LUẬN VĂN:
Vai trò quan trọng của viêc phát
triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta
A.Lời mở đầu
Vấn đề nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mối quan tâm hàng đầu
của nhiều nhà kinh tế trong nhiều năm qua . Vì vậy ở nước ta đang trong thời kì đổi
mới ,việc nghiên cứu vấn đề trên là rất cần thiết , nó giúp nhà nước tìm được một mô
hình quản lí kinh tế vĩ mô thích hợp và có hiệu quả hơn
Trong đại hội khoá x của đảng có đề câp tới vấn đề cho đảng viên làm kinh tế tư
nhân , lần lượt cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. Những điều đó chứng tỏ đảng
tiền tệ làm môi giới . ở đâu có kinh tế hàng hoá thì ở đó có kinh tế thị trường
Như vậy kinh tế thị trường phát triển từ sơ khai đến hiện đại , là một công trình
sáng tạo của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi , đó là trình độ văn minh
mà nhân loại đạt được . Do đó mọi quan điểm cho rằng kinh tế thị trường là phát minh
riêng của CNTB là không có căn cứ . Ngay trong vă kiện đại hội VIII của đảng ta đã
khẳng định “Sản xuất hàng hoá là thành tựu văn minh chung của nhân loại “ chúng ta
không chỉ kiên định “không bỏ qua kinh tế hàng hoá mà còn khẳng định kinh tế hàng
hoá tồn tại khách quan cho đến khi CNXH được xây dựng . Và lần này trong dự thảo
văn kiện đại hội X tiếp tục khẳng định “Dảng và nhà nước ta chủ trương thưc hiện
nhất quán và lau dàI chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trường có sư quản lí của nhà nước theo định hướng XHCN .
b.Cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam
Sự phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất hàng hoá
chẳng những không mất đi , mà tráI lại còn được phát triển cả về chiều rộng và chiều
sâu . phân công lao động trong từng khu vực , từng địa phương cũng ngày càng phát
triển . Sự phát triển của phân công lao động đươc thể hiện ở tính phong phú , đa dạng
và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra thị trường.
Trong nền kinh tế nước ta , tồn tại nhiều hình thức sở hữu , đó là sở hữu toàn dân,
sở hữu tập thể , sở hữu tư nhân , sở hữu hỗn hợp . Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế
độc lập , lợi ích riêng , nên quan hệ giữa họ chỉ có quan hệ hàng hoá tiền tệ .
Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể , tuy cùng dựa trên chế độ cônh
hữu về tư liệu sản xuất, nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định,có
quyền tự chủ trong kinh doanh, có lợi ích riêng.mặt khác, các đơn vị kinh tế còn có
khác nhau về trình độ kỹ thuật - công nghệ ,về trình độ tổ chức quản lí , nên chi phí
sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau .
Quan hệ hàng hoá - tiền tệ còn cần thiết trong nền quan hệ kinh tế đối ngoại , đặc
biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế dang phát triển ngày càng sâu sắc, vì
hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đường đúng đắn để
phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả vào tiềm năng của đất nước vào sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Thực tiễn trong những năm đổi mới đã chứng minh ràng, việc chuyển sang nền
kinh tế thị trường nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần,chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước và
vốn, kĩ thuật, công nghệ của nước ngoài, giải phóng được năng lực sản xuất góp phần
vào việc bảo đảm tăng trưởng kinh tế với nhịp độ tương đối cao trong thời gian
qua.còn
Hiện nay nền kinh tế thj trường nước ta còn ở trình độ kém phát triển, kinh tế thị
trường phát triển chưa đồng bộ bởi lẽ cơ sở vật chất kĩ thuật còn lạc hậu, thấp kém,
nền kinh tế ít nhiều mang tính tự cung tự cấp ,cho nên với một thế giới phát triển như
hiện nay để phát triển đất nước thì cần phải có một chính sách hợp lí và một trong
những chính sách hợp lí đó là việc phát triển đồng bộ các loại thị trường ở Việt Nam,
điều này là hết sức quan trọng và là một tất yếu ở nước ta.
3. Các loại thị trường ở Việt Nam
Cũng như ở nhiều nền kinh tế thị trường khác, cho đến nay các loại thị trường chính
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta được xác định gồm có:
vThị trường hàng hoá và dịch vụ
vThị trường tài chính
vThị trường lao động
vThị trường đất đai- bất động sản
vThị trường khoa học công nghệ
Ngoài ra theo thời gian, sẽ còn tiếp tục phát triển thêm các loại thị trường khác nữa.
