Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN TUẤN CƢỜNG
HỘI NÔNG DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ
(GIAI ĐOẠN 1997 – 2007)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN TUẤN CƢỜNG
HỘI NÔNG DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ
(GIAI ĐOẠN 1997 – 2007) Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60. 22 . 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN: TS. NGUYỄN XUÂN MINH
Thái Nguyên, tháng 01 năm 2010
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
1.1- Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Thái Nguyên. 7
1.1.1- Điều kiện tự nhiên 7
1.1.2- Điều kiện xã hội: 12
1.2 - Sự hình thành và phát triển của Hội Nông dân Thái Nguyên qua các thời kì. 13
CHƢƠNG 2: HỘI NÔNG DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG THỜI KÌ CNH –
HĐH (1997 – 2007) 22
2.1. Một số vấn đề lí luận chung về CNH – HĐH 22
2.2. Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên trong thời kì CNH - HĐH 33
2.2.1. Củng cố, phát triển tổ chức Hội các cấp 33
2.2.2. Tuyên truyền, vận động hội viên áp dụng tiến bộ khoa học- kĩ thuật để phát
triển sản xuất. 35
2.2.3. Tham gia chương trình xóa đói giảm nghèo 43
2.2.4. Tham gia cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở
khu dân cư ”. 48
2.2.5. Tham gia các hoạt động xã hội, xây dựng nông thôn mới. 49
CHƢƠNG 3: VỊ TRÍ, VAI TRÒ HỘI NÔNG DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
TRONG SỰ NGHIỆP CNH - HĐH 52
3.1 Vị trí của Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên 52
3.2 Vai trò của Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên 53
3.2.1 Vai trò tổ chức, giáo dục, vận động hội viên nông dân trong tỉnh thực hiện
thắng lợi các mục tiêu kinh tế- xã hội. 53
3.2.2 Vai trò tổ chức, mở rộng các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân sản
xuất, nâng cao đời sống 55
3.2.3 Vai trò tổ chức, động viên nông dân xây dựng nông thôn mới 59
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
UBDSGĐ & TE
Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em
10
VAC
Vườn, ao, chuồng
11
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trải qua các thời kì,
Đảng ta đã nắm vững và giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân, củng cố được
liên minh công nông. Đảng ta đấu tranh chống những xu hướng “hữu
khuynh” và “tả khuynh” đánh giá thấp vai trò của nông dân là quân chủ lực
của cách mạng, là bạn đồng minh chủ yếu và tin cậy nhất của giai cấp công
nhân, là lực lượng cơ bản cùng với giai cấp công nhân xây dựng chủ nghĩa xã
hội” [78, tr.18].
Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã dành một
chương viết về tổ chức của nông dân, phân tích hết những nỗi tủi nhục, cực
khổ của giai cấp nông dân và Người đã vạch ra lối thoát: “Nếu dân cày Việt
Thái Nguyên có khoảng 76,08% số dân nông thôn [64, tr.25]. Hội
Nông dân tỉnh Thái Nguyên là một tổ chức chính trị - xã hội có số hội viên
khá đông. Trong thời kì CNH - HĐH, Hội có nhiều phong trào thi đua, nhiều
hoạt động phong phú, thiết thực, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương.
Việc nghiên cứu Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 10 năm
(1997 - 2007) góp phần làm rõ vai trò của nông dân Việt Nam nói chung và
nông dân tỉnh Thái Nguyên nói riêng trong sự nghiệp CNH - HĐH.
Việc nghiên cứu Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1997-2007
không chỉ có ý nghĩa khoa học, mà cả về thực tiễn.
Thông qua đề tài nghiên cứu này, chúng tôi rất mong muốn và hi vọng
góp phần cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho việc học tập giảng dạy, nghiên
cứu lịch sử địa phương.
Xuất phát từ những lí do đó, chúng tôi chọn vấn đề:
“Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên trong thời kì CNH - HĐH (giai đoạn
1997-2007)” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Sử học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề nông dân từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
với nhiều cách nhìn từ các góc độ khác nhau.
