Mở đầu
Trai tai tng (h Tridacnidae) l ngun li hi c sn thuc lp VTM hai
mnh v, cú giỏ tr kinh t cao Vit Nam v nhu cu xut khu ln. Tht cú hm
lng dinh dng cao, v l hng m ngh v cú giỏ tr lm dc liu. Chỳng cung
cp ngun thc n b dng v l sn phm xut khu phc v nhu cu rt ln
lm cnh, gii trớ, ó mang li ngun thu nhp ỏng k cho ng dõn ven bin-o. Do
cú giỏ tr kinh t cao, khai thỏc quỏ mc v s dng thiu bn vng nờn ngun li t
nhiờn ca cỏc loi trai tai tng (h Tridacnidae) cú xu hng suy gim nhanh chúng
trong nhng nm gn õy (ó c lit kờ trong ph lc II, CITES). Tuy nhiờn,
nhng nghiờn cu v Trai tai tng bin Vit Nam cũn rt hn ch, cha cú c
s khoa hc xõy dng hn ngch xut khu hng nm. Vỡ vy nm 2008, theo yờu
cu ca c quan CITES quc t, Vit Nam s phi tm dng xut khu Trai tai tng
n khi cú nhng nghiờn cu, ỏnh giỏ y hn v ngun li, sinh hc, sinh thỏi
ca cỏc loi Trai tai tng thỡ mi tip tc c phộp xut khu.
ti Nghiờn cu phc hi v phỏt trin ngun li Trai tai tng (h
Tridacnidae) bin Vit Nam c thc hin t thỏng 5/2009-12/2011. Phm vi
nghiờn cu ti 8 o cú Trai tai tng phõn b ph bin, i din bin Vit Nam l:
Cự Lao Chm (Qung Nam), Lý Sn (Qung Ngói), Vnh Nha Trang (Khỏnh Ho),
Hũn Cau (Ninh Thun), Phỳ Quớ (Bỡnh Thun), Cụn o (B Ra Vng Tu), Phỳ
Quc (Kiờn Giang) v Nam Yt (Trng Sa). Mc tiờu chớnh ca ti l ỏnh giỏ
c hin trng ngun li, kh nng khai thỏc bn vng v mt s c im sinh hc,
sinh thỏi, phõn b ca h Trai tai tng (Tridacnidae), xut c s khoa hc cho
vic phc hi v phỏt trin ngun li trai tai tng bin Vit Nam.
Kt qu nghiờn cu ca ti ó ỏnh giỏ c hin trng ngun li v kh
nng khai thỏc cho tng loi Trai tai tng (h Tridacnidae) phõn b ti 8 o bin
Vit Nam; c im phõn b sinh thỏi theo sõu, vựng a lý v cu trỳc nn ỏy
rn san hụ; ỏnh giỏ c tr lng v s lng cỏ th ca tng loi theo cỏc nhúm
kớch thc khỏc nhau. Bc u nghiờn cu kh nng sinh sn nhõn to: ó nuụi v
thnh thc v cho thnh cụng 03 loi Trai tai tng (Tridacna squamosa, T.
maxima, T. crocea) qui mụ th nghim. Nuụi phc hi ti vựng rn san hụ v nuụi
trong ụ lng trờn bin theo cỏc mụ hỡnh khỏc nhau. Ngoi ra, da trờn c s khoa hc
- Hiện nay, chỉ có 03 loài trai tai tượng phân bố phổ biển tại 08 đảo nghiên cứu
là Tridacna squamosa, T. maxima và T. crocea. Hai loài T. gigas và Hippopus
hippopus trước đây có phát hiện phân bố tại một số đảo, đến nay không còn bắt gặp
nữa, nguồn lợi 2 loài này có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng rất lớn.
- Phân bố nguồn lợi của các loài trai tai tượng có sự biến động rất lớn và khác
nhau giữa các vùng địa lý, cấu trúc nền đáy và đới rạn, độ sâu, thể hiện đặc trưng
phân bố sinh thái của từng loài. Loài T. squamosa chiếm ưu thế tại vùng biển Phú
Quốc, đới mặt bằng rạn và sườn dốc rạn (chiếm 86%) và độ sâu 3-9m nước; Loài T.
maxima chiếm ưu thế tại vùng biển Nam Yết, đới mặt bằng rạn và sườn dốc rạn
(chiếm 84%) và độ sâu 2-9m nước; và Loài T. crocea chiếm ưu thế tại vùng biển Côn
Đảo, đới ven bờ và mặt bằng rạn (chiếm 75%) và độ sâu 2-5m nước.
