Bàn về dự phòng phải thu khó đòi và dự phòng giảm giỏ hàng tồn kho trong các doanh nghiệp hiện nay - Pdf 11

Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
Lời mở đầu
Ngành công nghiệp Dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt
Nam. Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nớc ta vì nó phục vụ
nhu cầu thiết yếu của con ngời, là ngành giải quyết đợc nhiều việc làm cho xã
hội và đặc biệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh
tế phát triển, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nớc.Trong quá
trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá hiện nay, ngành Dệt may đang chứng tỏ là
một ngành mũi nhọn trong nền kinh tế đợc thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu
liên tục tăng trong mấy năm gần đây, các thị trờng luôn đợc rộng mở,số lao
động trong ngành ngày càng nhiều và chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành công
nghiệp, giá trị đong góp của ngành vào thu nhập quốc dân Tuy nhiên trong
quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế và những biến động của môi trờng kinh tế
, ngành Dệt may đang đứng trớc những khó khăn và thách thức mới cho sự phát
triển.
Với mục đích tim hiểu những vấn đề lớn liên quan đến ngành trong giai
đoạn hiện nay và thử tìm một số giải pháp để khác phục những vấn đề đó, em
đã quyết định lựa chọn đề tài : Ngành Dệt May Việt Nam trên con đờng hội
nhập. Bài viết đợc hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Th.s Mai
Xuân Đợc. Đây là một bài viết với vấn đề đợc đề cập tơng đối rộng nên không
thể tránh khỏi những thiếu sót, em mong đợc sự góp ý của mọi ngời.
Nội dung bài viết đợc chia làm hai phần:
-Phần một: Thực trạng ngành Dệt May Việt Nam.
-Phần hai: Định hớng phát triển công nghiệp Dệt May Việt Nam.
I. Thực trạng ngành dệt may việt nam
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
1.1 Thị trờng dệt may
Trong hơn 10 năm qua, ngành dệt may Việt Nam đã có những bớc tiến vợt
bậc trong lĩnh vực xuất khẩu với tốc độ tăng trởng bình quân 23.8%/ năm, vơn
lên đứng thứ 2 trong cả nớc về kim ngạch xuất khẩu, sau ngành dầu khí. Nếu nh

Thị trờng xuất khẩu chủ yếu của hàng dệt may nớc ta hiện nay là Nhật Bản,
Hoa Kỳ và EU.
*Thị trờng EU
Hàng dệt may chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU
Từ năm 1993, EU dành cho Việt Nam điều kiện xuất khẩu hàng dệt hàng năm
và từng đợt điều chỉnh tăng hạn ngạch. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam liên
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
tục tăng từ 1991 đến nay. Trị giá xuất khẩu trong các năm 1991 đến 2001 tăng
lên 21 lần. Tăng trởng liên tục hàng năm: năm thấp nhất (1993) cũng tăng 5,3%,
các năm cao đạt 77,6% (1994 và 1997), 87,6% (1995).
Bên cạnh đó EU là thị trờng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam về hàng may
mặc (40% xuất khẩu may mặc của Việt Nam). Từ trớc đến nay hàng này đợc EU
cấp hạn ngạch, tăng số lợng hàng năm. Tốc độ tăng trởng hàng năm trên 38%.
EU và Việt Nam đã ký hiệp định xuất khẩu may mặc của Việt Nam thời kỳ
1998-2000, tăng 31% so với 1992-1997. Việt Nam sử dụng cả hạn ngạch của
EU cấp cho Singapore, Indonesia, Philipin. Giai đoạn 2001-2002 EU tăng hạn
ngạch cho Việt Nam với 16 mã hàng may mặc xuất khẩu sang EU. Tỷ trọng
hàng dệt may Việt Nam giữ mức 15-16% kim ngạch xuất khẩu. Năm 1999 xuất
khẩu hàng này đạt 700 triệu USD. Các nớc nhập khẩu lớn là Đức, Pháp, Hà Lan,
Anh. Nhiều nớc đặt gia công may mặc cho Việt Nam (Đức, Pháp )
Kim ngạch xuất khẩu dệt may vào EU
Đơn vị: triệu USD
185
245
285
350
420
450
580

Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
phẩm may mặc khác với thị trờng Mỹ, EU. Ngời tiêu dùng Nhật Bản chịu tác
động rất mạnh bởi các phơng tiện thông tin đại chúng nh các loại tạp chí, phim
ảnh. Nếu nh có một mẫu mốt mới xuất hiện ở Newyork, Milan, Pari hoặc Tokyo
thì các phơng tiện thông tin về thời trang đều đa tin cập nhật đến mẫu mốt đó,
làm thay đổi sở thích tiêu dùng hàng may mặc rất nhanh. Trong khi đó, hàng
may mặc Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chỉ mới đáp ứng đợc một cách t-
ơng đối hai yêu cầu, đó là giá cả và chất lợng. Còn yêu cầu về kiểu dáng thì kiểu
dáng hàng may mặc Việt Nam rất nghèo nàn, không đa dạng do ngành công
nghiệp thiết kế thời trang trong nớc cha phát triển, về nhãn mác chỉ ngời tiêu
dùng trong nớc mới biết đến nhãn mác các sản phẩm may Việt Nam.
Hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản
Đơn vị : triệu USD
Nhật Bản là thị trờng phi hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam. Hiện nay Việt
Nam đứng thứ 4 trong các nớc có hàng may xuất khẩu vào Nhật Bản. Các sản
phẩm của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chủ yếu là hàng may mặc nh
Jacket, quần áo thể thao, quần âu, sơ mi, quần áo lót, quần áo dệt kim . Kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Nhật Bản hàng năm đến năm
2000 đạt cao nhất (620 triệu USD), sau đó đến năm 2001 lại giảm 5%so với năm
2000 còn 592 triệu USD. Theo số liệu mới nhất của Bộ Thơng mại thì năm 2002,
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản đạt dới 500 triệu USD, giảm
20% so với năm 2001. Nguyên nhân chính là do sức ép cạnh tranh của hàng
Trung Quốc có chất lợng, mẫu mã đa dạng và giá rẻ, hiện đã chiếm tới gần 90%
thị phần hàng may mặc nhập khẩu của Nhật Bản. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam
chỉ nghĩ tới việc thay đổi mẫu mã sản phẩm khi chu kỳ sống của sản phẩm đó đã
bớc sang giai đoạn thoái trào, hàng không bán đợc nữa. Còn xuất khẩu cả năm
qua cũng giảm 1,8% so với năm 2002.
*Thị trờng Hoa Kỳ
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002

máy móc lạc hậu 3-3 thế hệ. Điều này làm cho năng lực sản xuất của ngành Dệt
may còn nhiều hạn chế.
Máy móc thiết bị ngành Dệt phần lớn là cũ kỹ, lạc hậu và có xuất xứ từ
nhiều nớc. Ngành Dệt có gần 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm nên h hang
nhiều, mất tính năng vận hành tự động nên năng suất thấp, chất lợng sản phẩm
thấp, giá thành cao.Trong nhiều năm qua, hầu hết các doanh nghiệp đã sử dụng
nguồn vốn tự có, vốn vay trung hạn, dài hạn để mua sắm thiết bị,góp phần năng
cao chất lơng công nghệ, đa dang hoá sản phảm.Hàng ngàn máy dệt không thoi,
có thoi khổ rông đã đợc nhập về, nhiều bộ đồ mắc mới , hiện đại đã đợc trang bị
thay thế cho những thiết bị quá cũ. Tuy ngành Dệt đã có nhiều cố gắng trong
đầu t đổi mới công nghệ nhng cho đến nay trình độ kỹ thuật của ngành vẫn còn
lạc hậu so với khu vực và thế giới.
Trong 5 năm gần đây , toàn ngành đã tranh bị thêm đợc gần 20.000 máy
may hiện đại các loại để sản xuất các mặt hàng sơ mi, jacket, đồ bảo hộ lao
động, áo phông các loại cải thiện một b ớc chất lợng hàng may xuất khẩu và
nội địa. Ngành may liên tục đầu t mở rộng sản xuất và đổi mới thiết bị để đáp
ứng yêu cầu chất lợng của thị trờng thế giới.Các máy may đợc sử dụng hiện nay
phần lớn là hiện đại, có tốc độ cao(4.000-5.000 vòng/phút), có bơm dầu tự động,
đảm bảo vệ sinh công nghiệp. Một số doanh nghiệp đã đầu t dây chuyền đồng
bộ, sử dụng nhiều máy chuyên dùng sản xuất một mặt hàng nh đây chuyền may
s mi của May 10, đây chuyền may quần đứng có thao tác bộ phận tự động theo
chơng trình, đây chuyền sản xuất quần Jean có hệ thống máy giặt mài.
1.3 Nguyên liệu cho ngành Dệt may.
Việc sản xuất nguyên liệu bông từ các nguồn trong nớc hiện đang thu hút
sự quan tâm đặc biệt. Hiện nay, Việt Nam chỉ có t5hể sản xuất hơn 3.000 tấn
bông/năm, đáp ứng đợc 5% nhu càu của ngành Dệt trong nớc. Sợi tổng hợp phải
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
nhập khẩu hoàn toàn và sợi bong cho sản xuất hàng dệt kim cũng phải nhập
khẩu với số lợng lớn hàng năm. Hơn nữa, dù ngành hoá chất trong nớc tơng đối

