MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả kinh doanh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, hiệu quả kinh
doanh càng có ý nghĩa quan trọng đối với các NHTM và nâng cao hiệu quả
kinh doanh là vấn đề cực kỳ bức xúc. Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh là vấn đề được các NHTM đặc biệt chú trọng tại các NHTM,
trong đó có Ngân hàng Công thương (NHCT) Việt Nam và Chi nhánh NHCT
trên địa bàn tỉnh An Giang.
Là một bộ phận của NHCT Việt Nam, sau 20 năm thành lập, Chi nhánh
NHCT tỉnh An Giang đã có bước phát triển đáng kể. Tổng nguồn vốn hiện
nay gấp 44 lần so với khi mới thành lập (1988), dư nợ cho vay và đầu tư tăng
gấp 62 lần. Hiệu quả hoạt động kinh của Chi nhánh cũng đã được nâng cao,
các chỉ tiêu về lợi nhuận, hiệu suất sử dụng vốn… tăng lên đáng kể, đặc biệt
là từ năm 2006 đến nay.
Tuy vậy, các chỉ tiêu về hiệu quả của Chi nhánh còn nhiều hạn chế, tỷ
suất lợi nhuận chưa cao, tăng trưởng lợi nhuận chưa vững chắc, các chỉ tiêu
hiệu quả khác còn nhiều hạn chế.
Trong điều kiện kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tham
gia, Chi nhánh phải cạnh tranh với nhiều ngân hàng khác, thị phần cho vay
của Chi nhánh có nguy cơ bị thu hẹp, hiệu quả có nguy cơ giảm thấp và thiếu
bền vững. Trước thực tế đó, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một trong
những vấn đề mấu chốt cho sự tồn tại và phát triển của Chi nhánh. Do vậy,
việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Chi
nhánh NHCT tỉnh An Giang là vấn đề bức xúc, đồng thời có ý nghĩa lâu dài
cả về lí luận và thực tiễn. Đó cũng là lý do chủ yếu của việc lựa chọn đề tài:
“Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương
tỉnh An Giang”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài
Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có những công trình khoa học, các
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lí luận về hiệu quả kinh doanh của
NHTM trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động và hiệu quả kinh doanh tại
Chi nhánh NHCT tỉnh An Giang.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
tại Chi nhánh NHCT tỉnh An Giang trong điều kiện mới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của
Nhà nước, kế thừa một cách có chọn lọc các công trình nghiên cứu có liên quan.
Ngoài phương pháp luận duy vật biện chứng, việc nghiên cứu luận
văn trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản và điển hình được
sử dụng trong quá trình nghiên cứu như: phương pháp thống kê, tổng hợp, so
sánh… để phân tích và làm rõ những vấn đề của luận văn.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Hệ thống hoá có chọn lọc một số vấn đề lý luận về hiệu quả kinh
doanh của NHTM.
- Đánh giá đúng thực trạng hoạt động và hiệu quả kinh doanh tại Chi
nhánh NHCT tỉnh An Giang, chỉ rõ những hạn chế, trở ngại đối với việc nâng
cao hiệu quả kinh doanh của NHCT và những nguyên nhân chủ yếu.
- Đề xuất được các giải pháp thiết thực và khả thi về nâng cao hiệu
quả kinh doanh tại Chi nhánh NHCT tỉnh An Giang.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Như vậy, có thể nói NHTM là một loại định chế tài chính trung gian
cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài
chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội được huy động,
tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá
nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Các NHTM thực hiện rất nhiều hoạt động, trong đó có các hoạt động
chủ yếu như sau [13]:
Thứ nhất, tạo lập nguồn vốn. Nguồn vốn của NHTM gồm vốn điều lệ,
các quỹ, vốn huy động và vốn đi vay.
Vốn điều lệ là nguồn vốn ban đầu khi ngân hàng mới bắt đầu đi vào
hoạt động và được ghi vào bản điều lệ của ngân hàng. Đối với lĩnh vực ngân
hàng, vốn điều lệ đạt mức tối thiểu theo qui định của pháp luật (vốn pháp
định). Tuỳ theo loại hình ngân hàng mà vốn điều lệ có thể hình thành từ
những nguồn khác. Đối với NHTM quốc doanh, vốn điều lệ do ngân sách nhà
nước cấp phát.
