Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Quỳnh Phụ- tỉnh Thái Bình - Pdf 12

Lời Mở Đầu
Phần I: Mở Đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội, giữ một vị trí hết
sức quan trọng. Vì nông nghiệp sản xuất ra những sản phẩm nuôi sống con người mà bất kỳ ngành
sản xuất khác không thể thay thế được. Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp ngành sản xuất lương
thực chiếm vị trí quan trọng quyết định sự thành bại, ấm no hay phồn vinh của nông nghiệp và
nông thôn, đôi khi là của toàn bộ nền kinh tế xã hội của quốc gia. Vì vậy việc phát triển sản xuất
lượng thực không những là quan trọng mà còn là chỗ dựa vững chắc để tạo đà phát triển cho các
ngành sản xuất khác trong nền kinh tế quốc dân. Ngoài ra lương thực còn là nguồn dự trữ để nhà
nước thực hiện chính sách xã hội. Từ những ý nghĩa cực kì to lớn như vậy Đảng và Nhà nứơc ta
đã lấy sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm cho các thời kì phát triển của đất nước.
Đối với nước ta, sản xuất lương thực chủ yếu và quyết định vẫn là lúa gạo. Do vậy việc
thâm canh sản xuất lúa vẫn là mục tiêu hàng đầu đặt ra. Quỳnh Phụ là một huyện thuần nông với
đa số dân cư sống dựa chủ yếu vào nông nghiệp. Cơ cấu nông nghiệp của huyện chủ yếu là trồng
trọt đặc biệt là ngành sản xuất lúa gạo chiếm cơ cấu và diện tích chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất
này. Vì vậy mà sản xuất lúa gạo quyết định lớn đến thu nhập và đời sống của các hộ sản xuất lúa
gạo trên địa bàn huyện. Tuy nhiên sản xuất lúa gạo vẫn còn nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quả không
cao. Điều này là do rất nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là do thiên tai hạn hán, lũ lụt, dịch
bệnh, trình độ áp dụng kỹ thuật khoa học mới còn nhiều hạn chế…
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Thực
trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái
Bình”
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
1.2.1. Mục tiêu chung.
Đánh giá thực trạng và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa, trên cơ sở đó đề xuất ra những giải pháp
để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nêu cơ sơ lý luận về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả sản xuất lúa nói riêng.
- Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân

trường. Mỗi giống lúa khác nhau cho năng xuất khác nhau và cùng một giống lúa với biện
pháp thâm canh khác nhau có thể cho năng xuất khác nhau. Mỗi giống lúa thích hợp với
từng loại đất nhất định và cho năng xuất cao khi đảm bảo yêu cầu kĩ thuật. Chính vì vậy
mà cần thiết phải nắm rõ các đặc điểm của cây lúa để có biện pháp canh tác thích hợp.
Ngoài ra sản xuất lúa còn mang nặng tính thời vụ. Thòi gian gieo cấy và thu hoạch dồn dập
đã gây sức ép lớn về lao động khi thời vụ đến nhưng sau khi thời vụ qua đi thì lao động lại
3
nhàn rỗi nhiều. Do đó phải có thêm nghề phụ để ổn định cuộc sống, giải quyết vấn đề lao
động trong lúc nông nhàn.
II. Vai trò sản xuất lúa gạo.
1. Gạo dùng làm lương thực – một trong những nhu cầu cơ bản của con người
Cây lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới: lúa mì, lúa, ngô. Lúa gạo là
nguồn cung cấp dinh dưỡng quan trọng của con người. Lúa cung cấp tinh bột: giá trị nhiệt
lượng của lúa là 3594 calo.Lúa cung cấp các vitamin, protein, lipit. Từ đặc điểm dinh
dưỡng của hạt, đã từ lâu lúa gạo được coi là nguồn thực phẩm và dược phẩm có giá trị. Tổ
chức Quốc tế đã gọi hạt gạo là “hạt của sự sống’’. Lúa cung cấp lương thực cho 1/2 dân số
thế giới. Trong cơ cấu sản xuất lương thực của thế giới: lúa mì chiếm 30,5%, lúa gạo
26,5%, ngô 24%, còn lại các loại ngũ cốc khác.
