Tình hình thanh toán tín dụng
chứng từ và chất lượng thanh toán
tín dụng chứng từ đối với hàng
nhập khẩu tại SACOMBANK
MỤC LỤC
Tình hình thanh toán tín d ng ch ng t và ch t l ng thanh toán tín d ng ch ng t ụ ứ ừ ấ ượ ụ ứ ừ
i v i hàng nh p kh u t i SACOMBANK đố ớ ậ ẩ ạ 1
M C L CỤ Ụ 2
CH NG 1: M T S LÝ LU N C B N V PH NG TH C THANH TOÁN ƯƠ Ộ Ố Ậ Ơ Ả Ề ƯƠ Ứ
TÍN D NG CH NG T VÀ CH T L NG THANH TOÁN PH NG TH C TÍN Ụ Ứ Ừ Ấ ƯỢ ƯƠ Ứ
D NG CH NG T (L/C)Ụ Ứ Ừ 4
1.1 Thanh toán và ph ng th c thanh toán tín d ng ch ng t (L/C)ươ ứ ụ ứ ừ 4
1.1.1 T ng quan v thanh toán qu c tổ ề ố ế 4
1.1.1.1 Khái ni m và c i m c a thanh toán qu c tệ đặ đ ể ủ ố ế 4
1.1.1.2 Vai trò c a thanh toán qu c t i v i n n kinh tủ ố ế đố ớ ề ế 6
1.1.1.3 Các ph ng th c thanh toán qu c tươ ứ ố ế 7
1.1.1.3.1 Ph ng th c chuy n ti n (Remittance)ươ ứ ể ề 7
1.1.1.3.2 Ph ng th c ghi s ( Open Account)ươ ứ ổ 7
1.1.1.3.3. Ph ng th c nh thu (Collection of Payment)ươ ứ ờ 9
1.1.1.3.4 Ph ng th c giao ch ng t tr ti n (Cash against documents- CAD)ươ ứ ứ ừ ả ế 11
1.1.2 Ph ng th c thanh toán tín d ng ch ng tươ ứ ụ ứ ừ 12
1.1.2.1 Khái ni mệ 12
1.1.2.2 Quy trình nghi p vệ ụ 12
1.1.2.3 Các lo i th tín d ng.ạ ư ụ 13
1.1.2.3.1 Th tín d ng có th h y b (Revocable letter of Credit)ư ụ ể ủ ỏ 13
1.1.2.3.2 Th tín d ng không th h y ngang (Irrevocable letter of Credit)ư ụ ể ủ 14
1.1.2.3.3 Th tín d ng không th h y ngang có xác nh n (Confirmed irrevocable ư ụ ể ủ ậ
letter of Credit) 14
1.1.2.3.4 Th tín d ng không th h y ngang mi n truy òi: (Irrevocable without ư ụ ể ủ ễ đ
recource letter of Credit) 15
1.1.2.3.5 Th tín d ng chuy n nh ng (Transferable letter of Credit)ư ụ ể ượ 15
(khi óng vai trò là ngân hàng thông báo)đ 53
2.2.2.3 ánh giá ch t l ng v tính hoàn h o c a b ch ng t do nhà xu t kh u l p Đ ấ ượ ề ả ủ ộ ứ ừ ấ ẩ ậ
và ch t l ng công tác t v n l p ch ng t c a ngân hàng thông báo i v i nhà xu t ấ ượ ư ấ ậ ứ ừ ủ đố ớ ấ
kh uẩ 54
2.2.2.4 ánh giá ch t l ng ngân hàng phát hành th c hi n t t trách nhi m c a mình khiĐ ấ ượ ự ệ ố ệ ủ
ti p nh n b ch ng t hàng hóa t phía ng i xu t kh u ế ậ ộ ứ ừ ừ ườ ấ ẩ 56
2.2.2.5 ánh giá ch t l ng ngân hàng phát hành nhanh chóng thu c ti n hàng t phíaĐ ấ ượ đượ ề ừ
ng i nh p kh uườ ậ ẩ 57
2.2.2.6 ánh giá ch t l ng theo tiêu chu n t l r i ro trong thanh toán ph i th p.Đ ấ ượ ẩ ỷ ệ ủ ả ấ 58
K T LU NẾ Ậ 77
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG
THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ CHẤT
LƯỢNG THANH TOÁN PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ (L/C)
1.1 Thanh toán và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
(L/C)
1.1.1 Tổng quan về thanh toán quốc tế
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thanh toán quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, các mối quan hệ kinh tế,
chính trị thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ và kết quả là hình thành nên các
khoản thu và chi tiền tệ quốc tế giữa các đối tác ở các nước khác nhau. Các mối
quan hệ tiền tệ này ngày một phong phú, đa dạng với quy mô ngày càng lớn. Chúng
góp phần tạo nên tình hình tài chính của mỗi nước, có thể ở trạng thái bội thu hay
bội chi. Trong các mối quan hệ quốc tế, các đối tác ở các nước khác nhau, do vậy có
sự khác nhau về ngôn ngữ, cách xa nhau về địa lý nên việc thanh toán không thể
tiến hành trực tiếp với nhau mà phải thông qua các tổ chức trung gian, đó chính là
các ngân hàng thương mại cùng với mạng lưới hoạt động khắp nơi trên thế giới.