Vốn điều lệ là bộ phận chủ yếu của vốn tự có trong NHTM. Ở Việt
Nam, theo Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 thì
vốn tự có của NHTM gồm: vốn tự có cơ bản và vốn tự có bổ sung [23].
Vốn tự có cơ bản (vốn cấp 1): Vốn điều lệ thực có (vốn đã được cấp,
vốn đã góp), quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu
tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia.
Vốn tự có bổ sung (vốn cấp 2): phần giá trị tăng thêm của tài sản cố
định và của các loại chứng khóan đầu tư được định giá lại, trái phiếu chuyển
đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do tổ chức tín dụng phát hành có thời hạn dài.
Các quỹ của ngân hàng được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt
động, bao gồm các quỹ trích từ lãi ròng hàng năm của ngân hàng như quỹ dự
trữ bổ sung vốn điều lệ, các quỹ dự phòng (tài chính, trợ cấp mất việc làm),
quỹ đầu tư phát triển, quỹ khác (khen thưởng, phúc lợi…). Ngoài ra, còn có
các quỹ được hình thành bằng cách trích và tính vào chi phí hoạt động của
ngân hàng như: quỹ khấu hao cơ bản, sữa chữa tài sản, quỹ dự phòng để xử lý
hàng; chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trã lãi; đáp ứng nhu cầu vay vốn
hợp lý trong ngày của khách hàng; thực hiện các khoản chi tiêu hàng ngày tại
ngân hàng…
Ngoài ra, còn một số hoạt động sử dụng vốn khác như: mua sắm trang
thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh, xây dựng trụ sở làm việc
ngân hàng, hệ thống kho bãi và các chi phí khác.
Thứ ba, cung cấp dịch vụ ngân hàng. Đây là các sản phẩm dịch vụ mà
khi NHTM cung cấp cho khách hàng sẽ nhận được các khoản hoa hồng và lệ
phí như: dịch vụ ngân quỹ; dịch vụ uỷ thác; tổ chức thanh toán không dùng
tiền mặt cho khách hàng; nhận quản lý tài sản quý, giấy tờ có giá theo yêu cầu
của khách hàng; kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại tệ; mua bán hộ chứng
khoán, phát hành hộ cổ phiếu, trái phiếu cho các công ty, xí nghiệp; tư vấn tài
chính, đầu tư; bảo lãnh tín dụng, trong đó NHTM cam kết đảm bảo hoàn trả
khoản vay của khách hàng cho người thứ ba là người cho vay; các hợp đồng
trao đổi lãi suất, trong đó NHTM cam kết trao đổi các khoản thanh toán lãi
của chứng khoán nợ với một bên khác; các hợp đồng tài chính tương lai và
hợp đồng quyền chọn lãi suất, trong đó NHTM đồng ý giao hay nhận những
chứng khoán từ một bên khác tại một mức giá được bảo đảm; hợp đồng cam
kết cho vay, trong đó NHTM cam kết cho vay tối đa tới một số vốn nhất định
trước khi hợp đồng hết hiệu lực; các hợp đồng tỷ giá hối đoái, trong đó
NHTM đồng ý giao hay nhận một lượng ngoại tệ nhất định.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
thương mại
Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng vì mục đích lợi
nhuận. Vì vậy, hiệu quả kinh doanh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát
triển của các NHTM.
Hiệu quả kinh doanh nói chung là tỷ lệ giữa kết quả đầu ra so với chi
phí đầu vào. Hiệu quả kinh doanh của NHTM thường được đo bằng các chỉ
LNST =
Thu
từ lãi
–
Chi
từ lãi
+
Thu
khác
–
Chi
khác
– Thuế TN
Lợi nhuận sau thuế (lợi nhuận ròng) là chỉ tiêu phản ánh tập trung nhất
mức sinh lợi của ngân hàng. Nhìn vào công thức trên ta thấy nếu mức chênh
lệch giữa thu từ lãi và chi từ lãi cao thì lãi ròng lớn, và ngược lại. Trong hoạt
động kinh doanh của NHTM, mức chênh lệch này có xu hướng giảm nên
chênh lệch giữa thu khác và chi khác đóng vai trò quan trọng. Điều này cho
thấy xu hướng hoạt động kinh doanh của NHTM có xu hướng chú trọng các
sản phẩm dịch vụ.
Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lãi của ngân hàng hay còn gọi là
mức lãi ròng.
1.1.3.2. Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận
trên tài sản sinh lợi
=
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản sinh lợi
× 100%
Chỉ tiêu này nói lên tỷ lệ lợi nhuận do tài sản có sinh lời tạo ra lợi
Lợi nhuận ròng
Tổng tài sản
×
Tổng tài sản
Tổng vốn chủ sở hữu
Hay:
ROE = ROA ×
Tổng tài sản
Tổng vốn chủ sở hữu
Mối quan hệ trên cho thấy thu nhập của một ngân hàng rất nhạy cảm
với phương thức tài trợ tài sản (sử dụng nhiều nợ hơn hay nhiều vốn chủ sở
hữu hơn). Một ngân hàng có ROA thấp vẫn có thể đạt ROE ở mức cao nếu
như sử dụng nhiều nợ (gồm cả tiền gửi của khách hàng) và sử dụng tối thiểu
vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ tài sản.
- Các chỉ tiêu trung gian gồm: như chênh lệch lãi bình quân, tỷ lệ tài
sản sinh lời. Cụ thể như sau:
+ Chênh lệch lãi suất bình quân (chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra):
là chỉ tiêu truyền thống đánh giá thu nhập của ngân hàng, đo lường hiệu quả
đối với hoạt động trung gian của ngân hàng trong quá trình huy động vốn và
cho vay, đồng thời đo lường mức độ cạnh tranh trong thị trường của ngân
hàng. Trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, chênh lệch lãi suất
bình quân của ngân hàng sẽ giảm khi cường độ cạnh tranh tăng lên, buộc
NHTM phải tìm cách bù đắp mức chênh lệch lãi suất bị mất đi bằng cách thu
phí từ các sản phẩm dịch vụ mới.
Chênh lệch lãi
suất bình quân
=
Thu từ lãi
Tổng tài sản sinh lời
×
1.2. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ YÊU CẦU NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH
DOANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Các yếu tố bên trong ngân hàng thương mại
Nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
không phải do khách quan hay do lực lượng nào đó bên ngoài quyết định mà
nằm ngay trong từng NHTM. Các nhân tố bên trong (chủ quan) thường liên
quan tới bản thân ngân hàng trên tất cả các khía cạnh khác nhau của hoạt động
ngân hàng như: năng lực về vốn, mô hình tổ chức quản lý, nhân lực của ngân
hàng, cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng, tình hình duy trì và thực hiện kiểm
tra kiểm soát nội bộ...
Năng lực về vốn: vốn tự có là yếu tố hết sức cơ bản để đánh giá sức
mạnh tài chính của các NHTM. Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh
ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh có thể dẫn đến rủi ro cao. Chính vì vậy,
hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động có điều kiện mà trước hết là
điều kiện về mức vốn tự có phải đạt được để làm "đệm an toàn" và "lá chắn"
chống đỡ rủi ro. Bên cạnh đó, vốn tự có còn có ảnh hưởng đến mức đầu tư
vào công nghệ ngân hàng vì NHTM chỉ có thể sử dụng vốn tự có để đầu tư
vào công nghệ.
Mô hình tổ chức quản lý của NHTM: thể hiện ở chỗ phân biệt rõ ràng
chức năng quản trị và chức năng điều hành, xây dựng mục tiêu hướng tới
khách hàng, quản lý và hạch toán theo sản phẩm, mang lại tiện ích cho khách
hàng nhiều hơn, tạo ra khả năng điều hành và quản lý theo cơ chế tập trung
đối với hoạt động kinh doanh của NHTM và phát huy được kết quả tốt do các
thông tin, dữ liệu được quản lý và cung cấp tập trung. Tổ chức ngân hàng
phải sắp xếp một cách khoa học, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng
giữa các phòng ban, các bộ phận nghiệp vụ của ngân hàng trong từng chi
nhánh của NHTM, trong toàn hệ thống cũng như giữa NHTM với các cơ
quan khác như tài chính, pháp lý… sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu
cầu của khách hàng.
Nguồn nhân lực, quản trị điều hành: nguồn nhân lực là nguồn lực quan
hàng để tăng khả năng quản lý, tăng cường thu thập xử lý thông tin, tạo điều
kiện thu hút nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, tăng cường khả năng
kiểm tra, kiểm soát, nâng cao chất lượng dịch vụ cho khách hàng, phát triển
hệ thống thanh toán hiện đại, nhanh chóng, chính xác, an toàn và hiệu quả.
