Nghiên cứu mô hình quản trị tri thức tại một tổ chức và
đề xuất giải pháp hoàn thiện
con đường nào khác là phải xây dựng cho mình một mô hình quản trị tri thức phù hợp Với tính
cấp thiết như trên, nhóm chúng tôi đã nghiên cứu thảo luận đề tài “Nghiên cứu mô hình quản trị
tri thức tại một tổ chức và đề xuất giải pháp hoàn thiện”
Đề tài của nhóm chúng tôi gồm 3 phần chính:
Phần I: Cơ sở lý luận
Phần II: Mô hình quản trị tri thức tại FPT
Phần III: Đề xuất giải pháp hoàn thiện cho mô hình quản trị tri thức tại FPT
Phần I: Cơ sở lý luận
I. Khái niệm về tri thức, quản trị tri thức, kinh tế tri thức
1. Tri thức
Các khái niệm liên quan
Dữ liệu
Dữ liệu là những con số hoặc dữ kiện thuần túy, rời rạc mà quan sát hoặc đo đếm được
không có ngữ cảnh hay diễn giải. Dữ liệu được thể hiện ra ngoài bằng cách mã hóa và dễ
dàng truyền tải. Dữ liệu được chuyển thành thông tin bằng cách thêm giá trị thông qua ngữ
cảnh, phân loại, tính toán, hiệu chỉnh và đánh giá.
Thông tin
Thông tin là những mô hình hay tập hợp dữ liệu đã được tổ chức lại và diễn giải đặt trong bối
cảnh và nhằm một mục đich cụ thể. Thông tin là những thông điệp thường được thể hiện theo
dạng văn bản hoặc giao tiếp có thể thấy được hoặc không thấy được nhằm mục đích thay
đổi cách nhận thức của người nhận thông tin về vấn đề cụ thể, và gây ảnh hưởng đến sự đánh
giá và hành vi của người nhận. Vì thông tin là những dữ liệu được tổ chức lại vì một mục
đích nào đó, vì vậy mà nó sẽ giảm bớt sự không chắc chắn. Đó cũng chính là sự khác biệt của
với bối cảnh và công việc cụ thể. Tri thức ngầm rất khó để thể hiện trên các tài liệu, nhưng
lại có tính vận hành cao trong bộ não của con người.
Những tri thức này là dạng tri thức nằm trong đầu con người. Nhiều người cho rằng đây là
phần lớn tri thức bên trong một tổ chức. Những gì mà con người biết thì thường giá trị hơn là
những gì được viết ra. Vì vậy tạo ra mối liên hệ giữa người không biết và người biết là một
khía cạnh hết sức quan trọng của một tổ chức. Mục tiêu của quản trị tri thức là giúp chia sẻ
những tri thức ngầm bên trong một tổ chức sao cho mọi người đều có thể sử dụng những kiến
thức chuyên môn trong một lĩnh vực nhất định để giải quyết vấn đề cho khách hàng và tạo
nên những sản phẩm hiệu quả hơn. Ta có thể ví tri thức trong mỗi con người và tổ chức
giống như tảng băng trôi, nếu tri thức bộc lộ là phần nổi thì tri thức ngầm là phần chìm.
Tri thức hiện (Explicit knowledge):
Đây là những tri thức được giải thích và mã hóa dưới dạng văn bản, tài liệu, âm thanh, phim,
ảnh thông qua ngôn ngữ có lời hoặc không lời, nguyên tắc hệ thống, chương trình máy tính,
chuẩn mực hay các phương tiện khác. Những tri thức có cấu trúc thường được thể hiện ra
ngoài và dễ dàng chuyển giao. Ví dụ như các tri thức về chuyên môn được trình bày trong
giáo trình, sách, báo, tạp chí Những tri thức đã được cấu trúc hóa thường là tri thức hiện.