Thanh toán quốc tế đã ra đời từ lâu, nhưng nó mới chỉ phát triển mạnh mẽ vào
cuối thế kỷ 20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền quốc tế
ngày càng gia tăng, từ đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán qua ngân
quốc tế.
Thanh toán quốc tế được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán
thương mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp của các quốc gia,
bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thương và chính sách ngoại hối của các
quốc gia tham gia trong thanh toán.
1.1.1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế
Trong các mối quan hệ thanh toán quốc tế, ngân hàng đóng vai trò trung gian tiến
hành thanh toán. Nó giúp cho quá trình thanh toán được tiến hành an toàn, nhanh
chóng và thuận lợi đồng thời giảm thiểu chi phí cho khách hàng. Với sự ủy thác của
khách hàng, ngân hàng không chỉ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong các giao
dịch thanh toán mà còn tư vấn cho họ nhằm tạo nên sự tin tưởng, hạn chế rủi ro
trong quan hệ thanh toán với các đối tác nước ngoài. Thanh toán quốc tế không chỉ
làm tăng thu nhập của ngân hàng, mở rộng vốn, đa dạng các dịch vụ mà còn nâng
cao uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế.
Trong quá trình lưu thông hàng hoá, thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng, do vậy
nếu thanh toán thực hiện nhanh chóng và liên tục, giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu
được thực hiện sẽ có tác dụng thúc đẩy tốc độ thanh toán và giúp các doanh nghiệp
thu hồi vốn nhanh. Thông qua thanh toán quốc tế còn tạo nên các mối quan hệ tin
cậy giữa doanh nghiệp và ngân hàng, từ đó có thể tạo điều kiện thuận lợi để các
doanh nghiệp được các ngân hàng tài trợ vốn trong trường hợp doanh nghiệp thiếu
vốn, hỗ trợ về mặt kỹ thuật thanh toán thông qua việc hướng dẫn, tư vấn cho doanh
nghiệp, hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thanh toán với các đối
tác.
Thanh toán quốc tế còn có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu gia tăng qui mô hoạt động, tăng khối lượng hàng hoá giao dịch và
mở rộng quan hệ giao dịch với các nước.
Về phương diện quản lý của Nhà nước, thanh toán quốc tế giúp tập trung và quản
lý nguồn ngoại tệ trong nước và sử dụng ngoại tệ một cách hiệu quả, tạo điều kiện
thực hiện tốt cơ chế quản lý ngoại hối của nhà nước, quản lý hiệu quả các hoạt động
xuất nhập khẩu theo chính sách ngoại thương đã đề ra.
(4)
(1)
- Là phương thức người bán mở một tài khoản hoặc một quyển sổ để ghi nợ
người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định
kỳ có thể là tháng, quý hoặc năm người mua trả tiền cho người bán.