4. Tính tất yếu phải phát triển đồng bộ các loại thị trường
Trong điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta đang trong thời kì đổi mới, vào năm nay
chúng ta sẽ gia nhập tổ chức thương mại WTO, khi đó nền kinh tế đất nước phải đối
mặt với nhiều khó khăn thử thách mới, để đứng vững được trong cạnh tranh với những
mức độ thứ yếu. Đó là do quá nhiều thập kỉ, qua tư tưởng kinh tế xã hội chủ nghĩa
mang nặng thành kiến, quan hệ hàng hoá và cơ chế thị trường .Coi nó là biểu hiện
thuộc tính của chế độ tư hữu và tư bản. Mặt khác là do chúng ta xây dựng CNXH theo
mô hình rập khuôn giáo điều chủ quan duy ý chí các măt bố chí cơ cấu kinh tế thiếu về
phát triển công nghiệp nặng, quy mô lớn, với xoá bỏ các hình thức kinh tế dựa trên chế
độ tư hữu về tư liệu sản xuất, phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, nặng
hình thức phủ nhận nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường, bộ máy quan liêu
cồng kềnh kém hiệu quả. Những sai lầm đó đã kìm hãm lực lượng sản xuất và nhiều
động lực phát triển. Cuộc cải cách kinh tế bị đẩy lùi. Tư tưởng Lênin trong chính sách
kinh tế Mac bị xem như bước lùi tạm thời bất đắc dĩ.
a.2. Giai đoạn năm 1986-1990
trước tình hình đó, đại hội VI đã có những tư tưởng đổi mới nhưng chưa đI nhanh
vào cuộc sống, còn có lực cản, nền kinh tế tiếp tục gặp khó khăn trong những năm đầu,
nhưng từ năm 1989 các biện pháp đổi mới như áp dụng chính sách lãi suất dươnh, xoá
bỏ chế độ tem phiếu, loạibỏ một số khoản chi ngân sách bao cấp, mở rộng quan hệ thị
trường… Đã thục sự đI vào cuộc sống và tạo chuyển biến rõ rệt làm cho nền kinh tế có
nhiều khởi sắc. Ví dụ :như giai đoạn 1986-1990 đầu tư cho toàn xã hội tư bản là 12,5%
GDP tăng trưởng trung bình là 3,9% , kim ngạch suất khẩu đạt 23tỷUSD/năm. Về mặt
lạm phát thì năm 12986 là 774,7% đến năm 1990 giảm xuống còn 67,1%.
a.3. Giai đoạn từ 1991-2000:
Do mới có một số biện pháp đươc áp dụng vào cuối kì kế hoạch 1989-1990 nên kết
quả thời kì này còn hạn chế. Song cáI được của thời kì này là chúng ta đã thực hiện
chuyển đổi cơ chế mạnh mẽ, đến giai đoạn 1991-1995 sự chuyển đổi đó đã phát huy
tác dụng và tạo nên thời phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Đại hội đảng VII (6\1991) với những quyết sách quan trọng như phát triển nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà
nước theo định hướng XHCN có sự quản lí của nhà nước. Tiếp tục đổi mới cả về bề
Vấn đề quản lý của Nhà nước đối với thị trường hàng hoá và dịch vụ còn nhiều
bất cập. Việc quản lý thị trường hàng hoá và dịch vụ đang gặp khó khăn. Hệ thống
chính sách pháp luật đã có nhiều tiến bộ nhưng tính đồng bộ còn yếu, việc phân tích
dự báo thị trường chưa đi vào nề nếp và chưa thật chính xác.
2. Thị trường tài chính
Thị trường tiền tệ: Trước những năm 1990, hoạt động của tiền tệ, tín dụng va ngân
hàng còn mang nặng tính bao cấp, gắn với biện pháp quản lý hành chính, pháp lệnh
Từ khi pháp lệnh ngân hàng ra đời năm 1990, các luật Ngân hàng Nhà nước và các
luật tổ chức tín dụng năm 1997 có hiệu lực thì nó đã có những tác động tích cực tới sự
phát triển của thị trường tiền tệ. Cùng với sự hình thành của các loại thị trường tiền tệ,
một số công cụ trên thị trường tiền tệ Việt Nam cũng được hình thành đó là: Tín phiếu
kho bạc , Tín phiếu ngân hàng Nhà nước, Thương phiếu, Kỳ phiếu ngân hàng thương
mại( chứng chỉ tiền tệ).