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Đây là một khâu, một chức năng
quan trọng của NHTM là biện pháp giúp ban lãnh đạo ngân hàng có được các
thông tin về tình trạng kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động
kinh doanh của NHTM đang được thực hiện, phù hợp với chính sách, đáp ứng
được các mục tiêu đã định. Thông qua kiểm tra kiểm soát nội bộ phát hiện
những sai sót trong quá trình hoạt động từ đó kịp thời chấn chỉnh những sai
sót, hạn chế những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra ảnh hưởng tới hoạt động kinh
doanh của NHTM.
1.2.2. Các yếu tố bên ngoài tác động đến hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Sự biến động của nền kinh tế trong nước và thế giới
Hiệu quả kinh doanh của các NHTM chịu tác động mạnh mẽ và trực
tiếp bởi tình trạng nền kinh tế trong nước và sự biến động của nền kinh tế thế
giới. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, tình trạng của nền kinh tế trong nước. Nhóm yếu tố này gồm
nhiều yếu tố như tăng trưởng, kinh tế, lạm phát, lãi suất, tỷ giá...
Tốc độ tăng trưởng GDP là yếu tố đầu tiên của nền kinh tế trong nước
ảnh hưởng đến ngành ngân hàng. Khi nền kinh tế ở giai đoạn tăng trưởng
cao sẽ tạo nhiều cơ hội cho đầu tư mở rộng, hoạt động của các doanh
nghiệp sôi động hơn, các doanh nghiệp sẽ sẵn sàng vay vốn NHTM với số
tiền lớn hơn, lãi suất cao hơn và kỳ hạn dài hơn để mở rộng sản xuất đầu tư
vào các dự án có hiệu quả. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng như chi trả
tiền, mua bán ngoại tệ, thanh toán xuất nhập khẩu, thẻ tín dụng… sẽ được
khách hàng sử dụng nhiều hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế sa sút, suy thoái
dẫn đến giảm tiêu dùng và giảm đầu tư toàn xã hội, các khách hàng sẽ ít sử
dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, vì vậy sẽ kéo theo sự sa sút của
vực cũng khác nhau, nên các NHTM phải có những nắm bắt để linh hoạt
trong hoạt động kinh doanh của mình.
Thứ hai, sự biến động của nền kinh tế thế giới, bao gồm các yếu tố như
toàn cầu hoá, sự phát triển của khoa học - công nghệ...
Bên cạnh sự ảnh hưởng của nền kinh tế trong nước, thì tình hình kinh tế
toàn cầu, kinh tế khu vực thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP, tốc độ tăng
trưởng xuất nhập khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài, chỉ số giá, sự luân chuyển
của các dòng đầu tư quốc tế, cũng ảnh hưởng rất lớn đến lĩnh vực kinh doanh
của NHTM, mà cụ thể ảnh hưởng đến nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, ấn định tỷ
giá, lãi suất, đầu tư tài chính và các giấy tờ có giá tại các thị trường tài chính
quốc tế hoặc trực tiếp cho vay đối với các dự án nước ngoài.
NHTM còn bị ảnh hưởng không nhỏ của xu thế toàn cầu hóa, khu vực
hóa đang là xu hướng chính của nền kinh tế thế giới hiện nay. Chính xu thế
toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế này đã đẩy mạnh thương mại và đầu tư
quốc tế, làm gia tăng cơ hội kinh doanh quốc tế, vừa làm tăng áp lực cạnh
tranh quốc tế đối với các NHTM. Thêm vào đó, xu thế tăng tỷ lệ chất xám
trong cấu thành các sản phẩm dịch vụ cũng buộc các NHTM cần phải áp dụng
công nghệ tiên tiến, hiện đại phát triển các sản phẩm dịch vụ mang nhiều chất
xám như chương trình tư vấn đầu tư tài chính cho các doanh nghiệp, thiết lập
các hình thức giao dịch, thanh toán qua mạng Internet (E-Banking), giao dịch
tại nhà (Home - banking), hoặc các NHTM tham gia vào hoạt động kinh
doanh của khách hàng.