Đặc điểm của phương thức này thể hiện đây là phương thức thanh toán không có
sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản, bên người bán
chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên. Nếu người mua mở tài
khoản để ghi, tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh toán giữa
hai bên.
* Quy trình nghiệp vụ
Hình 1. 2- Trình tự nghiệp vụ thanh toán ghi sổ.
(1) Người bán giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hóa cho người
mua.
(2) Bảo nợ trực tiếp giữa người bán và người mua.
(3) Người mua dùng phương thức chuyển tiền để trả tiền khi đến định kỳ thanh
toán
* Trường hợp áp dụng
Với đặc điểm của phương thức ghi sổ, nó sẽ phù hợp trong trường hợp nhà nhập
khẩu khan hiếm ngoại tệ, khi đó họ chấp nhận trả giá cao hơn, đổi lại họ sẽ mua
được hàng hoá. Nó cũng phù hợp trong các mối quan hệ mua bán hàng đổi hàng
hoặc hàng bán giao làm nhiều lần. Phương thức này chỉ áp dụng giữa các bên có
quan hệ mua bán thường xuyên và tin cậy lẫn nhau, giữa nội bộ các công ty với
nhau, giữa công ty mẹ và công ty con. Nó cũng có thể được áp dụng trong các thanh
toán phi mậu dịch.
(1)
Ngân hàng
bên bán
Ngân hàng
bên mua
Ngân hàng phục vụ bên bán
(2)
(4)
(4)
(3)
(4)
(1)
Gửi hàng và
Chứng từ
(3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu nếu trả tiền ngay hoặc
chấp nhận trả tiền hối phiếu nếu mua chịu.
(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhận
hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán.
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documnetary Collection)
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán ủy thác
cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn
căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền
hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho
người mua để nhận hàng.
Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ cũng giống như nhờ thu
phiếu trơn, chỉ khác ở khâu (1) là lập một bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ tiền.
Bộ chứng từ gồm có hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo, ở khâu (3) là
ngân hàng đại lý chỉ trao cho người mua nếu như người mua trả tiền hoặc chấp nhận
trả tiền hối phiếu. Trong nhờ thu kèm chứng từ, người ủy thác cho ngân hàng ngoài
việc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với người
mua, nhờ đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn. Đây là sự khác nhau cơ
bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn.
Hình 1.4- Trình tự nghiệp vụ thanh toán nhờ thu kèm chứng từ.
* Trường hợp áp dụng
sẽ xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng để nhận tiền thanh toán.
* Quy trình nghiệp vụ
Hình 1.5- Trình tự nghiệp vụ thanh toán giao chứng từ trả tiền.
(1) Sau khi ký hợp đồng mua bán ngoại thương, nhà nhập khẩu đến ngân hàng
phục vụ mình yêu cầu thực hiện dịch vụ CAD.
(2) Sau khi kiểm tra các điều kiện của tài khỏan tín thác, nếu chấp nhận, nhà xuất
khẩu giao hàng cho người vận tải để chuyển đến nơi nhà nhập khẩu yêu cầu.
(3) Nhà xuất khẩu sau khi tiến hành giao hàng thì xuất trình những chứng từ yêu
cầu.
Người xuất khẩu Người nhập khẩu
Ngân hàng
(4)
(2)
(3)
(1)
(5)
(4) Ngân hàng tiến hành kiểm tra chứng từ theo yêu cầu, nếu thấy phù hợp sẽ tiến
hành ghi Có cho người xuất khẩu và ghi Nợ tài khoản ký quỹ của người nhập khẩu,
sau khi đã thu phí dịch vụ ngân hàng.
(5) Ngân hàng giao chứng từ lại cho nhà nhập khẩu.
* Trường hợp áp dụng: Người mua và người bán có mối quan hệ bạn hàng tốt
và thân tín, người nhập khẩu phải đặc biệt tin tưởng ở nhà xuất khẩu. Khi bán
những mặt hàng khan hiếm trên thị trường và người xuất khẩu muốn có đảm bảo
chắc chắn trong thanh toán.
