1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO VÀ BỐI CẢNH CHỌN ĐỀ TÀI:
Với mức thu nhập trung bình vào khoảng 1.168 USD /năm ( năm 2010), mặc dù
có sự tăng trưởng vượt bậc nhưng so với sự tăng trưởng chung của thế giới, Việt Nam
vẫn nằm trong danh sách những nước có thu nhập thấp trong khu vực và trên thế
giới.Theo kết quả của các cuộc điều tra nghiên cứu năm 2005, Việt Nam có khoảng
16% lao động có thu nhập thấ
p, trung bình – thấp; khoảng 49% có thu nhập trung bình;
khoảng 30 % lao động có thu nhập trung bình – khá; còn lại là thu nhập cao. Theo thời
gian, những con số này có thể thay đổi nhưng nhìn chung, số lao động có thu nhập
trung bình, trung bình khá luôn chiếm tỉ trong cao. [16]
Những năm trước đây với đa số người Việt Nam việc sở hữu ô tô được xem là
khá xa xỉ, đắt tiền chưa thật sự cần thiết. Tuy nhiên, kể từ sau khi Việt Nam chính thức
gia nhập vào tổ chứ
c thương mại WTO, nền kinh tế đất nước ngày càng có nhiều sự
chuyển biến tích cực về kinh tế kéo theo sự thay đổi về quan điểm cũng như nhu cầu
cuộc sống.Với người dân ngày nay, việc sở hữu một chiếc xe ô tô đã dần trở thành một
nhu cầu thiết yếu phục vụ việc đi lại, du lịch, công việc. Công năng sử dụng, sự phù
h
ợp với thu nhập và nhu cầu thật sự cần thiết là một trong những yếu tố tiên quyết
trong việc chọn mua ô tô của người tiêu dùng, nghĩa là một phương tiện đi lại thực thụ
chứ không phải trang sức xa xỉ, cao cấp, để ngắm, để cất giữ, để đánh bóng tên tuổi
như theo quan niệm trước đây. Và theo lẽ đó mà những dòng xe hạng nhỏ đang dần
chiếm ưu thế rất lớn trong xu hướng tiêu dùng của người dân Việt Nam.
Giữa những dòng xe du lịch hạng trung, hạng sang cao cấp với mức giá hơn 500
triệu đồng khá xa xỉ so với thu nhập của đa số người dân Việt Nam thì dòng xe hạng
nhỏ bình dân với mức giá chỉ từ 250 đến 400 triệu đồng lại trở nên gần gũi và phù hợp,
dần trở thành một phân khúc tiêu dùng nhộn nhịp nhận
Morning của công ty CP ô tô Trường Hải. ”
3
2. QUAN ĐIỂM CHỌN ĐỀ TÀI:
Xuất phát từ lí do bối cảnh nghiên cứu đã trình bày ở phần trên cùng với tình
hình thị trường ô tô Việt Nam và diễn biến hoạt đông marketing, tình hình hoạt động
kinh doanh xe Kia New Morning trong thời gian năm 2009, 2010 của công ty cổ phần
ô tô Trường Hải tác giả nhận thấy việc nghiên cứu vấn đề này là hết sức cần thiết và
phù hợp với nhu cầu của công ty.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Nhậ
n thức về vai trò và tầm quan trọng của Marketing đối với quá trình tiêu thụ
sản phẩm xe du lịch Kia New Morning, sau đó tiến hành phân tích đánh giá hoạt động
kinh doanh và marketing dòng xe du lịch Kia New Morning của công ty cổ phần ô tô
Trường Hải cùng với việc nghiên cứu nhận diện thị trường, nhu cầu mong muốn của
khách hàng về sản phẩm, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động
Marketing của công ty đối v
ới sản phẩm Kia New Morning nhằm nâng cao doanh số
bán hàng, gia tăng thị phần về dòng xe trong phân khúc hạng A của công ty Cp ô tô
Trường Hải trên thị trường.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Û
Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động Marketing dòng xe du lich Kia New Morning của công ty cổ phần
ô tô Trường Hải.
