Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu:
Phân tích tài chính đợc các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ cuối thế kỉ XIX. Từ
thế kỉ XX đến nay, phân tích tài chính thực sự đợc phát triển và đợc chú trọng hơn
bao giờ hết bởi nhu cầu quản lý doanh nghiệp ngày càng tăng, sự phát triển mạnh
mẽ của hệ thống tài chính, sự phát triển của tập đoàn kinh doanh và khả năng sử
dụng công nghệ thông tin.
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phơng pháp và
công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý
nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ
và chất lợng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Việc phân tích tài chính đem lại những mục tiêu khác nhau. Nhà quản trị
phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà
đầu t quan tâm đến tình hình thu nhập của chủ sở hữu, giá trị tăng thêm của vốn
đầu t, lợi tức cổ phần. Ngời cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay
và trả nợ của khách hàng. Phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với ngời hởng
lơng trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Những khái quát chung về nhà máy thuốc lá Bắc Sơn
- Là một doanh nghiệp Nhà Nớc thuộc Tổng công ty thuốc lá Việt Nam, đợc
thành lập khá lâu và đợc cổ phần hoá năm 2005. Là công ty cổ phần 1 thành viên.
- Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tơng đối ổn dịnh, sản xuất 2 mặt
hàng chính là Vinataba và thuốc lá nội địa
- Từ năm 2005 áp dụnh thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt là 55%.Công ty đã
điều chỉnh giá bán tăng dần theo lộ trình của tổng công ty thuốc lá Việt Nam đảm
bảo sản xuất kinh doanh có lãi
-Hoạt động tổng thể của nhà máy đợc đánh giá là có hiệu quả, đảm bảo lãi
hàng năm là 2 tỷ đồng, giải quyết đợc năng lực sản xuất hiện có của nhà máy
( 100 triệu bao/năm) hiện nay sản lợng tiêu thụ hàng năm mới đạt 30-40 triệu bao/
năm.Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 500 công nhân với mức l-
*Tỷ số khả năng thanh toán nhanh:
Khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản lu động Dự trữ)/ Nợ ngắn hạn
Năm Tài sản lu động Dự trữ Nợ ngắn hạn
Khả năng
thanh toán
nhanh
2001 59790616558 19235793717 31855347724 1,273
2002 67018426584 24787332891 31724883894 1,350
2003 81406305595 21640929319 41922159584 1,443
2004 100532871483 32551502303 54139900151 1,256
2005 70166124909 33970726224 64465197559 0,561
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh năm 2005 thấp hơn rất nhiều so với những
năm trớc.Nguyên nhân là do mức dự trữ của công ty tăng nhng tăng với tốc độ
thấp hơn tốc độ tăng các khoản nợ ngắn hạn.Trong khi đó, tiền và các khoản phải
thu của công ty năm 2005 đều thấp hơn so với các năm trớc, các tài sản lu động
khác và đầu t tài chính ngắn hạn doanh nghiệp không có. Mặc dù trong các năm
trớc các tài khoản này đều có xu hớng tăng qua các năm. Những thay đổi trong
chính sách tín dụng đã làm cho khả năng thanh toán nhanh của công ty trở nên
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
yếu kém.Con số 0,561( <1) thực sự là đáng lo ngại đối với công ty.Công ty không
thể thanh toán nhanh các khoản nợ nếu không sử dụng đến một phần dự trữ.