Trong các phương thức thanh toán quốc tế thì phương thức tín dụng chứng từ là
phương thức được sử dụng hầu hết hiện nay nhờ vào tính chặt chẽ và an toàn của
nó cho người mua, người bán, cũng như cho đối tượng trung gian là ngân hàng. Vì
vậy, phương thức tín dụng chứng từ sẽ được trình bày một cách cụ thể và rõ ràng
hơn ở mục lớn tiếp theo.
1.1.2 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng, nếu
không đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với
hợp đồng.
(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của thư tín
dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở thư tín dụng xin
thanh toán.
(6) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư
tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu. Nếu thấy không phù hợp, ngân
hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu.
(7) Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ
cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
(8) Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì
hoàn trả tiền lại cho ngân hàng mở thư tín dụng, nếu không thì có quyền từ chối trả
tiền.
1.1.2.3 Các loại thư tín dụng.
1.1.2.3.1 Thư tín dụng có thể hủy bỏ (Revocable letter of Credit)
* Đặc điểm: Ngân hàng mở L/C và nhà nhập khẩu có thể sửa đổi, bổ sung hoặc
hủy bỏ L/C bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C.
* Ưu điểm: Đối với những hợp đồng mua bán không chắc chắn, không đầy đủ
thì thư tín dụng có thể hủy bỏ sẽ tạo điều kiện bổ sung, hoàn thiện hợp đồng. Đối
với những nhà xuất khẩu không đủ tin cậy, nó sẽ bảo vệ quyền lợi nhà nhập khẩu.
* Nhược điểm: Không đảm bảo quyền lợi nhà xuất khẩu vì lúc này L/C chỉ là lời
hứa trả tiền, không phải là sự cam kết, như vậy dễ gây thiệt hại cho nhà xuất khẩu.
Bảo hộ quá nhiều cho nhà nhập khẩu, kể cả trường hợp nhà nhập khẩu không đủ
khả năng thanh toán cũng có thể tự động hủy bỏ L/C.
1.1.2.3.2 Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable letter
of Credit)
* Đặc điểm: Sau khi thư tín dụng đã được mở và thông báo cho người bán thì
không được sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ nó trong thời gian hiệu lực của thư tín
dụng, trừ trường hợp có sự đồng ý của các bên có liên quan.
* Ưu điểm: Thư tín dụng chuyển nhượng giúp cho những nhà xuất khẩu không
có vốn lớn hoặc không đủ khả năng xuất trực tiếp được hưởng khoản chêch lệch do
xuất khẩu gián tiếp, đồng thời với L/C này nhà xuất khẩu trung gian có thể không
cho bên xuất khẩu trực tiếp và nhập khẩu biết về nhau. Đối với những nhà xuất
khẩu nhỏ, lẻ không tự mình tìm được đối tác thì thông qua L/C này tìm được đơn
hàng xuất.
* Nhược điểm: Thư tín dụng chuyển nhượng khá phức tạp có nhiều bên liên
quan, và các điều khoản phải quy định rõ trong L/C. Nhà nhập khẩu phải trả một
khoản tiền lớn hơn và nhà xuất khẩu trực tiếp cũng có thể mất một khoản tiền do
phải qua trung gian.
1.1.2.3.6 Thư tín dụng giá (Back to back letter of Credit)
* Đặc điểm: Được nhà xuất khẩu trung gian mở dựa vào 1 L/C gốc khác nhưng
L/C giáp lưng khác L/C gốc ở chỗ: Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn
L/C gốc. Trị giá của L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc, khoản chêch lệch này do
người trung gian hưởng, để trả chi phí mở L/C và phần hoa hồng của họ. Thời gian
giao hàng của L/C phải sớm hơn L/C gốc.
Một số điểm khác biệt của L/C giáp lưng so với L/C thông thường: Ngoài hối
phiếu và hóa đơn ra, các chứng từ không ghi đơn giá và trị giá. Một số chứng từ
(B/L, giấy giám định hàng hóa…) phải ghi dẫn chiếu số L/C gốc.
* Ưu điểm: Thông qua L/C giáp lưng người trung gian đuợc hưởng khoản chêch
lệch mà không cho người thụ hưởng L/C gốc biết đơn giá, trị giá và phần chêch lệch
đó. Rất phù hợp với mua bán qua trung gian.
