và số dư tiền
gửi bù trừ.
* Cho vay kinh doanh bán lẻ (Retailes financing)
Cho vay kinh doanh bán lẻ là một hình thức cho vay gián tiếp người
tiêu dùng. Các ngân hàng sẽ hỗ trợ cho người tiêu dùng trong việc mua trả
8
góp xe máy, đồ dùng gia đình, nội thất và các hàng hoá lâu bền khác bằng
cách tài trợ cho các khoản phải thu mà người bán những hàng hoá này sẽ nhận
được sau khi họ ký hợp đồng bán hàng trả góp. Hợp đồng trả góp sẽ được
ngân hàng của người bán lẻ xem xét. Nếu đáp ứng các yêu cầu tín dụng, ngân
hàng sẽ mua những hợp đồng này với một mức lãi suất thay đổi tuỳ theo chất
lượng tín dụng người vay vốn, chất lượng của vật thế chấp và thời hạn của
mỗi khoản vay.
Qui trình cho vay được thực hiện như sau: Sau khi đã thoả thuận giữa
các bên về phương thức tài trợ này, nhà sản xuất sẽ giao hàng cho công ty bán
lẻ, ngân hàng cấp tín dụng cho công ty bán lẻ để trả cho nhà sản xuất. Khi
công ty bán lẻ tiêu thụ được hàng hoá sẽ thanh toán nợ cho ngân hàng. Theo
định kỳ ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra tồn kho để xác định số lượng hàng
hóa đã bán, nếu phát hiện hàng hoá đã bán nhưng không thanh toán cho ngân
hàng thì yêu cầu công ty bán lẻ thanh toán ngay, nếu công ty không có khả
năng trả nợ ngân hàng sẽ thu hồi một phần hoặc toàn bộ hàng hoá tồn kho để
chuyển trả nhà sản xuất.
* Cho vay dựa trên tài sản (Asset-based financing)
đối với người phát hành giấy tờ có giá khi đến hạn.
Theo luật các công cụ chuyển nhượng, các loại công cụ chuyển nhượng
được các tổ chức tín dụng xem xét nhận chiết khấu, tái chiết khấu là các công
cụ chuyển nhượng được phát hành tại Việt Nam và các nước khác được
chuyển nhượng ở Việt Nam, bao gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ,
séc. Tuy nhiên, thị trường Việt Nam mới có séc, hối phiếu phát hành trên cơ
sở các giao dịch xuất - nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam với
doanh nghiệp nước ngoài, chưa có hối phiếu phát hành trên cơ sở các giao
10
dịch trong nước. Do vậy, hiện nay ở Việt Nam nghiệp vụ chiết khấu các giấy
tờ có giá vẫn chưa phát triển so với nhiều nước trên thế giới.
* Cho vay từng lần
Cho vay từng lần là hình thức cho vay gắn với từng mục đích vay cụ
thể, từng phương án kinh doanh cụ thể. Hình thức cho vay này áp dụng đối
với các khách hàng không đủ điều kiện vay theo hạn mức tín dụng, không có
nhu cầu vay vốn thường xuyên. Do vậy, mỗi lần có nhu cầu vay vốn khách
hàng phải lập hồ sơ vay vốn gửi tới ngân hàng. Trên cơ sở đó ngân hàng sẽ
xem xét để đưa ra quyết định có cho vay hay không.
* Cho vay theo hạn mức tín dụng
Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức cho vay trong đó ngân
hàng và khách hàng cùng thoả thuận kí một hợp đồng hạn mức tín dụng duy
trì trong một thời gian nhất định hay theo chu kỳ sản xuất kinh doanh, ngân
hàng cho vay dựa trên cơ sở đối tượng vay tổng hợp
Về bản chất, cho vay thấu chi và cho vay theo hạn mức tín dụng đều là
việc các ngân hàng thương mại cấp cho khách hàng của mình một hạn mức
tín dụng trong một thời hạn nhất định. Tuy nhiên ở Việt Nam, trong mỗi lần
giải ngân của hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng đều có sự giám sát
chặt chẽ của ngân hàng thương mại.