Û
Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Nghiên cứu thị trường ô tô trong nước, thị trường tiêu thụ sản
phẩm xe du lich Kia New Morning trên địa bàn thành phố Biên Hòa và một số tỉnh
khá nhiều nghiên cứu sinh chọn đề tài về vấn đề này để tiến hành nghiên cứu cho bài
báo cáo nghiên cứu khoa học của mình khi thực tập tại các doanh nghiệp. Riêng về
công ty cổ phần ô tô Trường Hải, sau quá trình tìm hiểu tác giả đã ghi nhận được kết
quả từ các bài nghiên cứu khoa học của các nghiên cứu sinh khóa trước để hoàn thiện
hơn cho bài báo cáo khoa học của mình.
5
Û Nghiên cứu một số yếu tố tác động đến quyết định mua xe ô tô du lich của
khách hàng – Tác giả: Nguyễn Thị Lê Phương, GVHD: TS.Nguyễn Văn Tân
Bài nghiên cứu này đã giúp tác giả nắm bắt được hoạt động nghiên cứu thị trường
tại Thaco Trường Hải, các yếu tác tác động đến quyết định mua xe du lịch Kia của
khách hàng nói chung qua đó tác giả nắm bắt được phần nào các yếu tố ảnh hưởng đến
việc tiêu thụ sản phẩm Kia New Morning tại công ty.
Û Giải pháp marketing dòng xe du lịch của công ty Cp ô tô Trường Hải CN Biên
Hòa – Tác giải Nguyễn Thị Hằng, GVHD: Ths.Lê Ngọc Thắng.
Û Chiến lược Marketing nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tại công ty CP ô
tô Trường Hải CN Biên Hòa – Tác giả Bùi Đức Bảo, GVHD: Ths.Nguyễn Thoại Hồng
Hai bài nghiên cứu trên giúp tác giả nhận định được hoạt động Marketing cho xe
du lịch Kia mà công ty cổ phần ô tô Trường Hải đã thực hiên trong khoảng thời gian
trước năm 2009 và tình hình kinh doanh của công ty trong khoảng thời gian trước đó.
Đồng thời tác giả cũng nắm được sự biến động thị trường ô tô trong nước, tình hình đối
thủ cạnh tranh, các chính sách xã hội tác động… Từ đó giúp tác giả sẽ có cái nhìn
khái quát hơn về hoạt động Markeing của công ty nói chung, làm cơ sở tiền đề cho tác
giả nghiên cứu hoạt động marketing cho riêng về dòng xe Kia New Morning.
Và một số đề tài khác liên quan
Û Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing mặt hàng xúc xích của Công
ty cổ phần Chăn Nuôi CP Việt Nam đến năm 2015 – Tác giả: Võ Ngọc Linh Ân,
GVHD: TS.Nguyễn Văn Tân
Cùng với các bài báo cáo kể trên, bài báo cáo này giúp tác giả hình dung được các
công việc, phương pháp cần thiết cho quá trình nghiên cứu của mình khi tiến hành làm
Chương 1: Cơ sở lí luận về nghiên cứu marketing
Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing dòng sản phẩm Kia New Morning
của công ty cổ phần ô tô Trường Hải
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing dòng sản phẩm
Kia New Morning của công ty cổ phần ô tô Trường Hải
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU MARKETING
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA MARKETING:
1.1.1 Khái niệm Marketing:
Marketing là một thuật ngữ tiếng Anh được nói đến lần đầu tiên vào năm 1902
tại Hoa Kì. Kể từ khi ra đời cho đến nay Marketing đã tự khẳng định mình như là một
khoa học quản lí hiện đại có tác đông hết sức tích cực đến hoạt động kinh doanh toàn
cầu.Trong quá trình hình thành và phát triển nhiều định nghĩa khác nhau về marketing
đã ra đời bởi các tổ chức, hiệp hội, các nhà nghiên cứu khắp nơi trên thế giới. [1, tr.14]
Dưới đây là một số khái niệm được chấp nhận và phổ biến rộng rãi:
Ó Theo CIM “Marketing là quá trình quản trị nhận biết, dự đoán và đáp ứng
nhu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả và có lợi”. [1, tr.14]
Ó Theo AMA “ Marketing là tiến trình hoạch định và thực hiện sự sáng tạo,
