BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Văn Đông PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG
NGHIỆP – NÔNG THÔN TỈNH BẾN
TRE TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP
HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRỊNH DUY OÁNH
3
7T1.2.2.2. Các mối quan hệ ràng buộc7T 21
7T1.2.3. Một số lí luận về phát triển nông thôn toàn diện7T 25
7T1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn7T 28
7T1.3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế7T 28
7T1.3.1.1. Cơ cấu7T 28
7T1.3.1.2. Cơ cấu kinh tế7T 28
7T1.3.1.3. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn7T 28
7T1.3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn7T 32
7T1.3.3. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với tăng trưởng và
phát triển bền vững7T 33
7T1.3.3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với tăng trưởng7T 33
7T1.3.3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế với phát triển bền vững7T 34
7T1.4. Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững nông nghiệp – nông thôn7T 36
7T1.4.1. Nhóm các nhân tố kinh tế7T 36
7T1.4.2. Nhóm các nhân tố phi kinh tế7T 41
7T1.5. Nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững7T 42
7T1.5.1. Tăng năng suất nông nghiệp một cách bền vững và ổn định7T 42
7T1.5.2. Phân phối công bằng sản phẩm và tài nguyên nông nghiệp7T 42
7T1.5.3. Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên7T 43
7T1.5.4. Làm tăng sự công bằng giữa các thế hệ và hoàn thiện chất lượng cuộc sống7T . 43
7T1.5.5. Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững trong “chương trình Nghị sự 21
của Việt Nam” đã định hướng các nội dung như sau:7T 43
7T1.6. Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh PTBV NN-NT7T 44
7T1.6.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh phát triển NN-NT7T 44
7T1.6.1.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng NN-NT7T 44
4
7T1.6.1.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh CDCCKT nông nghiệp7T 45
7T2.2.1. Tình hình kinh tế7T 68
7T2.2.1.1. Tăng trưởng kinh tế7T 68
7T2.2.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế7T 69
7T2.2.2. Đặc điểm xã hội7T 69
7T2.2.2.1. Dân cư và nguồn lao động7T 69
7T2.2.2.2. Giáo dục, y tế, văn hoá7T 71
7T2.3. Thực trạng PTBV NN-NT tỉnh Bến Tre thời kì CNH-HĐH7T 72
7T2.3.1. Tăng trưởng kinh tế NN-NT7T 72
7T2.3.2. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn7T 73
7T2.3.2.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp7T 73
7T2.3.3. Một số hình thức tổ chức sản xuất NN-NT7T 89
7T2.3.3.1. Trang trại7T 89
7T2.3.3.2. Hợp tác xã nông nghiệp7T 91
7T2.3.3.3. Tổ hợp tác7T 92
7T2.4. Tình hình phát triển nông thôn7T 92
7T2.4.1. Cơ cấu ngành nghề của hộ, lao động nông thôn7T 92
7T2.4.1.1. Cơ cấu ngành nghề của hộ7T 92
7T2.4.1.2. Lao động nông thôn7T 94
7T2.4.2. Kết cấu hạ tầng nông thô7T 94
7T2.4.2.2. Tỷ lệ sử dụng điện nông dân7T 95
7T2.4.2.3. Mạng lưới chợ7T 95
7T2.4.2.4. Hệ thống thuỷ lợi7T 95
6
7T2.4.2.5. Hệ thống trường học nông thôn7T 96
7T2.4.2.6. Hệ thống y tế nông thôn7T 96
7T2.4.2.7. Mạng lưới bưu điện, thông tin, văn hoá7T 97
7T2.4.2.8. Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn7T 97
7T2.4.2.9. Hệ thống khuyến nông7T 97
7T2.4.3. Đội ngũ cán bộ chủ chốt của xã7T 97
7T3.2.2.3. Định hướng phát triển bền vững ngành thuỷ sản7T 123
7T3.2.3. Định hướng phát triển CN-TTCN nông thôn7T 124
7T3.2.4. Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn7T 127
7T3.3. Một số giải pháp chủ yếu để PTBV NN-NT tỉnh Bến Tre7T 130
7T3.3.1. Giải pháp phát triển chung7T 130
7T3.3.2. Giải pháp phát triển bền vững ngành nông – lâm – ngư nghiệp7T 139
7TKẾT LUẬN7T 157
7TTÀI LIỆU THAM KHẢO7T 159
7TPHỤ LỤC7T 162 8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay PTBV đang là vấn đề được quan tâm của các quốc gia trên thế giới.