nhng tỷ lệ sản lợng mặt hàng có hiệu quả cha cao làm cho việc phục hồi vốn đầu
t chem., kéo dài việc trả nợ.Hơn nữa công tác nghiên cứu các mặt hàng cha đợc
khuyến khích, thiếu chủ động trong việc tìm hang mới nên ch a thay thế đợc
các mặt hàng mà ngành May phải nhập để tái xuất, cha hình thành đợc mối liên
hệ vững chắc giữa Dệt và May trên thị trờng nội địa.
Sản phẩm của ngành May rất đa dạng và phong phú, có tính chất thời
trang, vừa có tính quốc tế, vừa có tính dân tộc. Kinh tế phát triển, đời sống nhân
dân đợc nâng cao, yêu cầu hàng may lại càng phong phú và chất lợng cao hơn.
Bên cạnh những mặ hàng truyền thống nhân dân mặc hàng ngày, thông qua gia
công cho các nớc, các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện làm quen với công
nghệ may phức tạp, thời trang của thế giới. Có nhiều chủng loại mặt hàng các
doanh nghiệp đang sảnn xuất phục vụ tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu nh:
-Nhóm mặt hàng lót.
-nhóm mặt hàng mặc thơng ngày: sơ mi, quần âu,áo váy
-Nhóm quần áo thể thao: quần áo vải thun, quần áo Jean.
-Nhóm thời trang hiện đại
-Nhóm trang phục đặc biệt: Quân đội, Nội vụ, bảo hộ lao động cho các
loại ngành nghề.
Các chủng loại mặt hàng trên với nhiều chất liệu và phụ liệu, các doanh
nghiệp may đang thực hiện đơn hàng với nớc ngoài vàcủa các ngành trong nớc
với tay nghề tốt, khéo léo nên sản phẩm sản xuất ra đạt yêu cầu chất lợng của
khách hàng. Tuy vậy, do còn thiếu các máy chuyên dùng hiện đại, phải dung
nhiều thao tác thủ công nên năng suất thấp so với nhiều nớc khác. Một số mặt
hàng nh áo da .do ch a co máy chuyên dùng nên còn bị hạn chế trong sản xuất.
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
1.5 Lao động ngành dệt may.
Nghề dệt may không đòi hỏi kĩ thuật cao siêu, điêu luyện nên ngành rất
dễ thu hút nhiều lao động. Đến nay cac doanh nghiệp Dêt may đã thu hút hơn
500.000 lao động góp phần đáng kể trong việc giải quyết khó khăn về việc làm