định giá, xúc tiến, và phân phối nhữ
ng ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao
đổi và thỏa mãn những mục tiêu cá nhân và tổ chức”. [1, tr.14]
Ó “Marketing là tiến trình qua đó các cá nhân và các nhóm có thể đạt được
nhu cầu và mong muốn bằng việc sáng tạo và trao đổi sản phẩm và giá trị giữa các
bên”. [1, tr.15]
Ó “Marketing là một hệ thống các hoạt động kinh doanh thiết kế để hoạch
định, định giá, xúc tiến, phân phối sản phẩm thỏa mãn mong muố
n của những thị
1.1.2.3 Định vị thị trường:
Là việc đưa ra các ấn tượng tốt, đặc sắc khó quên về sản phẩm của công ty
vào trong tâm trí khách hàng bằng các chiến lược marketing – mix thích hợp. [1, tr.96]
1.1.2.4. Hoạt động marketing – mix:
a. Hoạt động sản phẩm:
a.1 Sản phẩm: là bất cứ những gì được đưa ra thị trường nhằm đạt
được sự chú ý, s
ự chấp thuận để sử dụng hoặc tiêu thụ thỏa mãn nhu cầu hay mong
9
muốn của khách hàng. Khái niệm sản phẩm trong marketing được hiểu là cả hàng hóa
( sản phẩm vật chất) lẫn dịch vụ (sản phẩm phi vật chất). [1, tr.105]
Người tiêu dùng cảm nhận sản phẩm như một phức hợp những lợi ích thõa
mãn nhu cầu mong muốn của họ. Sẽ là sai lầm nếu các nhà sản xuất chỉ chú trọng đến
khía cạnh vật chất của sản phẩm mà ít quan tâm đến những lợi ích mà sản phẩm đó
đem lại vì nếu như vậy, họ chỉ nghĩ đến việc tiêu thụ sản phẩm chứ không phải là giải
pháp để giải quyết một nhu cầu. [22]
Sản phẩm thỏa mãn càng nhiều mong muốn sẽ càng dễ được người tiêu
dùng chấp nhận hơn. Để làm tốt được điều đó nhà sản cuất cần xác định nhóm khách
hàng mục tiêu và cố gắng cung cấp sản phẩm thõa mãn mong muốn nhu cầu của nhóm
khách hàng này. [22]
Û Hình dáng: Khách hàng thường có xu hướng mua những sản phẩm có
hình thức, kiểu dáng đẹp, xinh xắn. Đây là yếu tố quan trọng thường ảnh hưởng đến
quyết định mua sản phẩm của khách hàng. [15]
Û Độ an toàn: Độ an toàn có tầm quan trọng rất lớn đến việc quyết định
mua sản phẩm củ
a khách hàng. Cần đảm bảo sản phẩm khi đưa ra thị trường có đủ độ
an toàn, hạn chế mức thấp nhất những khuyết điểm. [15]
Û Khả năng lựa chọn: Sở thích của người tiêu dùng rất đa dạng, vì vậy sản
phẩm càng đa dạng nhiều chủng loại thì công ty càng dễ đáp ứng được sở thích và thị
+ Sản phẩm đòi hỏi chiến lược marketing, tài chính, sản xuất, cung ứng và
nhân sự khác nhau trong mỗi giai đoạ
n của chu kỳ sống ( Phụ lục 6). [1, tr.121]
a.3 Nội dung chiến lược sản phầm:
Ó Chiến lược chủng loại:
Trong nền kinh tế thị trường hiên nay, doanh nghiệp luôn có gắng xây dựng
chiến lược sản phẩm phù hợp đồng thời tạo sự đa dạng cho sản phẩm.Vì vậy doanh
nghiệp cần có chiến lược chủng loại sản phẩm hợp lý như: chiế
n lược thiết lập chủng
loại, chiến lược hạn chế chủng loại, chiến lược biến đổi chủng loại, chiến lược hoàn
thiện và nâng cao đặc tính sử dụng của sản phẩm: [15]
+ Hoàn thiện cấu trúc, kĩ thuật của sản phẩm. [15]
11
+ Nâng cao thông số: độ bền, độ an toàn, khả năng chống ẩm ….[15]
+ Thay đổi kiểu dáng, kích cỡ của sản phẩm phù hợp với nhu cầu người tiêu
dùng. [13]
+ Quan tâm đến mùi vị, màu sắc của sản phẩm. [15]
+ Thay đổi các vật liệu chế tạo theo hướng giảm chi phí nhưng vẫn giữ được
chất lượng vốn có của sản phẩm. [15]
+ Hạn chế những chi tiết hay hỏng, ít phù hợp v
ới nhu cầu khách hàng. [15]
+ Tăng cường tính thích dụng của sản phẩm như dễ bảo quản, dễ sử dụng, dễ
mua phụ tùng thay thế. [15]
Chiến lược đổi mới chủng loại: là việc doanh nghiệp tập trung phát triển một