Trong đó, PTBV nông nghiệp – nông thôn cũng là một trong những vấn đề đang
được quan tâm hàng đầu, đặc biệt là đối với các nước nông nghiệp trong đó có Việt
Nam. Là nước có kinh tế chủ yếu nông nghiệp, dân sống chủ yếu ở nông thôn, vì
thế việc phát triển bền vững NN-NT Việt Nam rất được sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước.
Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát
triển NN-NT. Trong những năm qua, nông nghiệp tỉnh phát triển nhanh và khá toàn
diện theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Kinh tế thuỷ sản, kinh tế vườn chuyển biến tốt, phát huy được vai trò mũi nhọn.
Chăn nuôi phát triển cân đối; đã hình thành các vùng sản xuất tập trung, phù hợp
với điều kiện từng vùng. Kinh tế nông thôn tiếp tục chuyển dịch theo hướng công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; các ngành nghề truyền thống được củng cố,
phát triển; các hình thức tổ chức, hợp tác sản xuất theo hướng CNH-HĐH không
ngừng tăng lên. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư, nâng cấp, bộ
mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi. Văn hoá – xã hội có nhiều tiến bộ, chất lượng
luận văn được giới hạn: (i) nghiên cứu sâu những vấn đề liên quan đến phát triển
nông nghiệp theo ngành; chỉ đề cập mà không nghiên cứu sâu các khía cạnh có liên
quan đến PTBV nông nghiệp theo thành phần và theo vùng lãnh thổ; (ii) nông thôn
là địa bàn hoạt động chủ yếu của sản xuất nông nghiệp, sự phát triển của nông
nghiệp kéo theo sự phát triển nông thôn và ngược lại. Tuy nhiên, quá trình nghiên
cứu tình hình nông thôn gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn tư liệu. Vì vậy về tình
hình phát triển nông thôn chỉ tập trung vào một số vấn đề như cơ cấu ngành nghề
của hộ, lao động nông thôn, kết cấu hạ tầng nông thôn,…
10
Về không gian: là phạm vi lãnh thổ tỉnh Bến Tre bao gồm 9 đơn vị hành chính:
Thành phố Bến Tre, các huyện Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc,
Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú với tổng diện tích tự nhiên là 2360,6
km
P
2
P.
Về thời gian: phần thực trạng được đề cập từ năm 2000 – 2010 (riêng phần tình
hình phát triển nông thôn chỉ đề cập từ năm 2001 – 2006, do chưa có số liệu điều tra
mới); phần mục tiêu, định hướng phát triển bền vững NN-NT tỉnh đến năm 2020.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có nhiều công trình nghiên cứu phát triển NN-NT nói chung và phát triển bền
vững nông nghiệp – nông thôn nói riêng như: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp – nông thôn theo hướng CNH-HĐH ở tỉnh Vĩnh Long” [Bùi Văn Sáu,
2002], “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành TP.
Hồ Chí Minh” [TS. Trương Thị Minh Sâm (chủ biên), năm 2001], “Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế NN-NT tỉnh Bình Dương trong thời kì CNH-HĐH” [Nguyễn Thị Ngọc
Anh, năm 2008], “Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững NN-NT tỉnh Phú
Yên trong thời kì CNH-HĐH” [Trần Thị Thanh Thu, năm 2008],…
Nhìn chung, cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu và đánh giá
tìm ra những giải pháp tối ưu, hài hoà, trong việc hoạch định phát triển NN-NT tỉnh.
5.1.4. Quan điểm kinh tế và phát triển bền vững
Quan điểm kinh tế thể hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế cụ thể như tốc độ
tăng trưởng, hiệu quả kinh tế,… Quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm
bảo sự phát triển bền vững về cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
12
Các tài liệu trong luận văn này được thu thập chủ yếu từ Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở
Khoa học và Công nghệ, Cục Thống kê, sách, báo,…
5.2.2. Phương pháp phân tích hệ thống
Dùng phương pháp này để phân tích, đánh giá về mặt không gian và thời
gian, tìm ra các mối liên hệ giữa các yếu tố để nhìn nhận chính xác hơn về đối
tượng nghiên cứu.