Hình thức cho vay này áp dụng với những đối tượng khách hàng hoạt
động kinh doanh tương đối ổn định, có nhu cầu vay vốn thường xuyên, có tín
không phải rải đều cho bất kỳ khách hàng nào có nhu cầu mà chọn lọc những
khách hàng làm ăn có hiệu quả. Do đó, để tiếp cận được với nguồn vốn của
ngân hàng một cách dễ dàng thì các doanh nghiệp phải nỗ lực kinh doanh có
hiệu quả. Thêm vào đó tín dụng ngân hàng còn là cầu nối cho các thành phần
12
kinh tế ngoài quốc doanh thiết lập quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Do vốn là
nhân tố quyết định cho việc thực hiện đầu tư ra nước ngoài và kinh doanh
xuất nhập khẩu trong hợp tác quốc tế. Nhưng thực tế hầu hết các chủ thể của
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh không đủ vốn để hoạt động. Ngân hàng
thông qua hoạt động cho vay sẽ là trợ thủ đắc lực cho các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu.
Dễ dàng nhận thấy hiện nay ở nước ta, phần lớn các NHTM nhà nước
mới chỉ chủ yếu cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nước, doanh số cho
vay ngoài quốc doanh còn khá hạn chế. Trong khi đó, thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Từ đó có thể thấy mở
rộng cho vay ngắn hạn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ảnh hưởng lớn
đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Nó góp phần tạo ra
sự năng động và tích cực phấn đấu trong việc mở rộng thị phần cho vay ngắn
hạn đối với nhóm đối tượng này. Ngoài ra các ngân hàng phải đa dạng hoá
các hình thức cho vay ngắn hạn để đáp ứng tối đa nhu cầu vay của ngân hàng
và thu hút thêm khách hàng mới. Và hơn nữa, mở rộng cho vay ngắn hạn góp
phần đáng kể vào việc gia tăng lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại. Mở
rộng cho vay ngắn hạn giúp các ngân hàng thương mại phân tán rủi ro trên cơ
sở làm phong phú thêm đối tượng khách hàng và số lượng khách hàng.
Trên cơ sở thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh và các ngân hàng thương mại, mở rộng cho vay ngắn hạn góp phần
phát triển kinh tế xã hội. Sự phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh và các NHTM góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp
phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội, đóng góp vào sự tăng trưởng của nền
kinh tế thông qua việc tăng giá trị GDP. Mở rộng cho vay ngắn hạn các doanh
doanh nghiệp ngoài quốc của các NHTM
1.2.3.1. Doanh số cho vay ngắn hạn và dư nợ cho vay ngắn hạn đối với các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh
* Doanh số cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh
Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh qui mô cấp tín dụng ngắn hạn
của ngân hàng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong một thời
gian nhất định.
Khả năng mở rộng doanh số cho vay ngắn hạn đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của các NHTM có thể được đánh giá dựa trên các
chỉ tiêu:
+ Tỷ lệ tăng doanh số cho vay ngắn hạn đối với các DNNQD.
Trong đó:
DS
t
: Doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNNQD năm thứ t.
DS
t-1
: Doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNNQD năm thứ t-1.
Chỉ tiêu này cho biết doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNNQD năm
nay tăng hay giảm so với năm trước là bao nhiêu %.
+ Tỷ trọng doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNNQD.
Bằng cách sử dụng công thức tính toán trên ta sẽ biết được doanh số
cho vay ngắn hạn của đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm bao
nhiêu % trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng.
15
Tỷ lệ tăng doanh số cho vay DS
t
- DS
t-1
hay giảm so với năm trước. Từ đó phản ánh khả năng mở rộng cho vay ngắn
hạn của NHTM qua các năm.
+ Chỉ tiêu tương đối:
16
∆DN
% (tăng, giảm) =
DN
t-1
Tỷ trọng cho vay Dư nợ cho vay ngắn hạn các DNNQD
=
ngắn hạn các DNNQD Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho thấy tốc độ tăng giảm của dư nợ cho vay ngắn hạn các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh của các NHTM năm nay so với năm trước là
bao nhiêu %.
1.2.3.2. Số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh vay ngắn hạn.
Quy mô khách hàng đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, chính sách chủ trương và các điều kiện để thu hút khách hàng của ngân
hàng có hiệu quả hay không. Số lượng khách hàng là doanh nghiệp ngoài
quốc doanh vay ngắn hạn càng nhiều chứng tỏ ngân hàng có thị phần cho vay
ngắn hạn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là lớn trong hệ thống
các ngân hàng. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển của ngân hàng trong
cho vay ngắn hạn đối với loại hình doanh nghiệp này là lớn.