số sản phẩm mới cho thị trường hiện tại nếu không muốn sản phẩm mình lỗi thời so
với sản phẩm của đối th
ủ cạnh tranh.[15]
b. Hoạt động định giá
Giá là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết mà khách hàng bỏ ra để có được sản phẩm
Chiến lược chiêu thị bao gồm mọi hoạt động nhằm truyền bá những thông
tin về s
ản phẩm và dịch vụ của công ty đến toàn bộ công chúng nói chung và người
tiêu dùng - khách hàng mục tiêu nói riêng, nhằm mục đích giới thiệu, kích thích, thuyết
phục khách hàng hiểu biết, chấp nhận, ưa thích, tin tưởng cuối cùng là mua hàng. [23]
Thông tin marketing sẽ trao quyền, đưa đến, chuyển giao những thông điệp
cần thiết về doanh nghiệp, về sản phẩm của doanh nghiệp, về phương thức phục vụ, về
những lợ
i ích mà khách hàng nhận khi mua sản phẩm của doanh nghiệp cũng như
những tin tức cần thiết từ phía khách hàng. Thông qua đó doanh nghiệp tìm cách thỏa
mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng. Một số công cụ chủ yếu thường được các công ty sử
dụng trong các chiến lược xúc tiến hỗn hợp là: [23]
• Quảng cáo: Được coi là một trong những công cụ quan trọng hàng đầu của
hoạt động xúc tiến thương mại qua việ
c doanh nghiệp sử dụng các phương tiện không
gian và thời gian để chuyển đến khách hàng tiềm năng những thông tin về doanh
13
nghiệp cũng như sản phẩm của doanh nghiệp. Quảng cáo bao gồm mọi hình thức giới
thiệu một cách gián tiếp và đề cao những ý tưởng, hàng hoá hoặc dịch vụ được thực
hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng cáo và chủ thể phải thanh toán các chi phí, quảng
cáo là hoạt động sáng tạo của mỗi doanh nghiệp, là biện pháp truyền thông tin, nhắc
nhở thuyết phục khách hàng nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá dịch vụ. Với đối tượng
khách hàng khác nhau thì doanh nghiệp lựa chọn các loại quảng cáo phù hợp. [23]
• Khuyến mại: Phần lớn các doanh nghiệp sử dụng khuyến mại nhằm kích
thích khách hàng tới hành vi mua sắm. Hoạt động này có thể áp dụng cho cả khách
hàng là người tiêu dùng, trung gian phân phối cũng như khách hàng công nghiệp,
thường được sử dụng cho các hàng hoá mới tung ra thị trường, áp lực cạnh tranh cao,
hoặc những sả
n phẩm có đơn giá thấp mà doanh thu cao. Người làm marketing sẽ đạt
là điều kiện để doanh nghiệp có thể tồn tại trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc
liệt. Việc tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp là điều hết sức quan
trọng, nó quyết định rất lớn đến sự thành bại của doanh nghiệp. [23]
Kinh tế thị trườ
ng ngày càng phát triển, mức độ cạnh tranh càng cao, cạnh tranh
vừa là động lực thúc đẩy, vừa là công cụ đào thải, chọn lựa khắt khe của thị trường đối
với doanh nghiệp. Vì vậy muốn tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải hòa mình vào
thị trường một cách năng động, linh hoạt. Khi khách hàng trở thành người phán quyết
cuối cùng đối với sự sống còn của doanh nghiệp thì các doanh nghiệp lớn buộc phải
nhận thức được vai trò của khách hàng. Lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ có được khi
làm hài lòng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, và marketing trở thành “chìa khóa
vàng” của doanh nghiệp để đi đến thành công. [23]
Và để hiểu rõ vai trò marketing đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp ta sẽ đi xem xét vai trò của tiêu thụ sản phẩm với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, vai trò của marketing với hoạt động kinh doanh củ
a doanh nghiệp.
