Di tích Địa Đạo Củ Chi
Di tích địa đạo Củ Chi ở xã Phú Mỹ Hưng nằm phía Bắc Củ Chi là một hệ thống
gồm hầm, địa đạo, giao thông hào, ụ chiến đấu, chủ yếu tập trung ở ấp Phú Hiệp
thuộc xã Phú Mỹ Hưng với diện tích gần 100 mẫu: Tây Bắc giáp sông Sài Gòn,
Đông Bắc giáp ấp Phú Lợi, Tây Nam giáp ấp Lộc Thuận, Lộc Hưng (Trảng Bàng)
và Đông Nam giáp ấp Phú Hòa.
Chọn Phú Hiệp lập hệ thống địa đạo là bởi vùng đất cao, lòng đất lẫn đá sỏi rắn chắc, có
thể chịu sức ép bom 500kg và xe cơ giới của địch. Đây là khu rừng chồi, tre và cao su lẫn
lộn rất thích hợp cho địa hình du kích chiến.
Năm 1961, địa đạo Củ Chi ở xã Phú Mỹ Hưng chỉ là những đường hầm ngầm sâu trong
lòng đất, kéo dài vài chục thước, đôi khi giao nhau, chồng chéo… cốt tránh địch hơn là
đối phó. Năm 1962, khi cuộc chiến chống đế quốc Mỹ bước sang giai đoạn quyết liệt,
đồng chí Võ Văn Kiệt, lúc này là bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định chỉ thị thành lập Ban
chỉ đạo xây căn cứ có tên gọi là căn cứ Phú Hiệp do đồng chí Mười Phước – chỉ huy
trưởng, các đồng chí: Tư Đạt, Năm Long, Ba Lùn, Tư Hùng – ủy viên và đồng chí Tám
Trương – trưởng văn phòng cùng một số chiến sĩ thuộc tiểu đoàn Vinh Quang.
Công trình lấy ngày kỷ niệm thành lập Đảng (3 tháng 2) khởi công. Theo bản thiết kế, địa
đạo Củ Chi được xây dựng dựa theo kinh nghiệm từ trước, bằng cách cứ khoảng 16m tạo
một giếng, đường kính 0,6m, sâu 3m, khi giáp mí thì lấp miệng. Từ đáy giếng dùng cuốc
chim khoét sâu tạo địa đạo có chiều ngang 50cm, cao 80cm. Địa đạo gồm các ngóc ngách
theo thế vừa chiến đấu, vừa tiếp nối từ hầm này đến hầm khác thành một thế liên hoàn
được tính toán hết sức khoa học. Bởi vậy có những đoạn cắt ngắn, có đoạn song song,
đoạn giao nhau, đoạn trên đoạn dưới, vòng vèo, quanh co, kéo dài đến trên 100 cây số.
Những nơi giao nhau hoặc sắp vào miệng hầm, địa đạo hẹp dần, có khi phải trườn hoặc
chui vào miệng hầm. Những giao điểm đặc biệt của địa đạo có chốt an toàn. Chốt là một
khúc gỗ, đầu nhọn dài hoặc khối mủ cao su đường kính 40cm có dây dài. Để bịt kín địa
đạo chỉ cần kéo mạnh dây, nút thắt cao su, hoặc khúc gỗ sẽ bịt kín đường hẹp địa đạo.
Chốt an toàn nhằm ngừa địch sử dụng hơi cay hoặc bơm nước độc xuống địa đạo.
Miệng địa đạo là một trong những cấu trúc đặc biệt, rất tinh vi thường lẫn lộn trong bụi
rậm, gò mối, kích thước vừa vặn một người chui vào 30cm x 40cm. Nắp hầm là mảnh gỗ
dày 10cm, mặt khỏa cỏ tươi, chụp vừa miệng hầm. Những lỗ thông hơi được tạo theo
hào xen kẽ ụ chiến đấu.
Giao thông hào sâu từ 1,2m đến 1,4m, ngang 0,5m, chạy vòng vèo theo địa hình và kỹ
thuật chiến đấu, cắt quãng hoặc tiếp nối các ụ chiến đấu. Uụ chiến đấu sử dụng bắn máy
bay gồm rãnh tròn đường kính 3m bao quanh mô đất cao quá đầu người, ở giữa. Xạ thủ
dùng mô đất vừa đặt súng, vừa làm vật cản, chạy quanh mô đất núp bắn máy bay địch.
Có ụ chiến đấu là hố sâu chứa từ 3 đến 5 người. Xạ thủ bố trí nhiều mặt chiến đấu. Trong
khu địa đạo Củ Chi có một giao thông hào song song con lộ 6 bố trí nhiều ụ chiến đấu,
trang bị hỏa lực mạnh nhằm lừa địch, nhử địch, chặn địch và tiêu diệt địch. Ngoài ra bốn
mặt khu địa đạo Phú Mỹ Hưng (căn cứ Phú Hiệp) còn có 4 trạm thông tin, báo động,
trang bị máy móc hiện đại.
Những đồng chí lãnh đạo cấp cao thường đến làm việc và ở tại căn cứ Phú Hiệp đôi lần
trong thời gian vài ngày đến vài tháng như:
• Đ/c Nguyễn Văn Linh (bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định từ 1965 – 1975);
• Đ/c Võ Văn Kiệt (bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định từ 1960 – 1965);
• Đ/c Trần Bạch Đằng – Uủy viên thường vụ Khu ủy (1960 – 1965), bí thư Phân khu 6
(tháng 10 – 1967);
• Đ/c Mai Chí Thọ – phụ trách An ninh (1965 – 1975);
• Đ/c Uút Một – Khu ủy viên phụ trách Tuyên huấn;
• Đ/c Nguyễn Văn Tứ – Khu ủy viên phụ trách Tổ chức công an;
• Đ/c Năm Đang – Khu ủy viên phụ trách Tổ chức phụ nữ;
• Đ/c Hai Mơ – Khu ủy viên phụ trách Quân sự;
• Đ/c Tám Lê Thanh, Trần Hải Phụng…
Tháng 1/1966, Mỹ huy động hàng ngàn tăng, pháo binh, không quân, hải quân và trên
3.000 quân đổ xuống vùng tam giác sắt (bao trùm cả địa đạo Phú Mỹ Hưng). Đây là trận
càn mang tên Crimp (cái bẫy) với đầy đủ vũ khí, kỹ thuật tối tân, cốt phá hệ thống địa
đạo. Các du kích luồn trong địa đạo, lúc ẩn lúc hiện, đánh phủ đầu rồi lại biến mất. Cuộc
hành quân tốn kém nhưng không thực hiện được ý đồ, nên một năm sau, ngày 8/1/1967,
địch tiếp tục mở cuộc càn lớn mang tên Cedarfall với trên 12.000 quân lính đủ các binh
chủng, được yểm trợ tối đa của phi cơ, pháo binh, thiết giáp đánh phá ác liệt khu địa đạo