5.2.3. Phương pháp dự báo
Giúp ta đưa ra định hướng, xác định mục tiêu phát triển bền vững NN-NT
tỉnh trong thời kì CNH – HĐH.
5.2.4. Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Nhằm thể hiện cô đọng, súc tích, trực quan các đối tượng nghiên cứu về NN-
NT tỉnh.
5.2.5. Phương pháp khảo sát thực địa
Giúp ta đánh giá, xác định lại một cách đầy đủ, chính xác tài liệu đã có.
Nhằm tránh những kết luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tế.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần làm phong phú hơn các đề tài nghiên cứu về NN-NT tỉnh Bến Tre.
- Bổ sung và hoàn thiện kĩ năng nghiên cứu khoa học của bản thân.
- Đóng góp vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp – nông thôn của tỉnh.
7. Bố cục của đề tài
trường,…). Các quy luật sinh học và quy luật tự nhiên tồn tại độc lập với ý muốn
chủ quan của con người. Vì vậy, nhận thức và tác động phù hợp với quy luật sinh
14
học và quy luật tự nhiên là yêu cầu quan trọng nhất của bất cứ một quá trình sản
xuất nông nghiệp nào.
Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ là đặc điểm điển hình, nhất là đối với trồng
trọt. Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi tương đối dài,
không giống nhau và thông qua hàng loạt các giai đoạn kế tiếp nhau. Thời gian sản
xuất bao giờ cũng dài hơn thời gian lao động cần thiết để rạo ra sản phẩm: cây trồng
hay vật nuôi. Sự không phù hợp nói trên là nguyên nhân sinh ra tính thời vụ. Để
khắc phục tình trạng này, cần phải xây dựng cơ cấu nông nghiệp hợp lí, đa dạng hoá
sản xuất (tăng vụ, xen canh, gối vụ), phát triển ngành nghề dịch vụ.
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là vào đất đai và
khí hậu. Đặc điểm này bắt nguồn từ chỗ đối tượng lao động của nông nghiệp là cây
trồng và vật nuôi. Chúng chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có đủ 5 yếu tố cơ bản
của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và chất dinh dưỡng, trong đó
yếu tố này không thể thay thế yếu tố kia. Các yếu tố này kết hợp chặt chẽ với nhau
và cùng tác động trong một thể thống nhất.
Trong nền kinh tế hiện đại, nông nghiệp trở thành ngành sản xuất hàng hoá.
Biểu hiện cụ thể là việc hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hoá nông
nghiệp và đẩy mạnh chế biến nông sản để nâng cao giá trị thương phẩm.
Do những đặc điểm trên, sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên không gian
rộng lớn, liên quan tới khí hậu, thời tiết, đất đai của từng vùng cụ thể. Trong cơ chế
thị trường, việc bố trí sản xuất nông nghiệp sao cho phù hợp với từng vùng sinh thái
sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Để nâng cao hiệu quả kinh tế, cần
xem xét, vận dụng các đặc điểm trên của sản xuất nông nghiệp một cách linh hoạt.
1.1.1.3. Khái niệm nông thôn
Nông thôn là khu vực lãnh thổ bao gồm một không gian rộng lớn của đất nước
hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, ở đó một cộng đồng dân cư
độ phát triển về các mặt đều thấp hẳn so với thành thị. Ngược lại, nông thôn hiện
16
đại là một dạng của thành thị, sự phân biệt giữa thành thị và nông thôn đang mất
dần, trong nông thôn có các thành phố và thị trấn văn minh, sự khác nhau giữa
thành thị và nông thôn là ưu việt hơn cho nông thôn chứ không phải cho thành thị.
+ Nông thôn hiện đại là địa bàn để giữ gìn và tô điểm môi trường sinh thái của
loài người, chứa đựng “lá phổi và trái tim” của sự sống trên Trái Đất.