* Nhược điểm: L/C giáp lưng rất phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp khéo léo và chính
xác những điều kiện của L/C gốc và L/C giáp lưng, nhất là các vấn đề liên quan đến
vận đơn và các chứng từ hàng hóa khác.
1.2 Chất lượng thanh toán phương thức tín dụng chứng từ
1.2.1 Chất lượng
1.2.1.1 Chất lượng là gì
1.2.1.1.1 Quan niệm chung về chất lượng
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng:
Hiện nay, đối với các nước công nghiệp và đang phát triển, các nguồn lực tự
nhiên đã không còn là chiếc chìa khóa đem lại sự phồn vinh. Lịch sử hiện đại đã
chứng tỏ một quốc gia không có lợi thế về tài nguyên vẫn có thể trở thành một quốc
gia hàng đầu về chất lượng và quản lý chất lượng.
Tại các nước đang phát triển, chất lượng được biết đến vừa là một thách thức và
cũng vừa là một cơ hội. Là cơ hội, vì người tiêu dùng ngày nay trên mọi quốc gia
ngày càng quan tâm đến chất lượng hàng hóa và dịch vụ mà họ bỏ tiền ra mua. Là
thách thức, vì các tổ chức trong các quốc gia phát triển đã tiến rất xa trong việc
cung cấp sản phẩm và dịch vụ có chất lượng tốt, nó đòi hỏi các tổ chức phải thay
đổi cách suy nghĩ, thay đổi cách quản lý đã hình thành từ lâu đời để tiếp cận với nền
văn minh hiện đại toàn cầu.
1.2.1.1.2 Quản lý chất lượng tại Việt Nam
Hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đang là xu thế tất yếu của mọi nền kinh tế,
trong đó có Việt Nam. Thách thức lớn nhất trong quá trình hội nhập của Việt Nam
chính là hiệu quả năng lực cạnh tranh còn yếu kém về năng suất và chất lượng sản
phẩm so với các nước khác trong khu vực.
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ngày nay, chất lượng đang trở
thành một nhân tố cơ bản để quyết định sự thắng bại trong cạnh tranh, quyết định sự
tồn tại của các tổ chức kinh tế.
Đầu những năm 1990, các cơ quan nhà nước cũng như các cơ sở sản xuất kinh
doanh đã thực hiện những cải tiến bước đầu về quản lý chất lượng. Tuy nhiên quá
trình quản lý chất lượng này gặp nhiều khó khăn và trở ngại do cơ sở vật chất- kỹ
thuật còn thiếu thốn và lạc hậu lúc bấy giờ. Qua những giai đoạn khó khăn ban đầu,
trong xu thế mới của thời đại mới, tình hình quản lý chất lượng ở Việt Nam đã được
chú trọng, chất lượng sản phẩm dịch vụ đã được nâng cao đáng kể để chiếm lĩnh thị
trường, được người tiêu dùng tín nhiệm. Và có thể nói, chất lượng chính là lời giải
đáp duy nhất cho các tổ chức kinh tế Việt Nam trong xu thế tự do thương mại toàn
cầu ngày nay.
1.2.1.2 Quản lý chất lượng trong lĩnh vực ngân hàng theo quan
điểm hiện đại
người ta quan niệm ngân hàng là một hệ thống kiểm soát phức tạp vì ngân hàng
kinh doanh loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất: tiền mặt. Ngân hàng phải duy
trì hình ảnh, tiếng tăm và uy tín để thực hiện vai trò của người cầm giữ tiền bạc của
người khác. Theo thời gian, các hệ thống quản lý phức tạp và nạn quan liêu hình
thành dưới danh nghĩa là tăng cường kiểm soát đã khiến ngân hàng xao nhãng và hy
sinh việc phục vụ khách hàng trong quá trình giao dịch.
Quản lý chất lượng toàn diện, là công tác phục vụ khách hàng về mọi mặt và liên
tục làm thỏa mãn khách hàng, được áp dụng không chỉ ở lĩnh vực sản xuất mà còn ở
lĩnh vực dịch vụ, lĩnh vực mà khách hàng cũng quan trọng không kém.