Ngoài việc sử dụng làm lương thực chủ yếu, các sản phẩm của cây lúa còn được sủ dụng
trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
2. Gạo dùng để chăn nuôi.
Nói chung, gạo dùng để chăn nuôi gia súc chủ yếu là tấm và gạo có chất lượng xấu.
Trước đây, khoảng 5% tổng sản lượng gạo được dùng để chăn nuôi hàng năm. Kể từ thập
kỉ 60, nhất là những năm đầu thập kỉ 90, tỷ lệ này giảm nhanh chóng bởi lẽ:
- Sự bùng nổ dân số ở các nước đang phát triển, trước hết là ở châu Á dẫn đến quan hệ
cung cầu gạo trên thế giới căng thẳng và giá gạo tăng trong những năm gần đây. Đặc
biệt năm 2007 và đầu năm 2008 này giá gạo tăng một cách chóng mặt.
- Trình độ kỹ thuật sản xuất và công nghệ chế biến gạo được chú trọng đáng kể đã
giảm nhanh chóng tỉ lệ tấm và không ngừng nâng cao chất lượng gạo, đáp ứng những
nhu cầu cấp thiêt của con người cả về chất lượng và số lượng.

5
Khí hậu thời tiết là yếu tố quan trọng nhất của điề kiện sinh thái có ảnh hưởng lớn nhất
và thường xuyên nhất tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Cây lúa có xuất
xứ từ vùng nhiệt đới nên điều kiện khí hậu nước ta thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và
phát triển. Trên đồng ruộng cây lúa chịu ảnh hưởng tổng hợp của các điều kiện khác nhau,
trong đó yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt nhất. Các yếu tố khác như ánh sáng, nước
cũng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Năm nào điều
kiện khí hậu thuận lợi thì năm ấy cây lúa cho năng xuất cao và ngược lại. Vì vậy có thể nói
yếu tố thời tiết khí hậu mang tính chất quyết định đến năng xuất lúa.
2. Nhóm biện pháp kĩ thuật canh tác
Biện pháp kĩ thuật canh tác là sự tác động của con người vào cây trồng như chọn giống,
kĩ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh…
+ Giống lúa: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới năng xuất và hiệu quả kinh tế của cây
lúa. Mỗi giống có nằng xuất nhẩt định và cho năng xuât cao khi đảm bảo yêu cầu kĩ thuật
của chúng. Tuy nhiên mỗi giống chỉ phù hợp với từng loại đất cụ thể, từng miền khí hậu
nhất định cho nên việc lựa chọn giống phù hợp và cho năng xuất cao đối với từng địa
phương là hết sức quan trọng và cần thiết.
+ Kĩ thuật chăm sóc: Đây là một khâu không thể thiếu trong quá trình sản xuất nếu muốn
đạt năng xuất cao. Trong quá trình chăm sóc phải cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho
cây trồng có như vậy mới đem lại năng xuất như mong muốn.
+ Phòng trừ sâu bệnh: Sâu bệnh là một trong những nguyên nhân làm giảm năng xuất
lúa. Ở cây lúa tình hình sâu bệnh rất phức tạp, với từng giống lúa thường xuyên xuất hiện
những loại sâu bệnh khác nhau. Trong quá trình sản xuất cần quan tâm tới đồng ruộng để
phát hiện kịp thời các loại bệnh. Từ đó có biện pháp tiêu diệt ngay khi chúng mới xuất
hiện. Phòng chống sâu bệnh kịp thời, hữu hiệu sẽ giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn và đem
lại năng xuẩt và chất lượng lúa tốt hơn.
3.Nhóm các nhân tố kinh tế- tổ chức.
6
Các nhân tố của nhóm này gồm nhiều vấn đề có thể chia ra như sau:
+ Trình độ năng lực của chủ thể sản xuất kinh doanh: nó có tác dụng quyết định trực tiếp

đáng kể. Năm 2004 sản lượng lúa gạo thế giới đạt 608,49 triệu tấn. Đến năm 2005 thế giới
sản xuất được 628 triệu tấn gạo đạt mức kỉ lục nhờ giá cả tăng trongnăm 2004 làm tăng
diện tích trồng trọt. Vụ lúa năm 2006 được tổ chức Nông- Lương Liên Hợp quốc(FAO)
đánh giá đang tiến triển tương đối tốt tại nhiều nước tại bán cầu nam hoặc gần xích đạo.