- Phân bố tần suất chiều dài của nhóm kích thước nhỏ và nhóm kích thước lớn
của 3 loài trai tai tượng ngoài tự nhiên tại 08 đảo chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 12%),
chiếm ưu thế là nhóm kích thước 100-280mm đối với loài T. squamosa, 70-210mm
đối với loài T. maxima và nhóm kích thước ≤150mm đối với loài T. crocea (khoảng
88%). Nhóm kích thước đạt tiêu chuẩn khai thác theo qui định hiện hành của các loài
chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 21,0% về khối lượng và 8,3 % về số lượng cá thể).
- Tổng trữ lượng tức thời của 03 loài trai tai tượng tại 08 đảo đạt khoảng
1.865,4 tấn (4,42 triệu cá thể). Trong đó, trữ lượng tức thời của loài T. squamosa
khoảng 94,8 tấn (58.900 cá thể), loài T. maxima khoảng 90,3 tấn (133.100 cá thể) và
loài T. crocea khoảng 1.680,3 tấn (4,23 triệu cá thể).
- Tổng khả năng khai thác bền vững tối đa (MSY) của 03 loài trai tai tượng tại
08 đảo đạt khoảng 274,7 tấn (364.090 cá thể). Trong đó, khả năng khai thác của loài
T. squamosa khoảng 11,4 tấn (1.700 cá thể), loài T. maxima khoảng 11,3 tấn (2.300
cá thể) và loài T. crocea khoảng 252,0 tấn (360.000 cá thể).
2
- Tổng lượng khai thác chung của 03 loài trai tai tượng tại 08 đảo (khoảng
20.860 cá thể) chưa vượt quá ngưỡng khả năng khai thác bền vững tối đa cho phép
(364.090 cá thể) là do tại Côn Đảo có trữ lượng và khả năng khai thác của loài T.
crocea rất cao (261.100 cá thể), nên tại hầu hết các đảo (trừ Côn Đảo, Lý Sơn và
đối dao động từ 2,8-22,0 triệu trứng/cá thể.
- Tốc độ sinh trưởng của các loài trai tai tượng khá chậm, dao động từ 12 –
26mm/năm. Cấu trúc tuổi tối đa phân bố ngoài tự nhiên của loài T. quamosa là 18
+
tuổi, loài T. maxima là 17
+
tuổi và loài T. crocea là 14
+
tuổi.
4. Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và nuôi phục hồi:
- Khẳng định khả năng thành công trong việc lưu giữ và nuôi vỗ thành thục
trai tai tượng bố mẹ trong điều kiện nhân tạo với tỷ lệ sống từ 53-93%, tỷ lệ thành
thục cao (58-86%). Kích thích sinh sản bằng phương pháp “phơi khô, tạo dòng chảy
mạnh” có hiệu quả nhất với tỷ lệ đẻ trung bình khoảng 42-60% tùy loài.
- Bước đầu thử nghiệm thành công sinh sản nhân tạo 03 loài trai tai tượng với
tỷ lệ đẻ trung bình dao động từ 45,7 – 66,3%; tỷ lệ trứng thụ tinh trung bình từ 82,6 –
94,7%; tỷ lệ nở của trứng trung bình từ 78,5 – 85,6%; tỷ lệ sống trung bình của ấu
trùng mới nở đến ấu trùng giai đoạn chữ D dao động từ 79,4 – 91,3%, thu được tổng
số 185,8 triệu ấu trùng chữ D và khả năng ương nuôi ấu trùng đến được giai đoạn
giống con non 18-20 ngày tuổi.
- Ba mô hình nuôi phục hồi (trong bể xi măng, nuôi trong ô lồng trên biển và
nuôi đáy ở vùng rạn san hô) đều có thể áp dụng nhằm phục hồi nguồn lợi trai tai
3
tng. Tuy nhiờn, mụ hỡnh nuụi ỏy vựng rn san hụ cú tớnh kh thi, d ỏp dng vo
iu kin thc tin v cú hiu qu hn c.
kiến nghị
Các cơ quan quản lý thủy sản địa phơng cần tăng cờng kiểm tra, giám sát chặt
chẽ việc thực thi khai thác theo qui định kích cỡ của từng loài (T. squamosa
350mm, T. maxima 340mm, T. crocea 140mm).
Qui định cấm/hạn chế khai thác trong mùa sinh sản tập trung từ tháng 5-tháng 8