Trong thực tế, khách hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ thì nhạy cảm đối với chất
lượng dịch vụ và sự chuyển giao dịch vụ hơn trong lĩnh vực sản xuất vì khách hàng
luôn tiếp xúc với nhân viên trực tiếp phục vụ tại quầy, mà điều này không có ở lĩnh
vực sản xuất. Những tiếp xúc ngay tại điểm bán hàng hay còn gọi là “khỏanh khắc
sự thật” (moments of truth) sẽ quyết định việc khách hàng có trở lại giao dịch hay
không hoặc khách hàng sẽ chuyển qua giao dịch với một đối thủ cạnh tranh bán
hàng gần đó. Ngân hàng thường là ngành dịch vụ lớn nhất ở mọi quốc gia, được
hưởng lợi từ Quản lý chất lượng toàn diện. Chỉ vì một lý do đơn giản là: sự thịnh
vượng của các ngân hàng tùy thuộc vào sự thỏa mãn và mức độ gắn bó của khách
hàng, nhưng trớ trêu thay, rất ít ngân hàng quan tâm nhiều đến hoàn cảnh của khách
hàng trước, trong và sau khi bán hàng.
Nhiều ngân hàng được các nhà tài chính quản lý, mà nhà tài chính là người ít
được đào tạo hoặc không được đào tạo về công tác phục vụ khách hàng. Dịch vụ tốt
không phải tự nhiên hoặc do tình cờ mà có. Dịch vụ chỉ tốt khi nào được hoạch định
và quản lý. Không được hoạch định, thì dịch vụ tồi đương nhiên sẽ xảy ra.
Một chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực chất lượng, Tiến sĩ W. Edwards Deming,
nói rằng muốn cải tiến chất lượng phục vụ thì phải có kiến thức sâu về hệ thống
chuyển giao dịch vụ. Các ông chủ ngân hàng lại có suy nghĩ rằng tiền bạc chứ
không phải khách hàng mới là quan trọng.
Hiện nay, các ngân hàng đang được xếp hạng, so sánh với nhau và được đánh giá
sự thành công thông qua quy mô, nguồn lực tài chính, và những số đo định lượng
đem lại thu nhập thấp hoặc không có thu nhập trừ những chương trình trợ giúp của
Chính phủ. Ví dụ, một sản phẩm là bóng đèn, nó sẽ được người tiêu dùng đánh giá
là có chất lượng khi nó có thể được sử dụng trong thời gian dài, độ sáng phù hợp,
không làm ảnh hưởng đến mắt người tiêu dùng. Ngoài ra còn có các yếu tố khác tác
động như: giá cả, hình thức sản phẩm, sự thuận tiện trong việc lắp ráp, sử dụng…
Thế thì chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ là gì? Chất lượng thanh toán tín
dụng chứng từ là những chất lượng trong nghiệp vụ, thỏa mãn nhu cầu cao nhất của
khách hàng đồng thời cũng thu lại giá trị hiện kim cho ngân hàng được thể hiện
xuyên suốt từ khâu ngân hàng phát hành nhận được yêu cầu xin mở L/C từ phía nhà
nhập khẩu cho đến khi trả tiền xong cho nhà xuất khẩu và thu hồi lại vốn từ phía
nhà nhập khẩu.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.2.2.1 L/C được mở vào thời điểm hợp lý và có nội dung phù hợp
Khi nhận được đơn đề nghị mở L/C do người nhập khẩu gửi đến, ngân hàng phục
vụ nhà nhập khẩu (được gọi là ngân hàng phát hành) sẽ xem xét để tiến hành mở
L/C theo yêu cầu của nhà nhập khẩu.
- Về mặt thời gian: ngân hàng phát hành phải đảm bảo mở được L/C vào đúng
thời điểm mà nhà xuất khẩu và nhập khẩu đã thỏa thuận trong hợp đồng thương
mại. Điều này không chỉ giúp cho khách hàng của ngân hàng là nhà nhập khẩu tạo
được sự tin tưởng đối với nhà xuất khẩu mà ngân hàng phát hành còn gây được
thiện cảm, tạo được uy tín đối với cả hai bên nhập khẩu và xuất khẩu về trách nhiệm
của ngân hàng với vai trò là một chủ thể tham gia trong quy trình thanh toán.