Một số nước thậm chí đã thu hoạch vụ lúa chính trước tháng 5/06. Số liệu ước tính của
FAO cho thấy sản lượng lúa thế giới năm 2006 có thể đạt 635 triệu tấn. Tại các nước thuộc
bán cầu nam, sản xuất lúa vụ năm 2006 của các nước Argentina, Australia, Indonesia,
Madagascar có thể tăng do vụ mùa diễn ra khá thuận lợi trong khi sản xuất lúa của Brazin,
Ecuador giảm.
2.Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam.
Từ sau khi có nghị quyết 10, giao ruộng đất cho nông dân và chính sách coi hộ nông
dân là đơn vị kinh tế tự chủ, nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc.
Nước ta từ chỗ thiếu đói về lương thực cho đến nay đã trở thành một trong những quốc gia
xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Hiện nay cây lúa được đưa vào sản xuất ở hầu hết các tỉnh
thành trong cả nước. Do điều kiện đa dạng của khí hậu địa hình và tập quán canh tác nên
nên sản xuất lúa gạo cũng phân bố không đều trong cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long là
vùng có diện tích gieo trồng lúa lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 51% tổng diện tích gieo
trồng lúa của cả nước. Tiếp đến là đồng bằng sông Hồng với diện tích gieo trồng chiếm
khoảng 16%. Các vùng còn lại chiếm khoảng 33% diện tích gieo trồng lúa cả nước. Diện
tích gieo trồng lúa tăng chủ yếu là do tăng vụ chứ không phải do diện tích đất canh tác
tăng.
8
Năng xuất lúa của Việt Nam liên tục tăng trong những năm vừa qua. Năm 1990 năng
xuất lúa chỉ mới đạt 31,9 tạ /ha/năm. Năm 2003 năng xuất trung bình của Việt Nam đạt
46,3 tạ/ha, tăng 1,45 lần so với năng xuất trung bình năm 1990. Hiện nay Việt Nam là
nước có năng xuất lúa cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, so với năng xuất
trung bình của các nước tiên tiến trên thế giới thì năng xuất của Việt Nam chỉ bằng 60 %.
Về sản lượng: cùng với chính sách đảm bảo an ninh lương thực, sản xuất lúa gạo của
Việt Nam đã đạt được nhiều thành công. Sản lượng lúa liên tục tăng.Sản lượng lương thực
năm 2005 là 39.622 nghìn tấn, năm 2006 là 39.648 nghìn tấn, năm 2007 là 39.977 nghìn

lúa kể trên trong 3 năm qua đều giảm nhẹ. Bình quân mỗi năm vụ xuân giảm 0,5% trong
khi đó vụ mùa giảm 0,6%. Tuy diện tích gieo trồng lúa trong những năm qua giảm nhưng
vị thế của cây lúa trong gieo trồng cây hàng năm của huện vẫn đứng hàng đầu.
Cây công nghiệp ngắn ngày trên địa bàn huyện rất đa dạng và phong phú bao gồm các
loại cây: cây đay, cói, lạc, vừng, đậu tương, thuốc lào. Tuy đa dạng như vậy nhưng chúng
chiếm phần diện tích gieo trồng rất khiêm tốn. Năm 2004 có 1396 ha diện tích gieo trồng
chiếm 4,44% diện tích gieo trồng, năm 2005 là 1338 ha chiếm 4,24%, năm 2006 là 1331 ha
chiếm 4,24%, bình quân mỗi năm giảm 0,24%. Nguyên nhân của tình trạng này là do đất
màu dần trở thành đất ở và đất làm trang trại. Trong nhóm cây công nghiệp thì đậu tương
được gieo trồng chủ yếu, bình quân trong vòng 3 năm tăng 2,6%. Cây đậu tương rất được
chuộng trong sản xuất cây vụ đông của nông dân trong huyện bởi vì kĩ thuật chăm sóc đơn
giản, đầu tư thấp và có hiệu quả cao hơn hăn so với cây trồng vụ đông khác. Cây lạc có
diện tích lớn thứ hai trong tổng diện tích gieo trồng cây công nghiệp: năm 2004 gieo trồng
275 ha chiếm 19,7% tổng diên tích gieo trồng cây công nghiệp, đến năm 2006 chỉ còn 168
ha, năm 2007 chỉ còn 151 ha. Diện tích cây lạc giảm một cách nhanh chóng là do lạc
10
không đem lại hiệu quả cao và người nông dân chuyển sang trồng đậu tương. Cây công
nghiệp còn lại chiếm cơ cấu và sản lượng nhỏ và luôn có sự biến động, sự biến động này
không ảnh hưởng nhiều đến giá trị sản xuất ngành trồng trọt.