Thông qua mối quan hệ giữa merkting với tiêu thụ sản phẩm ta sẽ nắm được marketing
có tầm quan trọng ra sao trong việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp (Phụ lục 8)
15
1.2 QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU MARKETING:
Đúc kết từ quá trình nghiên cứu của mình Philip Kotler đã đưa ra một qui trình
nghiên cứu marketing gồm các bước sau: [1, tr.76]
+ Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu.
+ Xây dựng kế hoạch nghiên cứu
+ Thực hiên nghiên cứu
+ Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu.[1, tr.76]
1.2.1 Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu
Bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu marketing, ta cần phải xác định
vấn đề và mục tiêu nghiên cứu một cách thận trọng và thố
tra, những nhà Marketing cần những thông tin về tình hình diễn biến của môi trường
Marketing. [21]
Các dữ liệu thu thập có thể xuất phát từ 2 nguồn: [1, tr.78]
9
Nguồn dữ liệu thứ cấp (secondary data): đây là nguồn dữ liệu đã có sẵn ,
có thể là những thông tin đã có trong một tài liệu nào đó, hoặc đã được thu thập cho
một mục đích nào khác, bao gồm: [1, tr.78]
Nguồn nội bộ: các báo cáo của công ty về doanh thu, lợi nhuận , chi phí
,bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh… [1, tr.78]
Nguồn bên ngoài: sách, báo, tạp chí, các ấn phẩm của cơ quan nhà nước,
báoicáoinghiênicứ
uitrướciđó….[1, tr.78]
Với nguồn dữ liệu thứ cấp những người nghiên cứu thường bắt đầu điều
tra xét xem liệu vấn đề cần nghiên cứu có thể được giải quyết một phần hay toàn mà
không phải tốn kém để thu thập những số liệu sơ cấp nhờ nguồn dữ liện này hay
không. Lúc này dữ liệu thứ cấp là điểm xuất phát để nghiên c
ứu và có ưu điểm là đỡ
tốn kém và có sẵn. Mặt khác, những số liệu này thường rất hạn chế, hoặc có thể đã lỗi
thời, không chính xác, không hoàn chỉnh, hay không tin cậy. [21]
9
Nguồn dữ liệu sơ cấp (Primary data): bao gồm những thông tin gốc
được thu thập cho mục đích nhất định. Hầu hết các đề án nghiên cứu đều đòi hỏi phải
thu thập số liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu sơ cấp có thể được thu thập thông qua một trong
ba phương pháp sau: [1, tr.78]
17
Ç Quan sát: (Observation) Là phương pháp mà các nhà nghiên cứu thu
thập thông tin bằng cách tiến hành quan sát đối tượng nghiên cứu. Ví du như : Những
phỏng vấn làm thiên vị hay sai lệch đi. Song phiếu câu hỏi gửi qua bưu điện đòi hỏi
những câu hỏi phải đơn giản, rõ ràng, và việc nhận được phiếu trả lời thường đạt tỷ lệ
thấpivà/hayichậm.[21]
+ Phỏng vấn qua điện thoại là phương pháp tốt nhất để thu thập thông tin
nhanh chóng và người phỏng vấn cũng có khả năng giải thích rõ thêm các câu hỏi nếu
người được phỏng vấn không hiểu. Tỷ lệ trả lời thường cao hơn so với trường hợp gửi
phiếu câu hỏi qua bưu điện. Hai nhược điểm chính là chỉ có thể phỏng vấn được những
người có điện thoại, và cuộc phỏng vấn phải ngắn gọn cũng như không quá đi sâu vào
chuyện riêng tư. [21]
Khi áp dụng phương pháp đi
ều tra cần có bản câu hỏi và chọn lựa mẫu đối
tượng điều tra.