-Về mặt nội dung: ngân hàng phát hành phải đảm bảo L/C có nội dung dễ hiểu,
thể hiện được hết những thỏa thuận trong hợp đồng thương mại, đồng thời những
điều khoản và điều kiện của L/C cũng phải hết sức chặt chẽ, không có kẽ hở để nhà
xuất khẩu không thể lợi dụng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nhập khẩu và
có thể cả quyền lợi của chính ngân hàng. Mặt khác, các điều kiện đưa ra đối với nhà
xuất khẩu cũng không nên quá khắt khe, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà xuất
khẩu hoặc đến uy tín của ngân hàng.
1.2.2.2.2 Ngân hàng thông báo kiểm tra chính xác tính chân thật bề ngoài
thậm chí trong trường hợp nhà nhập khẩu phát hiện ra sai sót khi kiểm tra bộ chứng
từ mà trước đó ngân hàng đã thanh toán cho người xuất khẩu thì ngân hàng phát
hành sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc thanh toán đó của mình. Nhà nhập
khẩu có quyền từ chối trách nhiệm thanh toán cho bộ chứng từ đó.
Việc kiểm tra bộ chứng từ phải được thực hiện cẩn thận, kỹ càng nhưng phải
khẩn trương trong thời hạn 5 ngày làm việc của ngân hàng (theo quy định của UCP
600). Nếu để quá thời hạn trên, cho dù phát hiện bộ chứng từ không phù hợp với
các điều khoản và điều kiện quy định trong L/C, nhưng ngân hàng phát hành không
thông báo kịp cho ngân hàng thông báo/ nhà xuất khẩu thì ngân hàng phát hành sẽ
mất quyền từ chối thanh toán bộ chứng từ đó.
Sau khi kiểm tra và phát hiện ra lỗi của bộ chứng từ, ngân hàng phát hành thông
báo những bất hợp lệ cho nhà xuất khẩu và từ chối thanh toán. Ngân hàng phát hành
không có quyền trao chứng từ cho nhà nhập khẩu nếu như không có sự đồng ý của
nhà xuất khẩu. Nếu ngân hàng phát hành vi phạm điều này, người xuất khẩu hoàn
toàn có thể kiện ngân hàng phát hành và ngân hàng phát hành sẽ phải đền bù thiệt
hại kinh tế cho người xuất khẩu nếu người xuất khẩu chứng minh được điều đó đã
gây thiệt hại cho họ. Chính vì vậy, sau khi từ chối thanh toán cho nhà xuất khẩu,
ngân hàng phát hành phải giữ nguyên trạng bộ chứng từ, thông báo cho nhà nhập
khẩu biết bộ chứng từ bất hợp lệ và thực hiện theo chỉ thị của nhà nhập khẩu.
Nếu như bộ chứng từ không có sai sót hoặc trong trường hợp có sai sót nhưng đã
được nhà nhập khẩu chấp nhận, ngân hàng phát hành phải nhanh chóng tiến hành
thanh toán cho phía xuất khẩu và trao bộ chứng từ cho bên nhập khẩu bởi vì sau khi
đã giao hàng thì nhà xuất khẩu mong sớm nhận được tiền hàng, còn nhà nhập khẩu
thì mong nhận được chứng từ để đi nhận hàng.
1.2.2.2.5 Ngân hàng phát hành nhanh chóng thu được tiền hàng từ phía
người nhập khẩu
Rõ ràng quá trình thanh toán có hiệu quả hay không thể hiện ở chỗ sau khi trả
tiền cho nhà xuất khẩu, Ngân hàng phát hành có thu lại được tiền từ nhà nhập khẩu
hay không. Ngoại trừ những trường hợp mất khả năng thanh toán hay cố tình lừa
gạt ngân hàng, còn lại các nhà nhập khẩu đều thực hiện thanh toán theo đúng quy