Cây thực phẩm các loại nhiều năm qua phát triển không ngừng trừ năm 2005 lắng
xuống do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt làm rau màu sinh trưởng, phát triển kém. Năm
2004 diện tích của nhóm cây này là 2835 ha chiếm 9,03 % tổng diện tích gieo trồng cây
hàng năm, năm 2005 là 2760 ha giảm so với năm 2004 là 2,65% tức 75ha, đến năm 2006
tăng lên 3124 ha tăng so với năm 2005 là 13,19 ha, bình quân trong vòng 3 năm tăng 4,9%.
Cây thực phẩm rau màu ngày càng có giá trị kinh tế cao và đem lại nguồn thu đáng kể cho
nông dân, đặc biệt nhóm này được sản xuất phổ biến ở vụ đông. Ở nhiều xã như Quỳnh
Hải, Quỳnh Hội có trình độ thâm canh cây vụ đông rất cao.
II. Diện tích, năng xuất, sản lượng lúa của huyện các năm gần đây.
Cây lúa được thâm canh từ rất lâu đời trên mảnh đất Quỳnh Phụ, nó gắn bó mật thiết
với người dân nơi đây, nó đi sâu vào tâm lý của họ nhất định phải sản xuất lúa nếu không

hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên cho nên lúa xuân thường cho năng xuất cao hơn lúa
mùa.
Diện tích: Hiện nay cây lúa không mang lại hiệu quả kinh tế cao so với các cây trồng
màu khác hoặc rau màu chính vì thế mà trong những năm gần đây diện tích sản xuất lúa
cho hiệu quả thấp được chuyển dần mục đích sản xuất. Đây cũng chính là nguyên nhân
khiến diện tích lúa giảm dần. Ở vụ lúa giống, lúa chủ yếu là giống lúa dài ngày Xi23, thích
hợp với chân đất trũng. Năm 2005 diện tích lúa xuân là 12120 ha tăng so với năm 2004 là
0,67% tức là 81ha, đến năm 2006 chỉ còn 11940 ha giảm so với năm 2005 là 4,19%(180
ha). Bình quân 3 năm diện tích lúa xuân giảm 0,14%. Diện tích cấy lúa xuân ngắn ngày qua
2 năm 2006, 2007 phấn đấu toàn huện vẫn chỉ đạt được 67,3% diện tích gieo cấy. Diện tích
lúa mùa liên tục giảm bình quân trong 3 năm mỗi năm giảm 0,67%. Nguyên nhân là trong
những năm gần đây các yếu tố đầu vào trong sản xuất lúa tăng. Diện tích ở hai vụ lúa sản
xuất đều giảm dần, bình quân mỗi năm diện tích lúa của huện giảm 0,59%. hiện nay chủ
chương của huyện là chuyển đổi diện tích cấy lúa không có hiệu quả sang mục đích sử
12
dụng khác, sản xuất lúa gạo không cần tăng về diện tích mà chỉ cần tăng về năng xuất và
chất lượng.