Trong tác phẩm có sức ảnh hưởng rất mạnh của mình–Công ty Sáng tạo Kiến thức–Nonaka
và Takeuchi đã phân biệt tri thức hiện và tri thức ngầm. Tri thức hiện là các tri thức được hệ
thống hóa trong các văn bản, tài liệu, hoặc các báo cáo, chúng có thể được chuyển tải trong
những ngôn ngữ chính thức và có hệ thống
Bảng phân biệt tri thức ẩn và tri thức hiện
Tri thức ẩn
(Gắn liền với con người)
Tri thức hiện
(Hổ sơ hóa)
Đặc
tính
• Mang tính cá nhân
• Mang tính bối cảnh cụ thể
Tri thức tiềm năng (Implicit knowledge – còn gọi là “potential
knowledge”):
Tri thức được chứa dưới dạng ngôn ngữ có lời hoặc không lời, hành động (cả khi ghi hình hay
thể hiện dưới dạng một phần của hệ thống truyền thông), mạng lưới những bộ óc đã được đào tạo,
tri thức gắn trong công nghệ, văn hóa, thực tiễn Hầu hết các doanh nghiệp đều có những dữ
liệu thể hiện doanh số bán hàng, khách hàng. Những doanh số này thể hiện tri thức tiềm năng –
là những số liệu mà từ đó tri thức mới có thể rút ra được nếu như dữ liệu này được truy cập và
phân tích.
Như vậy, nếu nhìn nhận tri thức trong phạm vi của tổ chức, chúng ta thấy bất kỳ tổ chức nào
cũng đều tồn tại ba dạng tri thức trên, chỉ có điều tổ chức có biết mình đang nắm giữ những tri
thức nào? chúng nằm ở đâu? ai nắm giữ? và cách thức sử dụng như thế nào? để khai thác một
cách hiệu quả tri thức nhắm phục vụ cho quá trình hoạt động hay sản xuất kinh doanh chính của
tổ chức để tạo ra giá trị mà thôi.
2. Quản trị tri thức - Knowledge Management
Quản trị tri thức là một khái niệm mới đang có nhiều tranh luận. Tuy nhiên dù tranh luận thế
nào thì bản chất Quản trị tri chức vẫn là một. Sự khác biệt chỉ là cách chúng ta tiếp cận nghiên
cứu và ứng dụng. Sau đây chúng tôi trình bày tổng quan về các khái niệm về quản trị tri thức
đang được các học giả trong và ngoài nước sử dụng, từ đó đưa ra khái niệm chung nhất mang
tính ứng dụng.
Knowledge Management hay còn gọi là quản trị tri thức (QTTT) là nghệ thuật hay khoa học
tập hợp dữ liệu có tổ chức và nhờ vào khả năng nhận biết, hiểu rõ các mối quan hệ và những kiểu
mẫu để chuyển nó thành thông tin hữu ích có tri thức và giá trị có thể dễ dàng truy cập.
Quản trị tri thức là một quá trình, một công cụ quản lý hiệu quả nhằm chia sẻ, thu nhận, lưu
giữ, lựa chọn, sáng tạo tri thức và cung cấp đúng người, đúng nơi, đúng lúc nhằm nâng cao hiệu
quả quyết định, hiệu quả thực thi và khả năng thích ứng của tổ chức.
Có rất nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau tuỳ theo cách nhìn và phương thức của
mỗi cá nhân hay tổ chức. Chúng bao gồm có quản lý, việc học hỏi của cá nhân và tổ chức, giao
- Quản trị tri thức là hoạt động mà hoạt động này quan tâm tới chiến lược và chiến thuật để
quản lý những tài sản mà trọng tâm là con người (human center assets).
-
Quản trị tri thức là quá trình hệ thống của việc nhận dạng, thu nhận và chuyển tải những
thông tin và tri thức mà con người có thể sử dụng để sáng tạo, cạnh tranh và hoàn thiện.
Trên cơ sở tổng kết các định nghĩa khác nhau về quản trị tri thức, McAdam và McGreedy (1999)
đã chỉ ra rằng chúng thể hiện một miền rộng lớn từ những quan điểm có tính cơ giới (coi tri thức
là tài sản) tới quan điểm thiên về định hướng xã hội (tri thức được tạo ra trong tổ chức thông qua
những quan hệ xã hội). Các định nghĩa về quản trị tri thức thể hiện nổi bật các đặc tính sau:
- Quản trị tri thức là một lĩnh vực có liên quan chặt chẽ với lý luận và thực tiễn, và là một
lĩnh vực mang tính đa ngành đa lĩnh vực.
- Quản trị tri thức không phải là công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin chỉ là yếu tố hỗ
trợ, nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản trị tri thức.
- Quản trị tri thức lấy yếu tố con người làm trọng tâm