Cuốn “Hướng dẫn kế hoạch làm ăn cho hộ nông dân để xoá đói giảm
nghèo” (Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2000) của tác giả Lê Trọng đã trình bày về
tình trạng và nguyên nhân đói nghèo của Việt Nam; chương trình mục tiêu quốc
gia xoá đói giảm nghèo; lập kế hoạch làm ăn của hộ nông dân đói nghèo; hạch
toán giá thành đơn giản và phân tích kế hoạch làm ăn của hộ nông dân đói nghèo.
Trong cuốn “Những mô hình kinh tế hộ nông dân miền núi đi lên sản
xuất hàng hóa” (Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1996), tác giả Nguyễn Trần Trọng
nghiệp CNH - HĐH, giai đoạn 1997-2007.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu:
4.1 Nguồn tài liệu:
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng:
- Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh bàn về vấn
đề nông dân làm cơ sở lí luận nghiên cứu.
- Các văn kiện chủ yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Các chỉ thị của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.
- Các nghị quyết, báo cáo tổng kết của Trung ương Hội Nông dân
Việt Nam và Hội Nông dân của tỉnh được lưu trữ tại các Trung tâm
Lưu trữ Thái Nguyên.
- Các tài liệu tuyên truyền, đề cương các cuộc thi có liên quan đến nội
dung đề tài.
- Các sách, báo đã xuất bản; các kỉ yếu hội thảo đã được công bố.
4.2 Phương pháp nghiên cứu :
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch
sử kết hợp với phương pháp lôgíc là chủ yếu.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh, phương pháp điều tra điền dã cũng được sử dụng để hiểu sâu sắc hơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
vai trò của Hội Nông dân trong sự phát triển kinh tế của tỉnh Thái Nguyên
giai đoạn 1997 - 2007.
5. Đóng góp của Luận văn
- Đây là công trình đầu tiên trình bày một cách hệ thống bộ máy tổ
chức và hoạt động của Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên trong thời kì CNH -
HĐH (giai đoạn 1997 - 2007).
- Tập hợp và hệ thống các nguồn tư liệu về Hội Nông dân của tỉnh
văn hoá ở khu dân cư”.
2.2.5. Tham gia các hoạt động xã hội, xây dựng nông thôn mới.
Chƣơng 3: Vị trí, vai trò Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên trong sự
nghiệp CNH - HĐH
3.1 Vị trí của Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên.
3.2 Vai trò của Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
CHƢƠNG 1
HỘI NÔNG DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN TRƢỚC NĂM 1997
1.1- Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Thái Nguyên.
1.1.1- Điều kiện tự nhiên
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong hệ toạ độ địa lí từ
21
0
19
’
đến 22
0
03
’
vĩ Bắc. Từ 105
0
29
’
đến 106
0
8
Ngày 11/4/1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh
Bắc Kạn trên cơ sở toàn bộ phủ Thông Hoá của Thái Nguyên. Để mở rộng địa
giới tỉnh Bắc Kạn, ngày 25/6/1901, Pháp cắt tổng Yên Đĩnh khỏi huyện Phú
Lương, phủ Tòng Hoá (Thái Nguyên), sáp nhập về châu Bạch Thông (Bắc
Kạn). Năm 1913, Pháp cắt tiếp tổng Nghĩa Tá khỏi châu Định Hoá nhập về
huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn) và cắt hai xã Phúc Lâm, Tự Lập khỏi tổng Định
Biên Thượng, châu Định Hoá (Thái Nguyên) sáp nhập về huyện Sơn Dương
(Tuyên Quang).