Năng suất: yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa đó chính
là năng xuất, năng xuất lúa giữa hai vụ lúa xuân, lúa mùa khác nhau rõ rệt. Năm 2005 năng
xuất lúa xuân là 71,16 tạ/ha, lúa mùa chỉ đạt 51,8tạ/ha, lúa xuân cao hơn lúa mùa là 19,36
tạ/ ha; đến năm 2006 lúa xuân đạt 70,15 tạ/ha, lúa mùa đạt 61,2 tạ/ha mức chênh lệch chỉ
còn 8,95 tạ/ha. Năm 2007 năng xuất lúa xuân đạt 60,81 tạ, vụ mùa 62,65 tạ, mức chênh
lệch chỉ còn 1,84 tạ/ha. Qua bảng số liệu cho thấy năng xuất lúa xuân tương đối ổn định,
bình quân trong 3 năm có sự giảm nhẹ 0,33%. Nhưng ngược với lúa xuân lúa mùa có sự
biến động lón về năng xuất: năm 2005 do điều kiện thời tiết bất lợi cho sản xuất lúa vụ
mùa, cho nên năng xuất lúa mùa chỉ còn 51,9 tạ/ha, giảm 9,39% tức là 5,37 tạ/ha. Nhưng
đến năm 2006 điều kiện thời tiết thuận lợi đã làm cho năng xuất lúa mùa tăng vọt với 61,2
tạ/ha, tăng so với năm 2005 là 18,15%. Năm 2007 năng xuất lúa mùa đạt 62,65 tạ/ha. Bình
quân trong năng xuất lúa mùa tăng 3,46 %. Qua đây cho thấy năng sản xuất lúa chịu tác
động rất lớn của điều kiện tự nhiên. Trên địa bàn huyện 2 giống X23 và Q5 được sử dụng

qua các hình thức sau: Hộ có thể mang thóc gạo ra chợ bán, bán trực tiếp cho người tiêu
dùng tại nhà, bán cho người thu gom hoặc bán cho đại lí thu mua. Thông tin về giá lúa gạo
khá phổ biến thuận lợi cho nông dân trong việc tiêu thụ sản phẩm và có sự điều chỉnh theo
giá lúa gạo quốc gia. Lúa gạo từ các hộ nông dân hoặc những người thu gom tới đại lí thu
mua từ đó được chuyển đi chế biến xuất khẩu. Tuy nhiên trên địa bàn huyện không có một
cơ sỏ chế biến lúa gạo nào lớn chỉ có những cơ sở rất nhỏ chế biến gạo để bán cho nhân
dân trong huyện và các vùng phụ cận. Theo số liệu của phòng thống kê toàn huyện có 4 cơ
sở chế biến gạo nhỏ của tư nhân, trong đó có hai cơ sở ở thị trấn Quỳnh Côi.
IV. Những thuận lợi khó khăn.
1. Thuận lợi : Đất đai của huyện rất phù hợp cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt.
Mặt khác nông dân nơi đây có kinh nghiệm sản xuất lúa gạo từ lâu đời. Cơ sở hạ tầng
phục vụ cho sản xuất tương đối tốt: hệ thống thủy lợi và giao thông nội đồng đã được
38 xã phường nâng cấp và đi vào hoạt động rất tốt. Hệ thống khuyến nông đang trên
đà phát triển cùng với việc tổ chức các lớp tập huấn kết hợp với thông tin, tuyên
truyền đã góp phần nâng cao nhận thức trong sản xuất cho người nông dân.
Khó Khăn : Bên cạnh những thuận lợi nêu trên thì sản xuất của huyện cũng gặp một số
khó khăn. Khó khăn lớn nhất hiện nay là diện tích đất canh tác và đất sản xuất lúa của các
hộ quá ít, diện tích đât nông nghiệp được chia theo đầu người thấp. Đây chính là nguyên
nhân mà nông hộ không thực hiện quy mô sản xuất lớn hơn được.
V. Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của hộ nông dân.
1. Tình hình cơ bản của hộ điều tra.
15
* Đặc điểm cơ bản của hộ nông dân ở địa điểm nghiên cứu
Như các địa phương khác từ sau nghị quyết 10 của bộ chính trị, hộ nông dân của huyện
Quỳnh Phụ đã được trao quyền sử dụng ruộng đất ổn định và lâu dài, chính thức được coi
là đơn vị kinh tế tự chủ. Cùng với quá trình đổi mới của đất nước kinh tế hộ ở huyện ngày
một phát triển.
Tuy nhiên đối với hộ nông dân trong điều kiện sản xuất hàng hóa như hiện nay đang nổi
cộm lên một số vấn đề: diện tích đát đai của hộ nông dân ở đây còn manh mún, diện tích
đất bình quân trên đầu người thấp điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển sản

giống Q5 vào trong sản xuất lúa.