Sự phát triển của khoa học và công nghệ trên thế giới hiện nay phát
triển rất nhanh chóng và ngày càng hiện đại. Chính sự phát triển kỳ diệu của
khoa học và công nghệ đã tác động rất lớn đến nhiều ngành nghề trong nền
kinh tế, trong đó có ngành ngân hàng. Sự phát triển của khoa học và công
nghệ đã thúc đẩy sự hiện đại hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tạo thuận
lợi rất nhiều trong các giao dịch giữa khách hàng và NHTM, tạo sự hấp dẫn
nhiều hơn cho khách hàng sử dụng đến các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Sự
phát triển của khoa học và công nghệ đòi hỏi sự hiện đại hoá công nghệ ngân
Mức độ cạnh tranh hiện tại của ngành ngân hàng tuỳ thuộc vào mức độ
tăng trưởng của ngành, quy mô thị trường, số lượng các đối thủ cạnh tranh và
quy mô của họ cũng như mức độ quan trọng của các rào cản rút lui (thu hồi
vốn đầu tư, hình ảnh, thương hiệu và uy tín của các NHTM, các trở ngại về
pháp luật). Một trong những thách thức của các NHTM hiện nay là không chỉ
phải cạnh tranh trong một quốc gia mà còn phải cạnh tranh với các ngân hàng
khổng lồ trên thế giới. Do đó, các NHTM phải xem xét tầm quan trọng chiến
lược của hoạt động kinh doanh hiện tại đối với toàn bộ hoạt động và mục tiêu
mà đối thủ cạnh tranh đặt ra, đặc biệt là tiềm lực của đối thủ cạnh tranh mạnh
nhất trên thị trường như khả năng kinh doanh, nguồn lực cạnh tranh của họ,
trạng thái tài chính, thị phần hiện tại để có chiến lược và mục tiêu phù hợp
cho hoạt động kinh doanh của NHTM.
Môi trường văn hóa, xã hội ảnh hưởng rất nhiều đến điều kiện kinh
doanh của NHTM nhất là yếu tố con người. Nếu là khách hàng sẽ ảnh
hưởng đến thị hiếu, nhu cầu, thói quen…. Nếu là cán bộ, nhân viên trong
ngành ngân hàng thì môi trường xã hội, văn hoá có ảnh hưởng đến phong
cách làm việc, phẩm chất nghề nghiệp, thói quen… Những yếu tố trên có
thể kích thích hay kiềm hãm sự phát triển của các ngân hàng. Mặt khác
con người ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động và mối quan hệ xã hội ra
phạm vi toàn cầu. Điều này đòi hỏi các NHTM phải chuẩn mực hóa bản
thân theo các chuẩn mực ngân hàng quốc tế về việc đáp ứng các loại sản
phẩm dịch vụ, chất lượng dịch vụ ngang bằng với các ngân hàng khác trên
thế giới.
Môi trường tác nghiệp quyết định tính chất và khả năng cạnh tranh
trong kinh doanh mà ở đây chính là môi trường thuộc lĩnh vực tài chính ngân
hàng. Môi trường này sẽ tạo nên những yếu tố tác động không nhỏ tới khả
năng cạnh tranh của các NHTM. Có thể thúc đẩy các ngân hàng phát triển
một cách mạnh mẽ, vững chắc nhưng cũng có thể gây ra những cản trở kìm
hãm sự cạnh tranh của các NHTM.
Điều kiện kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
khánh tiết, chi phí dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, chi phí khác cho hoạt động
kinh doanh… Việc tiết kiệm chi phí này cũng góp phần tăng hiệu quả kinh
doanh của NHTM.
Hai là, đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh. Đây chính là một yếu
tố bảo đảm cho hiệu quả kinh doanh bền vững. Đảm bảo an toàn bao gồm an
toàn về nguồn vốn, an toàn về tín dụng và an toàn cho các hoạt động khác.
Bảo đảm an toàn nguồn vốn: trong hoạt động kinh doanh của NHTM
phần quan trọng là huy động tiền nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, các doanh
nghiệp, các tầng lớp dân cư trong xã hội gửi vào ngân hàng theo thỏa thuận của
khách hàng. Khi khách hàng có nhu cầu rút vốn thì NHTM phải đảm bảo thanh
toán cho khách hàng. Do vậy, NHTM luôn luôn phải có nguồn tiền mặt dự trữ
để đảm bảo khả năng thanh toán khi có nhu cầu nhưng phải hợp lý. Nếu quá
thừa thì lãng phí, nếu thiếu thì sẽ tác động trực tiếp tới uy tín của NHTM.