Bên cạnh thị trường tiền tệ chính thức, thị trường ngoại tệ ngầm cũng phát triển.
Hoạt động của thị trường ngoại tệ ngầm có một số tác động tích cực như đáp ứng nhu
cầu giao dịch bằng ngoại tệ của các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp một cách nhanh
chóng trong điều kiện thị trường ngoại tệ chính thức chưa phát triển. Tuy nhiên hoạt
động của thị trường tiền tệ ngầm nằm ngoài sự kiểm soát kiểm soát của Nhà nước, vì
vậy làm giảm hiệu lực của việc thi hành chính sách tiền tệ, tạo điều kiện cho các hoạt
động bất hợp pháp như tham nhũng, buôn lậu và chảy máu ngoại tệ.
Thị trường vốn:
Thị trường tín dụng trung và dài hạn đã có bước chuyển biến tích cực. Tỷ trọng cho
vay trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng thương mại đã tăng lên đáng kể. Các
công ty chứng khoán đều đã hoạt động ổn định, cơ cấu doanh thu của các công ty
chứng khoán đã chuyển biến theo chiều hướng tích cực, nếu ngân hàng trước đây phần
lớn doanh thu là từ lãi trên vốn kinh doanh thì hiện nay phàn lớn doanh thu từ trên
nghiệp vụ môi giới.
phân mảng lớn giũa lao động ở thành thị với lao động nông thôn, giữa lao động chính
quy và lao động không chính quy, giữa lao động trong các DNNN với lao động trong
khu vực dân doanh, giữa lao động hiện đại với lao động truyền thống, giữa lao động
trong các ngành và lĩnh vực kinh tế. Điều này đã cản trở mạnh tính linh hoạt của thị
trường lao động, các nhóm dân cư thường bị bó buộc ở các mảng đó.
4. Thị trường đất đai.
Thị trường bất động sản là một trong những thị trường rất quan trọng trong nền kinh
tế thị trường. Việc phát triển thị trường bất động sản có tác động đến tăng trưởng kinh
tế thông qua các kênh như: tạo ra kich thích đầu tư vào đất đai, nhà xưởng, chuyển bất
động sản thành tài sản tài chính để phát triển kinh tế.
Đặc điểm chung nhất của loại bất động sản là gắn liền với đất, tuy nhiên không phải
tất cả các loại bất động sản đều là bất động sản hàng hoá và tham gia vào thị trường
bất động sản. ở nước ta đất thuộc sở hữu toàn dân và pháp luật không cho phép mua
bán đất , do đó đất không phải là hàng hoá, chỉ quyền sử dụng đất mới được công nhận
là hàng hoá. Như vậy thị trường bất động sản ở nước ta mới được chính thức thừa
nhậnvề mặt pháp lý trong một số năm gần đây khi Nhà nước xác định quyền sử dụng
đất có giá và cho phép chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê và cho thuê lại giá trị
quyền sử dụng đất và từ khi nhà nước có chính sách bán nhà thuộc quyền sở hữu nhà
nước. Tuy mới hình thành và hiện còn rất sơ khai nhưng ngay từ đầu hoạt động trên thị
trường này đã rất sôi động, đặc biệt là vào những thời kì " sốt đất", "sốt nhà". Sự hình
thành và phát triển loại thị trường này đã có những tác động mạnh mẽ tới phát triển
kinh tế-xã hội.