Có thể đánh giá việc mở rộng số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh
qua các chỉ tiêu:
+ Chỉ tiêu tuyệt đối:
∆S = S
t
- S
t – 1
phú, nguồn vốn vay không tập trung chủ yếu vào một loại đối tượng khách
hàng giúp ngân hàng có thể phân tán rủi ro, đa dạng hóa danh mục cho vay.
1.2.3.4. Doanh thu từ lãi cho vay ngắn hạn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Doanh thu từ hoạt động cho vay ngắn hạn là toàn bộ số tiền lãi mà ngân
hàng thu được từ các khoản cho vay ngắn hạn. Để đánh giá mức độ đóng góp
của hoạt động cho vay ngắn hạn vào tổng lãi từ hoạt động cho vay phải dựa
trên chỉ tiêu:
Tỷ trọng này càng cao cho thấy khả năng đóng góp của hoạt động cho
vay ngắn hạn vào tổng lãi từ hoạt động cho vay càng lớn. Ngoài ra cũng có
thể dùng các chỉ tiêu:
+ Chỉ tiêu tuyệt đối:
∆L = L
t
– L
t - 1
Trong đó:
L
t
: Lãi từ hoạt động cho vay ngắn hạn các DNNQD năm thứ t.
L
t – 1
: Lãi từ hoạt động cho vay ngắn hạn các DNNQD năm thứ t-1.
18
Tỷ trọng thu lãi từ Thu lãi từ hoạt động cho vay ngắn hạn
=
hoạt động cho vay ngắn hạn Tổng lãi từ hoạt động cho vay
∆L: Chênh lệch lãi từ hoạt động cho vay ngắn hạn các DNNQD giữa
năm thứ t và t-1.
Bằng cách tính toán chỉ tiêu này sẽ biết được doanh thu từ hoạt động
tố như giá cả, cung – cầu, sự cạnh tranh… Những yếu tố này luôn thay đổi và
có nhiều tác động tới cả các ngân hàng thương mại và cả doanh nghiệp ngoài
quốc doanh. Nhân tố này thể hiện sự phát triển hay biến động của nền kinh tế.
Tình trạng của nền kinh tế (phát triển hay suy thoái) luôn có ảnh hưởng tới
nhu cầu vay vốn ngân hàng, ảnh hưởng tói hoạt động của doanh nghiệp trong
nền kinh tế. Sau gần 20 năm đổi mới, nền kinh tế đất nước đã có những
chuyển biến mạnh mẽ, mọi thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển
bình đẳng với kinh tế Nhà nước. Nền kinh tế mở cửa, hội nhập với kinh tế
toàn cầu đã phần nào giúp doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận với khoa học
công nghệ tiên tiến , phương pháp quản lý khoa học… góp phần không nhỏ
vào sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Trong suốt thời gian đổi mới,
nền kinh tế luôn trong xu hướng tăng trưởng khá, hàng hoá phong phú đa
dạng, cung cầu có sự chuyển biến theo các quy luật của kinh tế thị trường.
Cùng với sự đổi mới nền kinh tế đất nước, Nhà nước cũng đang thúc đẩy
mạnh mẽ quá trình cổ phần hoá các DNNN, điều này đồng nghĩa với việc làm
giảm số lượng doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn, tăng số lượng
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nhà nước cho phép các doanh nghiệp tự
tìm cách huy động vốn trong khuôn khổ pháp luật không cấm. Đây chính là
cơ hội tốt để các ngân hàng thương mại mở rộng cho vay đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân
hàng.
1.3.1.2. Môi trường chính trị - pháp luật
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành chịu sự giám sát chặt
chẽ của pháp luật, các quy định của NHNN. Môi trường chính trị - pháp luật
20
là các cơ chế chính sách, luật, quy định của nhà nước, các bộ ngành liên quan
nhằm tác động điều chỉnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh của các ngân hàng thương mại. Trong quá trình đổi mới nền kinh tế,
môi trường pháp lí về hoạt động của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã có
nhiều thay đổi theo hướng tích cực, tạo điều kiện phát triển không ngừng cho