+ Nông thôn hiện đại là không gian rộng lớn, tại đó con người được sống gắn
bó, hài hoà với thiên nhiên, cây cỏ, chim muông, sông suối, đất trời, không ngột
ngạt trong những thành phố đầy nhà chọc trời, bê tông, kính và sắt thép.
+ Nông thôn hiện đại là nơi nghỉ ngơi lành mạnh, là nguồn giải trí phong phú,
là vùng du lịch sinh thái đa dạng, yên tĩnh, thanh bình,…
Như vậy, theo quan điểm này thì vai trò của NN-NT sẽ được mở rộng và nâng
cao nhiều so với trước.
1.2. Phát triển bền vững nông nghiệp – nông thôn
1.2.1. Tăng trưởng, phát triển và phát triển bền vững
1.2.1.1. Tăng trưởng, phát triển
Tăng trưởng là sự gia tăng thu nhập quốc dân và sản lượng quốc dân tính theo
đầu người. Nếu như sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong một quốc gia tăng lên, nó
được coi là tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng cũng được áp dụng để đánh giá cụ thể
đối với từng ngành sản xuất, từng vùng của một quốc gia.
Phát triển bao hàm ý nghĩa rộng hơn, bên cạnh sự tăng thu nhập bình quân đầu
người, phát triển còn bao gồm nhiều khía cạnh khác. Sự tăng trưởng cộng thêm các
thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do
ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hoá, sự tham gia của các dân tộc của một quốc
gia trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên là nội dung của sự phát triển. Phát
triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện
giáo dục, sức khoẻ và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân. Phát triển
“PTBV là một loại hình phát triển mới, lồng ghép các quá trình sản xuất với bảo
tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. PTBV cần phải đáp ứng nhu cầu
của thế hệ hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng của chúng đáp ứng nhu
cầu của thế hệ tương lai”.
Như vậy, có 3 mục tiêu cơ bản về PTBV mà các nước hiện đang theo đuổi là:
- Đảm bảo phát triển nhanh và duy trì tốc độ ấy trong thời gian dài và mãi mãi.
- Phát triển sản xuất phải đi đôi với việc sử dụng hợp lí TNTN và bảo vệ môi
trường. Nói cách khác là môi trường sinh thái phải được bảo vệ một cách tốt nhất.
- Đời sống xã hội được đảm bảo hài hoà công bằng.
Qua đó có thể nói: điều then chốt của PTBV không phải là sản xuất ít đi mà phải
sản xuất khác đi, phát triển sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi
trường và phải chú trọng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, đảm bảo sự bình đẳng
công bằng giữa các thế hệ.
Sự “bình đẳng giữa các thế hệ” là sự cân bằng lợi ích của các nhóm người trong
cùng một thế hệ và giữa các thế hệ. Sự bình đẳng giữa các thế hệ sẽ không thể đạt
được nếu thiếu sự công bằng trong xã hội hiện tại, nếu các hoạt động kinh tế của
một số nhóm người tiếp tục gây tổn hại tới cuộc sống của những nhóm người khác
hoặc sống tại những nơi khác. Các thế hệ khác nhau càng cần phải được công bằng
vì rằng các thế hệ tương lai không thể có tiếng nói bảo vệ chính mình. Các thế hệ
hiện tại sử dụng tài nguyên cho sản xuất không thể để cho các thế hệ mai sau phải
gánh lấy tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và nghèo đói, mà thế hệ trước phải
có trách nhiệm với thế hệ sau trong việc để lại các di sản và tài nguyên có giá trị.
Cần phải để cho các thế hệ tương lai được thừa hưởng các thành quả lao động của
thế hệ hiện tại dưới dạng kĩ thuật, kiến thức và các nguồn lực khác ngày càng được
tăng cường.
PTBV phải đảm bảo được tính toàn diện của các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi
trường. 19
ừa phát triển kinh
tế vừa phát triển văn
hoá xã hội
Các mục tiêu
kinh tế
Phát triển bền vững như
là khối cộng đồng của các
giá trị kinh tế - văn hoá –
môi trường
Bảo vệ với
bình đẳng
Liên kết
kinh tế - môi
trường
Các mục tiêu môi trường
20
- Trong những năm đầu của thập niên 80, Douglass G.K phân loại thành ba
nhóm định khác nhau:
+ Nhóm thứ 1: nông nghiệp bền vững được nhấn mạnh chủ yếu vào khía
cạnh kinh tế - kĩ thuật. Năng suất lao động tăng và duy trì trong thời gian dài là
bằng chứng cho sự tăng trưởng của nông nghiệp theo con đường bền vững.