Tuy nhiên thị trường bất động sản ở nước ta còn nhiều khiếm khuyết và tác động
tiêu cực do đất đai chưa đượcthừa nhận chính thức là hàng hoá nên đã hình thành một
thị trường "ngầm" về đất đai và thị trường này đã bị méo mó. Theo số liệu của tổng
cục Địa chính năm 2003thì Nhà nước chỉ kiểm soát được 30% thị trường đất đai, còn
70% là mua bán trao tay thoả thuận trực tiếp giữa người mua và người bán và nằm
Một vấn đề nữa là nền kinh tế thị trường ở nước ta chưa phát triển đủ mức để có
được một thị trường khoa học công nghệ sôi động, hàng hoá cung cấp cho thị trường
khoa học và công nghệ, nhất là những công nghệ mới phù hợp với trình độ phát triển
của nền kinh tế nước ta, phù hợp với khả năng tài chính của nhiều doanh nghiệp chưa
nhiều do khả năng tài chính của các tổ chức phía cung còn nhiều hạn chế. Hơn nữa ở
nước ta các tổ chức tư vấn chuyển giao công nghệ nhìn chung còn thiếu và yếu cả về
năng lực lẫn tổ chức , các hội chợ triển lãm KH- CN chưa phải là hội chợ giao dich
mua bán hàng hoá khoa học và công nghệ , thông tin mua bán loại hàng hoá này còn
nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của cả phía cung lẫn phía cầu
Như vậy trong lĩnh vực khoa học - công nghệ ở nước ta đã tồn tại quan hệ mua -
bán (chuyển giao) giữa các cá nhân, tổ chức nghiên cứu với người sản xuất và doanh
nghiệp nhưng càn mang tính cục bộ, tự phát và trong phạm vi hẹp, không có cơ quan
quản lý thống nhất, chưa hình thành mạng lưới giao dịch, liên kết giữa người mua và
người bán. Hiện vãn còn thiếu một hệ thống pháp luật và hệ thống tổ chức quản lý để
có thể hình thành thị trường KHCN sôi động, phát triển
2. Giải pháp
a. Đổi mới tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện từ đổi mới
kinh tế là trọng tâm, đến đổi mới chính trị văn hoá xã hội, từ đổi mới tư duy nhận thức
tư tưởng đến hoặt động thực tiễn của đảng nhà nước và nhân dân vấn đề có ý nghĩa
quyết định trong sự nghiệp đổi mới là đảng phải đổi mới trên cả ba lĩnh vực : đổi mới
tư duy là đổi mới phương pháp tư duy, khắc phục lối tư duy kinh nghiệm, giáo điều,
chủ quan điển hình. PhảI tiến hành loại bỏ những quan điểm sai trái khắc phục những
quan điểm lạc hậu về CNXH. đổi mới tư duy nhằm quán triệt phương pháp tư duy biện
chứng duy vật, hình thành nên những quan điểm mới về xã hội,và con đường đI lên
CNXH ở Việt Nảmtên nền tảng lí luận Mác_lênin và tư tưỏng Hồ Chí Minh.
Từ đại hội đảng VI đến nay đã gần 15 năm, đã qua các kì đại hội VII, VIII đường
Chỉ có thể mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới mới thu hút
được vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, để khai thác tiềm năng và thế mạnh của đất
nước nhằm phát triển kinh tế
Sự ổn định về chính trịi bao giờ cũng là nhân tố quan trọng đầu tiên để phát triển,
là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước yên tâm đầu tư cho
sản xuất.Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Nó tạo ra hành lang pháp luật cho mọi hoạt động
kinh tế, buộc các doanh nghiệp chấp nhận sự điều tiết của Nhà nước.
2.2.1.Thị trường hàng hoá và dịch vụ
Nghị quyết Đại hôi IX đã nhấn mạnh " phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ, phát
huy vai trò nồng cốt định hướng và điều tiết của kinh tế Nhà nước trên thị trường ",
"hạn chế và kiểm soát đọc quyền kinh doanh".Đây là những định hướng cơ bản đối với
sự phát triển của thị trường hàng hoá dịch vụ. Kinh tế Nhà nước chỉ nên giữ vai trò
nòng cốt và định hướng đối với đời sống kinh tế xã hội như an ninh, quốc phòng, điện
nước, giáo dục. Những laọi hàng hoá dịch vụ khác nên để cho thị trường tự quyết định.
Biện pháp quan trọng để phát triển nhanh và lành mạnh thị trường hàng hoá là hoàn
thiện khung pháp lý điều chỉnh thị trường này, ban hành các bộ luật cạnh tranh và
kiểm soát đọc quyền trong kinh doanh, bổ sung cá luật hiện hành và ban hành luật mới
hướng tới việc tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng và có tính cạnh tranh cao.
Đồng thời quán triệt thực thi các chính sách của Nhà nước
Một yếu tố quan trọng để phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ và cũng là mục
tiêu hướng tới của thị trường này là hướng tới thị trường quốc tế mở cửa thị trường
trong nước hơn nữa tạo áp lực nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
nước. Đồng thời phải tiến hành kiểm tra chất lương hàng hoá trên thị trường.