Thực hiện Nghị quyết ngày 21/4/1965 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, từ ngày 1/7/1965, tỉnh Thái Nguyên hợp
nhất với tỉnh Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, gồm 13 đơn vị hành chính trực
thuộc. Ngày 29/12/1978, Quốc hội khoá VI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ra nghị quyết tách 2 huyện Ngân Sơn và Chợ Rã sáp nhập vào tỉnh
Cao Bằng, tên huyện Chợ Rã được đổi thành huyện Ba Bể. Bắc Thái còn 11
đơn vị hành chính trực thuộc với diện tích 6.500 km
2
.
Ngày 6/11/1996, tại kì họp thứ 10, Quốc hội khoá IX đã phê chuẩn việc
chia lại địa giới hành chính của một số tỉnh. Tỉnh Bắc Thái được tách thành 2
tỉnh: Thái Nguyên và Bắc Kạn, có địa giới như trước khi hợp nhất (7/1965) và
hoạt động theo đơn vị hành chính mới kể từ ngày 1/1/1997.
Ngay sau khi có nghị quyết của Quốc hội, Tỉnh uỷ Bắc Thái đã kịp thời
đề ra chủ trương lãnh đạo việc thực hiện chia tách tỉnh. Ngày 20/11/1996 Ban
Chấp hành Đảng bộ tỉnh họp để quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị, Nghị
quyết kì họp thứ 10 của Quốc hội khoá IX và chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ về việc chia tách tỉnh. Hội nghị nêu rõ phải làm tốt công tác tư tưởng để
cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh nhận thức rõ yêu cầu
khách quan những lợi ích lâu dài cũng như các khó khăn ban đầu của việc
chia tách tỉnh. Trong quá trình chia tách tỉnh, phải bảo đảm các mặt kinh tế,
phân bố dọc theo các con suối, rải rác, không tập trung, chịu sự tác động lớn
của chế độ thủy văn khắc nghiệt (lũ đột ngột, hạn hán ) khó khăn cho việc
canh tác.
- Đất chưa sử dụng hiện còn 15% diện tích tự nhiên, phần lớn trong số
này có khả năng sử dụng cho lâm nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Trong tổng quỹ đất 354.655,25 ha [64, tr.15], đất sử dụng cho nông
nghiệp là 265.386,65 ha,[64, tr.15](chiếm 74,83 % ). Trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 93.681,62 ha (chiếm 26,41%)
- Đất lâm nghiệp có rừng: 165.106,51 ha (chiếm 46,56%)
- Đất nuôi trồng thuỷ sản: 3.606,77 ha (1,02%)
- Đất nông nghiệp khác: 2.991,75 ha (0,84%)
- Đất phi nông nghiệp: 39.781,01 ha (11,22%)
- Đất chưa sử dụng: 49.487,59 ha (13,95%) [64, tr.15]
Tỉnh Thái Nguyên có nhiều sông, suối quanh năm có nước, như sông
Cầu, sông Công , rất thuận lợi cho việc canh tác trên các đồng ruộng phân
tán và đảm bảo cho đời sống sinh hoạt cho nhân dân trong tỉnh.
Sông Cầu là dòng chảy chính của sông Thái Bình, bắt nguồn từ huyện
Chợ Đồn (Bắc Kạn) ở độ cao trên 1.200m. Sông Cầu chảy qua thị xã Bắc
Kạn, thành phố Thái Nguyên, thị xã Bắc Ninh, thị trấn Phả Lại rồi chảy ra cửa
biển Thái Bình thuộc tỉnh Thái Bình.
Sông Cầu có lưu lượng nước lớn trung bình nhiều năm là 135m
3
/s. Chế
độ nước sông Cầu phù hợp với chế độ mưa, mùa lũ chiếm 75% lượng nước,
mùa khô chỉ chiếm dưới 25% lượng nước cả năm.
Dưới thời thuộc Pháp, sông Cầu là tuyến giao thông chủ yếu và quan
du, miền núi khác. Đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông,
lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:
Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai.
Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía Nam
huyện Võ Nhai.
Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ,
Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công.
Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: trên 34°C) với
tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là trên 18,8°C. Tổng số giờ nắng trong năm
dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng
trong năm.
Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hằng năm
khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành
nông, lâm nghiệp.
1.1.2- Điều kiện xã hội:
Tỉnh Thái Nguyên gồm nhiều thành phần dân tộc định cư lâu đời, có bề
dày truyền thống yêu nước, đoàn kết, thuỷ chung.
Tỉnh Thái Nguyên gồm có 8 đơn vị hành chính trực thuộc (thành phố
Thái Nguyên, thị xã Sông Công và các huyện: Phú Bình, Phổ Yên, Đại Từ,
Định Hoá, Phú Lương và Võ Nhai), với 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao
và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du.
Dân số tỉnh Thái Nguyên ở thời điểm mới tách tỉnh năm 1997 là
1.034.112 người, sang đến năm 2007 dân số là 1.137.671 người, trong đó có
(Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Mông, Sán Chay, Hoa và Dao).
Dân cư phân bố không đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt,
trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại dày đặc. Năm 2007, mật độ
trung bình toàn tỉnh là 321 người/km
2
, nơi có mật độ dân số thấp nhất là
huyện Võ Nhai 76 người/km ², cao nhất là thành phố Thái Nguyên với mật độ
1.378 người/km ² [64, tr.24].
1.2 - Sự hình thành và phát triển của Hội Nông dân Thái Nguyên qua các
thời kì.
Trong sự phát triển của xã hội nước ta, lực lượng lao động đông đảo
nhất là giai cấp nông dân. Tầm quan trọng của lực lượng đông đảo này đã
được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rất nhiều lần. Trong thư gửi cho nông
gia Việt Nam đề ngày 11 tháng 4 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết :
… “ Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh
nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong
vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì
nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh ”, [74,tr.43].
Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 của Đảng ta đã khẳng định :
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
“ …Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp và nông dân là
hai lực lượng chính” “Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương
(hơn 90%), họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền”,
“ Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp
có đứng đầu và cùng với quần chúng dân cày mà tranh đấu để bênh vực
quyền lợi hằng ngày cho dân cày và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt
để thì mới có thể giành quyền lãnh đạo dân cày được ”, [ 68, tr.19]
Tháng 3 năm 1937, Trung ương Đảng họp và đề ra đường lối chính trị
và phương pháp tổ chức mới, tên các tổ chức đều được thay đổi cho phù hợp
với tình hình mới, quyết định lấy tên Nông hội thay cho Nông hội đỏ. Nông
dân có tổ chức chính là Nông hội, có thể tổ chức nhiều hội: hội tương tế, hợp
tác xã, v.v… Chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng đã giúp cho nông hội
khắp nơi trong cả nước phát huy vai trò của mình trong việc tập hợp, lãnh đạo
nông dân hợp lực với công nhân và nhân dân lao động đấu tranh đòi quyền
dân sinh, dân chủ.
Hình thức tổ chức của Nông hội rất đa dạng : hội cấy, hội gặt, hội hiếu
hỉ, hội góp họ, phường đi săn … đã thu hút đông đảo nông dân đấu tranh
giành quyền lợi của giai cấp mình.
Trong khoảng thời gian từ năm 1937, tổ chức Hội Nông dân phản đế
bắt đầu xuất hiện ở tỉnh Thái Nguyên. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng và
của những đảng viên cộng sản ở Võ Nhai, Đại Từ, Định Hoá và do ảnh hưởng
của phong trào nông dân ở các tỉnh bạn dội vào từ năm 1937,1938,1939,
những cuộc đấu tranh của nhân dân tỉnh rất phong phú, linh hoạt như đòi
kiểm soát và quyết định thu chi trong xã, bầu cử lí trưởng (Phổ Yên, Phú
Bình), chống bắt phu làm đường vào ngày mùa, phải trả phụ cấp cho dân phu
đúng quy định, không được đánh đập dân phu (Võ Nhai).