Tóm lại cơ cấu nhóm lúa ảnh hưởng tới năng xuất bình quân của các nhóm hộ. Tuỳ
vào điều kiện kinh tế khác nhau mà các hộ ra quyết định lựa chọn giống trong sản xuất,
thông thường các hộ có điều kiện kinh tế đang có xu hướng chuyển sang sản xuất lúa có
chất lượng cao còn các hộ khó khăn thì vẫn tập trung vào những giống đem lại năng xuất
cao.
5.Chi phí sản xuất lúa của các nhóm hộ
5.1Chi phí sản xuất lúa của các nhóm hộ ở hai vụ lúa xuân và lúa mùa
Đối với bất kì loại cây trồng nào ngoài yếu tố thời tiết khí hậu thì phân bón, giống,
thuốc bảo vệ thực vật,… đều ảnh hưởng tới năng xuất cây trồng. Trong sản xuất lúa việc
thay đổi mức đầu tư đều ảnh hưởng tới năng xuất lúa và hiệu quả kinh doanh mà cây lúa
đem lại. Vì vậy người sản xuất lúa quyết định đầu tư ở mức nào phù hợp với từng mùa vụ
là điều rất quan trọng. Nếu như đầu tư cao quá hoặc thấp quá ở các vụ khác nhau sẽ làm
giảm năng xuất lúa. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất
lúa ở các mức đầu tư khác nhau của các nhóm hộ điều tra.
17
a, Chi phí sản xuất lúa của các nhóm hộ ở vụ lúa xuân
Về chi phí trung gían: mức đầu tư chi phí cho một sào lúa giữa các nhóm hộ có sự khác
nhau rõ rệt. Bình quân mỗi sào lúa nhóm hộ khá đầu tư 192,12 nghìn đồng, nhóm hộ trung
bình đầu tư là 169,94 nghìn đồng, nhóm hộ nghèo đầu tư là 160,56 nghìn đồng. Qua so
sánh cho thấy mỗi sào lúa nhóm hộ khá đầu tư cao hơn nhóm hộ nghèo
Ở Quỳnh Phụ cây lúa được hết sức quan tâm trong sản xuất và kĩ thuật chăm sóc được
các khuyến nông viên huyện đặc biệt coi trọng. Các khuyến nông viên thường xuyên tổ
chức tập huấn cho khuyến nông các xã và các nông dân điển hình, giúp họ nắm vững kĩ
thuật từ đó phổ biến cho địa phương mình đang sinh sống và công tác. Các yếu tố đầu vào
để sản xuất chủ yếu là: phân đạm, phân lân, phân kli, NPK, phân hữu cơ, thuốc bảo vệ thực
vật…Tuy nhiên ở tuỳ mức độ kinh tế và yêu cầu kĩ thuật mà các hộ có những cách đầu tư
khác nhau.