+ Nhóm thứ 2: nông nghiệp bền vững được nhấn mạnh chủ yếu ở khía cạnh
sinh thái. Một hệ thống nông nghiệp mà làm suy yếu, ô nhiễm, phá vỡ cân bằng
sinh thái tự nhiên thì hệ thống đó không bền vững.
+ Nhóm thứ 3: nông nghiệp bền vững được nhấn mạnh vào khía cạnh môi
trường con người. Một hệ thống nông nghiệp không cải thiện được trình độ giáo
dục, sức khoẻ, dinh dưỡng cho nông dân thì hệ thống đó không bền vững.
- Vào giữa thập niên 80, Uỷ ban Phát triển và Môi trường thế giới (1987), đã
đưa ra định nghĩa như sau: phát triển bền vững là phát triển mà đáp ứng được những
triển nông nghiệp bền vững, những mối quan hệ ràng buộc này cần được xem xét.
1.2.2.2. Các mối quan hệ ràng buộc
1.2.2.2.1. Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường tự nhiên
Theo Haen (1991), tất cả các dạng hình thức của sản xuất nông nghiệp đều liên
quan đến sự biến đổi của hệ thống sinh thái. Mong muốn rằng nông nghiệp nên tiến
hành sản xuất như tình trạng nguyên thuỷ của tự nhiên là không thực tế. Sự thách
thức ở đây là, sự can thiệp vào tự nhiên theo cách nào đó để thực hiện một công
bằng có thể chấp nhận được giữa lợi ích mang lại từ việc sử dụng, khai thác các
nguồn tự nhiên cho sản xuất với lợi ích từ việc giữ gìn chức năng sinh thái của nó.
Nhấn mạnh vào khía cạnh cân bằng sinh thái là phản ánh mong muốn của xã hội đối
với việc giữ gìn môi trường tự nhiên, đồng thời nó cũng là lợi ích dài hạn của sản
xuất nông nghiệp vì sản xuất lệ thuộc vào độ màu mỡ của đất, chất lượng của nguồn
nước, khí hậu. Nhiều nước phát triển trên thế giới đã và đang định hướng lại sản
xuất nông nghiệp hướng tới một sự nhấn mạnh hơn về sinh thái. Chắc chắn rằng
không phải vì nhu cầu nông sản giảm, mà vì thực tiễn của sản xuất nông nghiệp
22
hiện đại đã dẫn tới sự phá hỏng sinh thái, huỷ diệt nhiều sinh vật, suy thoái hệ thống
đất – nước, thay đổi về khí hậu.
Theo dự báo của FAO, trong những thập niên tới, 80% tổng sản lượng nông
sản sẽ được xuất hiện trên diện tích được tưới tiêu chủ động. Do đó, vấn đề cốt lõi
của sự mất cân bằng sinh thái không phải là do tốc độ phát triển nông nghiệp hoặc
tăng trưởng nông nghiệp mà do phương thức để thực hiện sự tăng trưởng.