y Bản câu hỏi ( questionnaire): Đây được xem là công cụ phổ biến nhất hiện
nay để thu thập những số liệu ban đầu trong kĩ thuật điều tra được dùng như là một bản
liệt kê những câu hỏi để cho người nhận phiếu trả lời chúng. [1, tr.79]
Trước khi thiết lập bản câu h
ỏi, người nghiên cứu nên xem xét, lựa chọn,
quyết định loại câu hỏi, hình thức, từ dùng trong câu hỏi, thứ tự các câu hỏi và mối liên
hệ của mỗi câu hỏi đến mục tiêu nghiên cứu được soạn thảo một cách thận trọng, thử
nghiệm và loại trừ những sai sót trước khi đưa ra áp dụng đại trà. [1, tr.79]
Bản câu hỏi khá linh hoạt, hình thức câu hỏi thường có 2 dạng: Câu hỏi
đóng và câu hỏi mở
Câu hỏi đóng ( closed-end questions): bằng cách đưa ra các khả năng trả
lời để đối tượng phỏng vấn chọn một trong các khả năng trả lời đó. [1, tr.79]
mẫu xác suất bao gồm: mẫu đơn ng
ẫu nhiên, mẫu phân lớp ngẫu nhiên và mẫu theo
nhóm (khu vực). Người nghiên cứu sẽ chọn mẫu phi xác xuất khi chi phí và thời gian
cần thiết để lấy mẫu xác suất quá lớn. [21]
- Chọn mẫu phi xác xuất: đối tượng chọn mẫu không theo qui luật ngẫu nhiên
mà theo sự tiên lợi, sự phán đoán, sự đánh giá chủ quan của người nghiên cứu.
20
Trong trường hợp nghiên cứu thực nghiệm người nghiên cứu phải đảm bảo các
nhóm thí nghiệm và đối chứng tương ứng với nhau, không để sự có mặt của mình ảnh
hưởng đến những người tham gia, đối xử theo một cách thống nhất và khống chế
những yếu tố ngoại lại. [21]
1.2.3.2 Phân tích thông tin
Sau khi thu thập dữ liệu bước tiếp theo trong quá trình nghiên cứu Marketing là từ
những dữ liệ
u đó xử lý đưa ra những kết quả thích hợp bằng nhiều phương cách như
phân tích định lượng và phân tích định tính. [1, tr.81]
Kỹ thuật thống kê được sử dụng trong phân tích định lượng với hai phương pháp
mô tả và nhân quả.
Có thể dùng mô hình để thu thập các dữ liệu.Mô hình là tượng trưng đơn giản hóa
của thực tế, chỉ giữ lại một số các yếu tố hợp thành đặc biệ
t yếu tố nhận thức là quan
trọng nhất. Muốn xây dựng mô hình ta cần phải xác định được các đặc trưng của mô
hình, đánh giá các thông số, đánh giá mô hình và chỉ khi nào mô hình được đánh giá là
chính xác thì có thể đưa vào sử dụng. [1, tr.81]
1.2.4 Trình bày các kết quả thu được: [1, tr.81]
Yêu cầu của bản báo cáo phải rõ ràng, được chuẩn bị chu đáo với nội dung tập
trung vào một trình tự nhất định: nêu vấn đề, mụ
c đích nghiên cứu, giả thiết, kết luận
1.3 NHỮNG YÊU CẦU TRONG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU MARKETING:
Morning cũng như hoạt
động marketing dòng sản phẩm này của công ty cổ phần ô tô
Trường Hải và công ty cổ phần ô tô Trường Hải - chi nhánh Biên Hòa. 22
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
MARKETING DÒNG SẢN PHẨM KIA NEW MORNING CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN Ô TÔ TRƯỜNG HẢI
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ TRƯỜNG HẢI
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần ô tô Trường Hải
9 Ngày 29 tháng 4 năm 1997 tại khu công nghiệp 2 tỉnh Đồng Nai công ty cổ
phần ô tô Trường Hải tiền thân là công ty TNHH ô tô Trường Hải được thành lập.