Bảng: Chi Phí sản xuất lúa của các nhóm hộ ở vụ xuân
Tính cho một sào

có tác dụng lớn đối với quá trình tạo hạt của lúa và làm cho cây lúa cứng cáp, tăng cường
khả năng chống chịu của cây lúa. Nhận thức được tầm quan trọng của kali cho nên nhóm
hộ khá đầu tư lớn hơn so với các nhóm hộ khác. Trung bình mỗi sào lúa xuân nhóm hộ khá
đầu tư 3,76 kg cao hơn nhóm hộ trung bình là 5,92 % tương ứng với 0,21 kg và cao hơn
nhóm hộ nghèo là 58,65 % tương ứng với 1,39 kg. Nhóm hộ trung bình đầu tư cao hơn
nhóm hộ nghèo là 49,79 % tưng ứng với 1,18 kg. Đối với phân NPK: đây là loại phân chủ
yếu mà hộ sử dụng để cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa. Hộ khá do có tiềm lực kinh tế cao
nên có mức đầu tư cao hơn nhóm hộ trung bình và nhóm hộ nghèo. Trung bình mỗi sào lúa
xuân nhóm hộ khá có mức đầu tư phân NPK là 28,13 kg cao hơn nhóm hộ trung bình là
4,54 % tương ứng với 1,22 kg/sào và cao hơn nhóm hộ nghèo là 14,91 % tương ứng với
3,65 kg/sào. Nhóm hộ trung bình có mức đầu tư cao hơn nhóm hộ nghèo là 9,8 % tương
ứng với 2,43 kg/sào. Qua đây cho ta thấy nhóm hộ khá đầu tư phân vô cơ cao hơn nhóm hộ
nghèo và trung bình. Ngoài ra nhóm này còn biết cân đối tỷ lệ bón phân đạm, kali, với
NPK hơn hai nhóm hộ còn lại. Nhóm hộ nghèo đầu tư phân vô cơ thấp nhất và cũng kết
19
hợp 3 loại phân này kém nhất. Đối với phân chuồng: đây là loại phân mà các hộ tự cung
cấp được và có tác dụng rất tốt cho cây trông, và có tác dụng cải tạo đất tốt. Nó bổ sung
vào trong đất nhiều nguyên tố mà các phân vô cơ không có. nếu chỉ sử dụng phân vô cơ mà
không sử dụng phân hữu cơ thì đất nhanh chónh bị bạc màu. Qua điều tra cho thấy ở vụ lúa
xuân nhóm hộ khá đầu tư 2,71 tạ phân chuồng thấp hơn nhóm hộ trung bình là 0,73 %
tương ứng với 0,02 tạ và cao hơn nhóm hộ nghèo là 30,29 % tương ứng với 0,63 tạ. Nhóm
hộ trung bình đầu tư cao hơn nhóm hộ nghèo là 31,25 % tương ứng với 0,65 tạ. Hầu như
phân chuồng do chăn nuôi bao nhiêu đều được sử dụng hết trong sản xuất.
Phòng trừ sâu bệnh là vấn đề không thể thiếu được trong sản xuất nông nghiệp. Qua điều
tra cho thấy nhóm hộ khá có chi phí thuốc BVTV cao hơn nhóm hộ trung bình và nhóm hộ
nghèo. Bình quân mỗi sào lúa nhóm hộ khá có chi phí thuốc BVTV là 31,7 nghìn đồng,
nhóm hộ trung bình là 27,52 nghìn đồng, nhóm hộ nghèo là 26,42 nghìn đồng.
Chi phí lao động: hầu hết các nông hộ sản xuất lúa đều thuê làm đất và tuốt lúa, chi phí
mà họ bỏ ra cho phần thuê này là 78 nghìn đồng. Qua điều tra cho thấy mỗi nhóm hộ khác
nhau bỏ công lao động gia đình ra khác nhau. Trung bình mỗi sào lúa nhóm hộ khá bỏ ra

mùa nhóm hộ khá bỏ ra 6,64 công lao động, nhóm hộ trung bình 6,84 công, nhóm hộ
nghèo là 7,1 công.
Qua phân tích đầu tư sản xuất lúa ở cả hai vụ chúng ta nhận thấy đầu tư của hộ nghèo
còn thấp đặc biệt là lượng NPK. Chính điều này đã dẫn đến năng xuất lúa của nhóm hộ này
thấp hơn hẳn so với các nhóm khác. Nhóm hộ khá có tiềm lực kinh tế nên đầu tư hơn hẳn
so với các nhóm khác. Qua điều tra cho thấy phân chuồng được sử dụng trong sản xuất
21
phần lớn chưa qua sử lí đặc biệt là nhóm hộ nghèo và trung bình. Phân chuồng qua sử lý sẽ
tốt hơn rất nhiều và ít chứa mầm bệnh và các chất gây hại khác cho cây trồng. Để sử dụng
phân chuồng một cách hiệu quả hơn và tránh gây lãng phí, các khuyến nông viên cần
khuyến cáo nông dân sử lý phân chuồng trước khi đem vào sản xuất.
5.2Chi phí sản xuất giữa các giống khác nhau
a) Bất cứ cây trồng nào vật nuôi nào thì yếu tố giống cây trồng đều rất quan trọng.
Chúng có ảnh hưởng trực tiếp tới năng xuất của cây trồng, vật nuôi.