* Chỉ tiêu vốn lu động ròng( chỉ tiêu vốn lu động thờng xuyên)
Vốn lu động ròng = Tổng tài sản lu động Tổng nợ ngắn hạn
Hoặc:
Vốn lu động ròng = Vốn thờng xuyên ổn định Tài sản cố định ròng
Năm
Tổng tài sản lu
động
Tổng nợ ngắn hạn
1.2 Các tỷ số về khả năng cân đối vốn
* Tỷ số nợ trên tổng tài sản(hệ số nợ)
Hệ số nợ = Nợ phải trả / Tổng tài sản
Năm Nợ phải trả Tổng tài sản Hệ số nợ
2001 31855347742 71612376975 44,5%
2002 31274883894 76951227811 40,6%
2003 41922159584 90660641954 46,2%
2004 54653779649 108938536179 50,2%
2005 64495197559 122130249105 52,8%
Tỷ số nợ đo lờng phần vốn góp của các chủ sở hữu so với phần tài trợ của
các chủ nợ.Các chủ nợ sẽ nhìn vào tỷ số này để xem xét mức độ an toàn và sự bảo
đảm cho các món nợ.
Tỷ số nợ năm 2005 cao hơn các năm trớc. Nguyên chủ yếu là do nợ ngắn
hạn của công ty tăng nhiều qua các năm. Mặc dù trong năm 2003 và 2004 công ty
còn có các khoản nợ khác nhng tổng nợ phải trả trong các năm này vẫn không
bằng năm 2005.Tổng tài sản tăng nhng mức tăng không bằng mức tăng của các
khoản nợ
Tỷ số nợ của công ty cao bên cạnh đó tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tỷ
số thanh toán hiện hành thấp; tỷ lệ dự trữ trên vốn lu động lại quá cao đây thực sự
là một điều rất bất lợi cho công ty.Công ty sẽ khó có thể huy động đợc vốn để sản
xuất kinh doanh trong thời gian tới.Khi nhìn vào các con số này chủ nợ sẽ không
tin tởng vào sự bảo đảm cho các khoản vay.Nếu công ty có vay vốn đợc thì việc trả
nợ cũng là một vấn đè rất lớn.
* Khả năng thanh toán lãi vay hoặc số lần có thể trả lãi:
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trớc thuế và lãi / Lãi vay
Năm
Lợi nhuận trớc
thuế và lãi
2001 là 14,38 nhng 2 năm tiếp theo lại giảm xuống nhanh chóng, điều này cho
thấy hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty gặp khó khăn, tiền
không thể quay vòng nhanh để tiến hành sản xuất kinh doanh đợc. Tuy nhiên công
ty đã khắc phục đợc điều đó đa ra những chính sách phù hợp để cải thiện tình hình
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hoạt động của công ty. Thể hiện qua 2 năm 2004-2005, đã có sự tăng lên đáng kể.
Nhng chỉ thông qua vòng quay tiền thì chúng ta vẫn cha thể khẳng định hiệu quả
kinh doanh của nhà máy là tốt hơn mà phải kết hợp phân tích một số chỉ tiêu khác.
* Vòng quay dự trữ:
Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Vòng quay dự trữ = Doanh thu / Dự trữ
Năm Doanh thu Dự trữ Vòng quay dự trữ
2001 222486911006 19235793717 11,57
2002 250197924185 24787332891 10,09
2003 280504480400 21640929319 12,96
2004 293761656107 32551502303 9,02
2005 287790965662 33970726224 8,47
Từ kết quả trên cho thấy vòng quay tiền dự trữ qua 5 năm có xu hớng giảm
xuống. Điều đó chứng tỏ sự bất hợp lý và kém hiệu quả trong hoạt động quản lý
dự trữ của nhà máy thuốc. Khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng cần đợc xem
xét để có thể đa ra giải pháp xử lý đúng đắn và kịp thời. Nguyên nhân vòng quay
dự trữ năm 2005 thấp hơn so với các năm khác (2001-2004) là do doanh thu năm
2005 giảm trong khi đó sản phẩm dự trữ tăng lên.
Ta thấy trong năm 2005 vòng quay tiền lớn, nhng vòng quay dự trữ lại quá
thấp điều này là không tốt, bất hợp lý. Số lần tiền đợc đa quay trở lại tiến hành sản
xuất nhiều hơn số dự trữ (NVL, vật liệu phụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm).
* Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = (Các khoản phải thu*360)/DT