Nhiều cuộc đấu tranh của nông dân đã làm cho kẻ địch bị động, lúng
túng, phải chấp nhận giải quyết một số yêu sách cho nông dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Đặc biệt, sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (họp từ ngày 10 đến ngày
19/5/1941), Mặt trận Việt Minh ra đời và công bố chương trình cứu nước,
trong đó có điểm nói rõ: Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập;
Làm cho nhân dân Việt Nam được sung sướng, tự do.
Điều này đã đáp ứng lòng mong ước nhiều đời của hàng triệu nhân dân
người bị dồn vào các trại tập trung ở Chợ Chu (Định Hoá), La Hiên, Đình Cả,
Tràng Xá (Võ Nhai).
Các đợt khủng bố của địch đã gây cho ta rất nhiều khó khăn và tổn thất.
Tuy vậy, với tinh thần vượt gian nan nguy hiểm để bảo vệ Đảng, giữ vững
phong trào, Hội Nông dân Cứu quốc cùng với các đoàn thể Cứu quốc khác
vận động nhân dân tìm mọi cách che giấu, nuôi dưỡng cán bộ.
Các hội viên Nông dân Cứu quốc hăng hái tham gia vào các đội tự vệ
chiến đấu, đẩy mạnh hoạt động diệt ác, hộ lương, làm cho bọn tay sai không dám
dẫn đường chỉ điểm cho quân Pháp lùng sục, truy lùng cán bộ cách mạng.
Một số nơi (Định Hoá, Võ Nhai) Cứu quốc quân phối hợp với nhân dân
và các lực lượng tự vệ chặn đánh quân địch khi chúng hành quân qua.
Từ ngày thành lập Khu giải phóng (4/6/1945), Hội Nông dân Cứu quốc
cùng với các đoàn thể thanh niên, phụ nữ đã tích cực vận động mọi tầng lớp
nhân dân Thái Nguyên bước đầu thực hiện quyền dân chủ. Nông dân hăng hái
đẩy mạnh sản xuất, học văn hoá.
Theo chỉ thị của Trung ương Đảng, của Tổng bộ Việt Minh và Uỷ ban
lâm thời Khu giải phóng, tại Thái Nguyên (từ trung tuần tháng 8 năm 1945)
khí thế cách mạng sôi sục. Các hội viên Hội Nông dân Cứu quốc là những
người đi tiên phong đem hết tâm sức mình ủng hộ Quân giải phóng.
Hội Nông dân cứu quốc xã Dân Chủ và Đồng Bẩm thuộc huyện Đồng
Hỷ đã vận động hàng trăm nông dân tá điền thuộc đồn điền Nguyễn Thị Năm,
sớm ngày 19/8/1945 với đội ngũ chặt chẽ có lực lượng tự vệ bảo vệ đã vượt
trạm gác của Nhật ở cầu Gia Bảy kéo vào thị xã tuần hành thị uy.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
Ngày 20/8/1945, tá điền ở Gia Sàng, Đồng Quang cùng tự vệ nổi dậy
đánh chiếm đồn điền Gia Sàng và Képle, sau đó kéo vào thị xã tấn công quân
Nhật ở nhiều vị trí.
Việt Bắc, tất cả Hội viên Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc là nông dân
đều phải tham gia Hội Nông dân Cứu quốc.
Từ năm 1952 trở đi, hoạt động của Hội Nông dân Cứu quốc Thái
Nguyên đi dần vào nền nếp. Tỉnh Hội đã phát động thi đua xây dựng Hội
vững mạnh theo 6 nội dung:
- Một là, sinh hoạt đều.
- Hai là, các hội viên và tổ trưởng thực hiện tốt chỉ thị, nghị quyết
của cấp trên.
- Ba là, các hội viên thực hiện giúp đỡ nhau.
- Bốn là, các hội viên gương mẫu tăng gia sản xuất.
- Năm là, thực hiện cải thiện dân sinh, vệ sinh nhà cửa.