2.1.1 một số quan điểm phát triển ngành dệt may.
2.1.1.1 Công nghiệp dệt may phải đợc u tiên phát triển và phải đợc coi là
ngành trọng điểm trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta trong
những năm tiếp theo
Trong 4 năm qua ,kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đều tăng và đã vơn
lên hàng thứ hai trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của đất nớc . Mặt khác,
ngành công nghiệp dệt may là ngang thu hút nhiều lao động, vốn đầu t không
lớn và đang trong xu hớng chuyển dịch từ các nớc Đông á và các nớc Đông Nam
á. Nớc ta là một nớc có nguồn lao động dồi dào và lành nghề nên có thể coi đây
là một lĩnh vực lớn có khả năng phát triển nhất. Đồng thời với dân số là hơn 80
triệu thị trờng trong nớc có tiềm năng to lớn tiêu thụ các mặt hàng tiêu dùng
trong đó có hàng Dệt may.
2.1.1.2 Phát triển công nghiệp Dệt may theo hớng hiện đại và đa dạng về sản
phẩm
Công nghệ hiện đại ngày nay đã trở thành yêu tố quyết định cho sự phồn
vinh của mỗi quốc gia, hay sức mạnh cạnh tranh kinh tế quốc tế của mỗi sản
phẩm. Chúng ta chỉ có thể thu hẹp khoảng cách so với các nớc phát triển và
tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế thông qua việc tăng cờng
năng lực công nghệ quốc gia, tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên tiến và công
nghệ cao. Từ nhận định đó , công nghiệp dệt may phải dợc phát triển theo hớng
hiện đại và đa dạng hoá về sản phẩm.
Trong thời gian tới , cung với sự phát triển kinh tế của cả nớc , nhu cầu
hàng tiêu dùng sẽ tăng lên nhng không đơn giản tăng về số lợng mà ngày càng
đòi hỏi nâng cao về chất lợng ,đa dạng về mẫu mã và số lợng các mặt hàng cao
cấp cũng tăng lên. Theo quy luật tiêu dùng thì khi thu nhập tăng lên , tỷ lệ chi
cho ăn uống sẽ giảm tơng đối , còn tỷ lệ tiêu dùng hàng hoá sẽ tăng lên rất
nhanh. Nh vậy cung với sự gia tăng dân số và tăng thu nhập thij trờng trong nớc
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
sẽ là tiền đề cho công nghiệp sản xuất hang tiêu dùng nói chung và hàng dệt

Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
2.1.1.4 Phát triển công nghiệp dệt may theo hớng đa dạng hoá sở hữu
và tập trung vào các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng
có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN là chiến lợc phát triển kinh tế
của Đảng. Thực tế cho thấy, ở bất cứ một ngành kinh tế kỹ thuật nào, nếu
không có nhiều thành phần kinh tế tham gia thì sẽ không tạo ra đợc môi trờng
cạnh tranh, mà cạnh tranh chính là đông lực thúc đẩy sự phát triển. Trong tổ
chức của ngành dệt may đã có những mô hình quy mô lớn nhng kém hiệu quả.
Qua nhiều lần tiến hành đổi mới quản lý và qua nhiềuhoạt động thực tế cho
they doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ là những mô hình hoạt động tốt.
2.1.1.5 Phát triển công nghiệp dệt may phải gắn liền với sự phát triển
của ngành công nghiệp và các ngành kinh tế khác, đồng thời góp phần thúc
đâỷ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở
nớc ta.
Trong chiến lợc phát triển Kinh tế- Xã hội đến năm 2010, Đảng đã chỉ
rõ cần phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế mà tr-
ớc hết là công nghiệp hoá nông thôn.
Nh vậy , đối với tất cả các ngành công nghiệp , đặc biệt nh công nghiệp
Dệt may là nganh sử dụng nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp nh bông tơ tằm ,
trong chiến lợc phát triển của mình cần phải xác định đợc hớng phát triển là phải
gắn lion với sự phát triển của ngành nông nghiệp
Trong suốt quá trình phát triển của mình ngành công nghiệp dệt may
Việt nam luôn ở trong tình trạng bị động về nguyên liệu . Hầu hết tất cả các loại
nguyên liệu đều phải nhập khẩu, kể cả bông xơ là loại nguyên liệu mà ta có thể
tự cung cấp một phần. Tơ tằm tuy không phải nhập khẩu nhng nguồn tơ sản xuất
bị hạn chế cả về số lợng lẫn chất lợng nên giá trị xuất khẩu thấp.Do vậy muốn
từng bớc tiến tới sự phát triển ổn định bền vững ngành dệt may phải tạo đợc cho
mình một cơ sở nguyên liệu thích hợp và ổn định
2.1.2 Một vài chính sách của đảng và nhà nớc đối với ngành dệt may


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status