2.2.2 Thị trường tài chính
Trong văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng, Đảng ta đã xác định " chuyển cơ chế
phân bổ nguồn vốn vay Nhà nước mang tính hành chính sang cho vay theo cơ chế thị
trường, xoá bỏ bao cấp thông qua tín dụng đầu tư…". Với định hướng như vậy thì
tham gia thị trường bất động sản.
Thư năm áp dụng cơ chế giá thị trường với các giao dịch về bất động sản theo
hướng: giá cả bất động sản giá quyền sử dụng đất nói riêng, khung giá bất động sản do
Nhà nước ban hành chỉ áp dụng trong phạm vi giao dịch giứa Nhà nước với các tổ
chức, cá nhân trong việc giao bán , khoán, cho thuê bất động sản, bôi thường và hỗ trợ
giải phóng mặt băng;hình thành và đưa vào hoạt động cá trung tâm thẩm định giá…
Thứ sáu là hình thành hệ thống văn bản quy hoạch như một công cụ quan trọng
để Nhà nước quản lý thị trường bất động sản.
2.2.4. Thị trường sức lao động
Để hoàn thiện và phát triển thị trường lao động ở VN, cần áp dụng đồng bộ
nhiều biện pháp
Phát triển sản xuất ở thành thị, nông thôn để tăng nhu cầu về lao động trong
nước ở thành thị cần huy động mọi thành phần kinh tế, nhất là thành phần kinh tế tư
nhân để phát triển sản xuất công nghiệp, xây dựng, vận tải, du lịch, dịch vụ cho sản
xuất đời sống và xuất khẩu
ở nông thôn cần giúp đỡ người lao động các hộ gia đình chuyển đổi cơ cấu lao
động và cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ. Cần huy động nhiều lao động, có sự giúp
đỡ về tài chính của Nhà nước để xây dựng điện, đường, trường trạm
Đẩy mạnh xuất khẩu lao động nhằm tăng cường thị trường lao động ngoài nuớc.
Muốn vậy phải làm tốt công tác đào tạo nguồn lao động cho xuất khẩu lao động, tích
cực khai thác thị trường mới, giữ vững thị trường đẫ có, tăng cường công tác quản lý
lao động ở nước ngoài, sắp xếp lại các doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu lao động
và cải tiến công tác tuyển chọn,đào tạo
2.2.5. Thị trường khoa học và công nghệ
Thị trường khoa học và công nghệ còn 2 khá mới mẻ ở nước ta nhưng nó rất
quan trọng vì thế cần phải hoàn thiện môi trường pháp lý và hệ thống chính
sách có liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường vận hành
+/ Chính sách giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực chothị trường lao động.
+/ Chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
+/ chính sách xuất khẩu kính thíc nền kinh tế phát triển.
Đặc biệt phảI áp dụng khoa học công nghệ, tiếp thu tri thức thế giới một cách phù
hợp có chọn lọc vào điều kiện cụ thể của nước ta .
thực tế cho thấy từ đại hội đảng 6/1986 đã cảI cách từ một nền kinh tế tạp trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường từ đó đến nay đã có được những thành
tựu đáng kể về mọi mặt. Các thị trường chứng khoán và tài chính ban đầu không phát
triển đến bây giờ đã phát triển mạnh . và cho đến đại hội đảng khoá X vừa qua lại một
lần nữa vai trò của nền kinh tế thị trường, coi trọng thành phần kinh tế tư nhân bằng
việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân và lần lượt cổ phần hoá các doanh nghiệp
nhà nước. Đến cuối năm nay chúng ta sẽ gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất thế
giới, khi tham gia vào tổ chức này sẽ có nhiề thuận lợi cho nền kinh tế thị trường ở
nước ta. Song nó cũng đặt cho chúng ta nhiều khó khăn thử thách, khi những tập đoàn
kinh tế lớn của thế giới đổ bộ vào thì chúng ta phải làm gì để có thể cạnh tranh
được?hẳn đó sẽ là vấn đề bức xúc hiện nay. Và để đón chờ điều đó thì vấn đề hình
thành và phát triển đồng bộ nèn kinh tế thị trường định hướng XHCN cần phải được
chú trọng, tập trung phát triển có như vậy mới tạo dược tiền đề vững chắc cho nền
kinh tế.
Tài liệu tham khảo
1.Dự thảo văn kiện Đại hội IX của Đảng