Công ty có văn phòng đại diện ở trải dài khắp nơi trên cả nước từ Bắc đến Nam với
Văn phòng quản trị tổng công ty đóng tại TP HCM. Riêng hoạt độ
ng sản xuất lắp ráp
sản phẩm ô tô nội địa tập trung chủ yếu tại khu công nghiệp cơ khí ô tô Chu Lai
Trường Hải. Công ty cổ phần ô tô Trường Hải hoạt động trên 3 lĩnh vực sản xuất kinh
doanh chính: Ô tô, Địa ốc và đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp. [31]
9 Trong những năm đầu thành lập công ty cổ phần ô tô Trường hải được biết đến
như một công ty mua bán sửa ch
ữa và tân trang các sản phẩm xe đã qua sử dụng đồng
khu cơ sở hạ tầng công nghiệp, đầu tư xây dựng khu đô thị mới tại Tam Phú – Quảng
Nam đồng thời lần lượt xây dựng các nhà máy sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô theo lộ
trình nội địa hóa ngành công nghiệp ô tô của chính phủ. Đây cũng là n
ăm mẫu sản
phẩm ô tô du lịch lắp ráp trong nước đầu tiên New Morning được xuất xưởng đến với
người tiêu dùng. [31]
Từ một xưởng sữa chữa xe với vốn ban đầu 800 triệu đồng, trải qua hơn 10 năm
hình thành và phát triển tính đến năm 2010 vốn hóa thị trường của công ty cổ phần ô tô
Trường Hải đã đạt khoảng 17.500 tỷ đồng, đánh dấu bước phát triển vượt b
ậc trở thành
một torng những thương hiệu ô tô hàng đầu cả nước. [31]
Với tầm nhìn là doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao, bền vững mang lại hiệu
quả tối đa cho nhà đầu tư và niềm tự hào cho người Việt Nam về sản phẩm ô tô thương
hiệu Việt cùng sứ mệnh tạo ra những sản phẩm thương hiệu Thaco nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống ng
ười sử dụng, phấn đấu để thương hiệu Thaco trở thành một trong
những thương hiệu của Việt Nam được biết đến trong khu vực AFTA và thế giới, trên
24
nền tảng phát triển bền vững Thaco tạo ra nguồn nhân lực và vật lực góp phần vào quá
trình phát triển kinh tế văn hóa xã hội và nền công nghiệp cơ khí của nước nhà; thương
hiệu Trường Hải Thaco sẽ ngày càng vươn cao, tiến xa hơn nữa trong tương lai. [31]
Một trong những lợi thế lớn nhất của Trường Hải chính là triển khai được một
mạng lưới phân phối với hệ thống showroom và đại lý rộng lớn tên khắp cả nước, đáp
ứng được khả năng phục vụ tốt nhất cho tất cả các khách hàng trên toàn quốc và công
ty cổ phần ô tô Trường Hải – chi nhánh Biên Hòa là một trong những showroom phát
huy tốt thế mạnh đó. Từ năm đầu tiên của thế kỷ XXI, trên khắp các nẻo đường đất
nước, xuất hiện loại xe tải nhẹ mang nhãn hiệu Kia, những chiếc xe tải với kiểu dáng
hiện đại ấy, được xuất xưởng ngay tại một Công ty có vốn 100% của tư nhân nằm
trong Khu công nghiệp Biên Hòa 2. Đó là nhà máy Trường Hải 1 thuộc Công ty trách
9 Giám đốc dịch vụ - phụ tùng: chịu trách nhiệm các vấn
đề liên quan đến phụ
tùng kinh doanh của công ty như lên kế hoạch số lượng phụ tùng sử dụng đồng thời
đảm bảo số lượng, chất lượng, cung ứng phụ tùng từ nhà cung cấp đến các chi nhánh,
đại lý…[4]
9 Giám đốc tài chính: chịu trách nhiệm về nguồn tài chính cần thiết phục vụ cho
hoạt động kinh doanh của toàn công ty, lên kế hoạch cho các hoạt đồng tài chính.
9 Giám đốc đầu tư địa ốc: lên kế
hoạch, ra quyết định và chịu trách nhiệm các
vần đề về đầu tư kinh doanh bất động sản của công ty. [4]
9 Giám đốc kinh doanh: chịu trách nhiệm trong việc nghiên cứu phát triển sản
phẩm mới, lên kế hoạch và đưa ra các quyết định trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh
như marketing, bán hàng… [4]
Ngoài ra còn có các phòng ban chức năng khác như phòng truyền thông, công
nghệ thông tin, nhân sự, đào tạo, quan hệ quốc tế… hỗ trợ
đảm bảo hoạt đông kinh
doanh của chi nhánh và các công ty thành viên.