- Sáu là, gương mẫu giảm bớt chi tiêu trong đám ma, đám cưới.
Cũng trong năm 1952, Hội Nông dân Cứu quốc tỉnh đã đưa ra sáng
kiến tổ chức Tuần lễ liên minh Công - Nông - Binh. Đây là cuộc vận động
chính trị trong công nhân, nông dân và quân đội tại tỉnh Thái Nguyên xây
dựng và củng cố tình quân - dân, thúc đẩy công cuộc kháng chiến.
Sang tháng 7/1954, hoà bình được lập lại, nông dân Thái Nguyên cùng
đồng bào miền Bắc bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế quốc dân, đẩy
mạnh sản xuất.
Vào đầu những năm 60 của thế kỉ XX, khi phong trào hợp tác hoá nông
nghiệp phát triển sâu rộng trên toàn miền Bắc, hợp tác xã nông nghiệp được
xem như 1 tổ chức chính trị, xã hội. Hợp tác xã không chỉ chỉ huy, phụ trách
sản xuất mà còn phụ trách cả mọi hoạt động sinh hoạt khác của xã viên hợp tác
xã. Điều này đã dẫn tới bệnh quan liêu của một số cán bộ lãnh đạo hợp tác xã;
xem nhẹ quyền lợi của nông dân. Ngay sau đó Nông hội, một tổ chức chính trị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20
xã hội của giai cấp nông dân đã bị giải thể. Thay vào đó là Ban Công tác nông
đến năm 1984, Hội Liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh Bắc Thái đã có 207 Hội
cơ sở, với 41 vạn hội viên sinh hoạt trong 1600 tổ.
Ngày 9/5/1984, Đại hội đại biểu lần thứ nhất Hội Liên hiệp Nông dân
tập thể tỉnh Bắc Thái đã họp, đánh giá kết quả hoạt động của Hội và phong
trào nông dân từ năm 1979. Từ sau Đại hội lần I, hoạt động của Hội Nông dân
tập thể tỉnh được đẩy mạnh; cơ sở của Hội được mở rộng hơn trước. Tính đến
Đại hội lần thứ II (9/1987), cơ sở của Hội đã có ở 244 xã, gồm 3.239 tổ hội.
Năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 “Về đổi mới cơ chế quản lí
trong nông nghiệp”, đồng thời Ban Bí thư Trung ương ra quyết định đổi tên
Hội Liên hiệp Nông dân tập thể thành Hội Nông dân Việt Nam.
Ngày 22/8/1992, Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh Bắc Thái họp lần
thứ III, đánh giá việc thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh
Bắc Thái lần thứ II. Trên cơ sở đánh giá một cách nghiêm túc những kết quả
đã đạt và những mặt hạn chế, yếu kém trong nhiệm kì 1987 - 1992, Đại hội đã
bàn thông qua Chương trình hành động của Hội trong nhiệm kì 1992 - 1997.
Ngày 6/11/1996, tại kì họp thứ 10, Quốc hội khoá IX đã quyết định
tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Từ ngày
1/1/1997, cùng với tỉnh Thái Nguyên, Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên chính
thức được lập lại và đi vào hoạt động.
Tóm lại: Với gần 90% dân số trong tỉnh, lại có truyền thống đoàn kết,
yêu nước và cách mạng, nông dân Thái Nguyên sớm thành lập được tổ chức
riêng của mình. Ra đời từ trong phong trào vận động dân chủ 1936-1939, trải
qua các chặng đường đấu tranh cách mạng, Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên
đã từng bước phát triển. Mặc dù có thời gian không còn tồn tại, nhưng từ sau
khi có chỉ thị 78 (ngày 27/9/1979) của Ban Bí thư Trung ương, tổ chức Hội
Nông dân tỉnh được củng cố trở lại.
Hoạt động của Hội Nông dân trong thời gian này đã tạo điều kiện thuận
lợi cho Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên khi bước vào thời kì CNH - HĐH.