Bảo đảm an toàn tín dụng và bảo đảm an toàn cho các hoạt động khác:
các NHTM thường tìm ở các khách hàng tiềm năng có khả năng vay vốn với
lãi suất cao, có khả năng hoàn trả tiền vay theo đúng tiến độ. Muốn có được
khách hàng như vậy thì cần phải làm tốt công tác marketing, tìm kiếm khách
hàng phục vụ lợi ích của mình. Khi xem xét một khoản vay cần được kết hợp
nhiều yếu tố, thu thập nhiều thông tin, thông tin về khách hàng, thông tin về
thị trường. Mặc dù vậy, công tác điều tra phải thật nhanh chóng và chính xác
quyết định cho vay đáp ứng nhu cầu của khách hàng, không làm mất cơ hội
của khách hàng và mục đích cuối cùng là người vay vốn có khả năng hoàn trả
cả gốc và lãi vay đúng hạn.
1.3. KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA MỘT
SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ BÀI HỌC RÚT RA
1.3.1. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại một số ngân
hàng thương mại
1.3.1.1. Kinh nghiệm của các ngân hàng trên địa bàn
Hiện có nhiều ngân hàng và chi nhánh ngân hàng hoạt động trên địa
bàn tỉnh. Từ thực tế kinh doanh của một số ngân hàng có thể rút ra một số
trên các địa bàn khác có thể rút ra và áp dụng cho Chi nhánh An Giang, trong
đó đặc biệt là Chi nhánh 14 Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2007, Chi nhánh này đã huy động tổng vốn là 1.266 tỷ đồng, tăng
8% so năm 2006. Dư nợ cho vay 510 tỷ đồng, lợi nhuận là 25 tỷ đồng. Năm
2007 dư nợ cho vay tăng 53%, tổng nguồn vốn huy động tăng 7,8% so năm
2006. Thu phí dịch vụ đạt 1,8 tỷ đồng, tăng 29% so năm 2006, tỷ lệ nợ xấu
0,68%. Chi nhánh thực hiện bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…
doanh số khoảng 17 tỷ đồng. Doanh số thanh toán L/C nhập khẩu tăng 1,76
lần so năm 2006, thanh toán L/C xuất khẩu tăng 6,6 lần so năm 2006 từ đó
góp phần tăng thu phí dịch vụ. Chi nhánh 14 tập trung công tác huy động vốn
luôn ở mức cao, đồng thời phát triển mở rộng cho vay nhằm tăng doanh thu
mang lại lợi nhuận cao, số dư huy động vốn cao gấp 2 lần số dư nợ cho vay,
chi nhánh huy động vốn cao hơn cho vay cho nên thừa vốn và gửi vốn về
Ngân hàng Công thương Việt Nam để nhận chênh lệch lãi suất gửi vốn làm
cho hiệu quả kinh doanh của chi nhánh càng cao, ít rủi ro.
1.3.2. Một số bài học kinh nghiệm đối với Chi nhánh Ngân hàng
Công thương tỉnh An Giang
Một là, cần có sự chỉ đạo tập trung theo các chương trình, mục tiêu đã
đề ra, có bước đi giải pháp thích hợp, tạo nguồn lực, động lực cho kinh doanh,
coi trọng mục tiêu huy động nguồn vốn, chất lượng tín dụng, tạo thêm sản
phẩm mới phù hợp với môi trường cạnh tranh. Trong điều hành cần nhanh
nhạy, thông suốt, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, nội bộ đoàn kết thống nhất,
điều hành theo quy chế, cơ chế một cách kỷ cương, phát huy tinh thần đoàn
kết nội bộ và năng lực sở trường của từng cá nhân từ đó từng cá nhân hoàn
thành nhiệm vụ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của chi nhánh.
Hai là, thực hiện nhanh chóng hiện đại hoá công nghệ thông tin và công
nghệ ngân hàng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn trong phục vụ khách hàng.
Ba là, phải tổ chức tốt khâu tiếp thị và phục vụ khách hàng, cung cấp
được nhiều tiện ích, nhiều sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế
thị trường.