1.2.2.2.2. Tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói nông thôn
Rao C.H.H và Chopra K. (1991) đề cập đến mối quan hệ giữa tăng trưởng
nông nghiệp – suy thoái môi trường – nghèo đói nông thôn như sau:
Trong quá trình tăng trưởng nông nghiệp, hai phương thức chủ yếu được thực
hiện là quảng canh: tăng sản lượng chủ yếu do mở rộng diện tích, và thâm canh:
tăng năng suất trên một đơn vị diện tích bằng cách tăng cường sử dụng các yếu tố
đầu vào do ngành công nghiệp hoá chất cung cấp. Đối với phương thức quảng canh,
cao, chi phí cơ hội của lao động sẽ thấp. Họ sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng
hàng hoá với nguyên liệu chính từ tự nhiên (gỗ, da thú,…) của bộ phận dân cư có
thu nhập cao bằng cách khai thác nguồn tự nhiên để kiếm thêm thu nhập (phá rừng,
săn bắn, đánh bắt mọi loài sinh vật với bất kể kích thước). Hệ quả là môi trường tự
nhiên tiếp tục suy thoái lần nữa, thu nhập của họ tiếp tục giảm và rơi vào cái vòng
lẩn quẩn của nghèo đói. Như vậy, một hệ thống nông nghiệp mà không đảm bảo
được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho người dân nông thôn thì không thể
nào là một hệ thống nông nghiệp bền vững được. Do đó, nông nghiệp bền vững có
thể đánh giá bởi một số chỉ tiêu liên quan đến xu hướng việc làm và tình trạng
nghèo đói ở vùng NT: tỉ lệ hộ nghèo đói, tỉ lệ lao động thất nghiệp ở nông thôn.
1.2.2.2.3. Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường ở nông thôn
Theo Braun J.V (1991), quan tâm đến sự cân bằng của môi trường tự nhiên vẫn
chưa đủ, mà còn phải quan tâm đến môi trường mà trong đó người dân nông thôn
sinh sống, đó là: những điều kiện về nơi ở, chất lượng nước và thực phẩm, chăm sóc
sức khoẻ và bệnh tật, vệ sinh, văn hoá. Nói chung là tình trạng về sức khoẻ, dinh
dưỡng và giáo dục của nguồn nhân lực nông thôn.
- Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường sức khoẻ - dinh dưỡng.
24
Strauss (1986), Haddad và Bouis (1991) cho rằng, tăng trưởng nông nghiệp
và cải thiện môi trường sức khoẻ - dinh dưỡng thường có ảnh hưởng tương hỗ.
Tăng trưởng nông nghiệp tạo ra việc làm và thu nhập và do đó làm thuận tiện cho
việc cải thiện tình trạng sức khoẻ - dinh dưỡng của nông dân. Mặt khác, tình trạng
sức khoẻ - dinh dưỡng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng của nguồn lao
động và năng suất lao động, và như vậy sẽ ảnh hưởng trở lại đối với tăng trưởng
nông nghiệp. Nhưng nếu tăng trưởng nông nghiệp được thực hiện bằng phương
thức có thể ảnh hưởng làm suy thoái môi trường tự nhiên, thì điều này sẽ làm nông
nghiệp tăng trưởng chậm và theo đó sẽ giảm đi ảnh hưởng tích cực của tăng trưởng
nông nghiệp đối với việc cải thiện tình trạng sức khoẻ - dinh dưỡng. Braun (1991)
cũng tìm thấy rằng, nếu tăng trưởng nông nghiệp được thực hiện bởi phương thức
em sơ sinh; tỉ lệ nông dân bị các bệnh chủ yếu liên quan đến môi trường.
Qua phân tích 3 mối quan hệ chủ yếu trên, phát triển nông nghiệp bền vững có
thể được khái quát như sau: Phát triển nông nghiệp bền vững là mô hình phát triển
mà đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng chung của nền kinh tế nhưng không làm suy
thoái môi trường tự nhiên và con người, đồng thời đảm bảo được kinh tế bền vững
trên mức nghèo đói cho người nông dân. Suy thoái môi trường hiện tại là hệ quả của
việc áp dụng các phương thức sản xuất trước đây, do đó để đạt tới trình độ nông
nghiệp bền vững (khắc phục hậu quả trước đây và áp dụng các phương thức sản
xuất mới gắn với gìn giữ cân bằng sinh thái) đòi hỏi một quá trình lâu dài. Trong
ngắn hạn, phát triển nông nghiệp hướng tới bền vững sẽ là mục tiêu cho các chính
sách phát triển nông nghiệp và nông thôn.
1.2.3. Một số lí luận về phát triển nông thôn toàn diện
Khái niệm phát triển nông thôn rất rộng và đa dạng, nó thay đổi theo từng giai
đoạn phát triển của nền kinh tế và tùy thuộc vào đặc điểm KT-XH của từng quốc
gia. Nhìn chung, PTNT bao hàm chuyển biến và tiến bộ của các vùng nông thôn
trên tất cả các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường,…