Chi phí sản xuất của các giống lúa ở vụ xuân
Tính cho một sào
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)
Chỉ tiêu
ĐV
T
Giống Cũ Giống mới
Xi23(1) Q5(2) Bắc Thơm
So sánh(%)
SL GT SL GT SL GT 1/2 2/3 1/3
1. CPTG 1000đ 178,25 173,342 193,254 102,83 89,70 92,24
- Giống Kg 2,94 16,50 3,08 15,000 2,97 21,000 110,00 71,43 78,57
- Đạm Kg 5,70 26,79 5,64 26,508 5,47 25,709 101,06 103,11 104,20
- Kali Kg 3,48 15,66 3,41 15,345 3,72 16,740 102,05 91,67 93,55
- Phân Chuồng Tạ 2,71 18,70 2,54 17,526 2,53 17,457 106,69 100,40 107,11
- NPK Kg 26,67 53,34

ứng với 1,72 nghìn đồng và thấp hơn giống Bắc Thơm là 10,26 % tương ứng với 3,05
nghìn đồng. Thực tế cho thấy giống Xi23 do canh tác trên đất trũng và có thời gian sinh
trưởng dài hơn nên có chi phí BVTV cao hơn các giống khác.
 Về lao động: Mỗi sào lúa giống Bắc Thơm được bỏ công lao động nhiều hơn.
Giống Q5 có thời gian sinh trưởng ngắn và thường cấy bằng mạ sân cho nên bỏ ít
lao động hơn. Bởi vì khâu chăm sóc của giống này cao hơn hai giống còn lại. Qua
so sánh cho thấy một sào lúa giống Xi23 đầu tư lao động cao hơn giống Q5 là 4,01
23
% tương ứng với 0,28 công và thấp hơn giống Bắc Thơm là 3,59 % tương ứng với
0,27 công, giống Q5 thấp hơn giống Bắc Thơm là 7,3 % tương ứng với 0,55 công.
b. Chi phí sản xuất lúa của các giống lúa ở vụ mùa.

Chi phí sản xuất lúa của các giống lúa ở vụ mùa.
Tính cho một sào
Chỉ tiêu ĐVT Q5 Bắc Thơm
SL GT SL GT
So
sánh(%)
1. CPTG 1000đ 161,93 180,12 111,23
- Giống Kg 2,99 15,00 2,91 21,00 140,00
- Đạm Kg 5,22 24,53 4,80 22,56 91,95
- Kali Kg 2,83 12,74 3,07 13,82 108,48
- Phân Chuồng Tạ 2,62 18,08 2,73 18,84 104,20
- NPK Kg 2,63 49,26 28,67 57,34 116,40
- Thuốc BVTV 1000đ 23,42 27,67 118,11
- Thủy lợi phí 1000đ 12,60 12,60 100,00
- Nộp HTX 1000đ 6,30 6,30 100,00
2. Chi phí LĐGĐ Công 6,78 189,84 7,43 208,04 109,59
( Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra )
 Về chi phí trung gian: qua bảng số liệu cho ta thấy giống Bắc Thơm có chi phí

- Kali Kg 3,48 15,65 3,42 15,40 98,45
- Phân Chuồng Tạ 2,32 16,04 3,00 20,69 129,00
- NPK Kg 29,79 59,59 24,89 49,79 83,56
- Thuốc BVTV 1000đ 28,37 28,15 99,22
- Thủy lợi phí 1000đ 12,60 12,60 100,00
- Nộp HTX 1000đ 6,30 6,30 100,00
2. Chi phí LĐGĐ Công 7,33 205,33 7,16 200,35 97,57
* Về chi phí trung gian: trong vụ lúa xuân xã Quỳnh Ngọc thường Gieo cấy trước
xã Quỳnh Lâm do vậy mà quá trình sinh trưởng lúa xuân của 2 xã này hoàn toàn
25

Trích đoạn Chi phí sản xuất lúa của các vùng sản xuất. Chi phí sản xuất lúa ở vụ mùa của các vùng Hiệu quả kinh tế giữa các giống lúa ở vụ xuân. Hiệu quả kinh tế giữa các giống lúa ở vụ mùa Ảnh hưởng của các yếu tố tới năng xuất lúa vụ xuân.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status