Luận văn: Quy chế đấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty Sông Đà - Pdf 12



1
Luận văn
Quy chế đấu thầu cơ sở
pháp lý và thực tiễn áp
dụng tại Tổng công ty
Sông Đà 2

LỜI MỞ ĐẦU
Cơ chế kinh tế thị trường xuất hiện cùng với công cuộc cải cách kinh tế
ở Việt Nam đã được trên 15 năm. Nhờ đó nền kinh tế đã thu được những
thành tựu quan trọng bước đầu, tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức độ
tương đối cao trong một thời gian dài. Cùng với sự phát triển của đất nước,
hoạt động xây dựng trong những năm gần đây đã có sự chuyển mình và đang
diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Ngành xây dựng nước ta đã có những bước phát
triển không ngừng về mọi mặt, trưởng thành nhanh chóng trong mọi lĩnh vực
của hoạt động xây dựng, có thể thiết kế, thi công hoàn thiện nhiều công trình
có quy mô lớn, hiện đại và ngày càng đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ xây dựng các
công trình công nghiệp, công trình dân dụng và hạ tầng kỹ thuật. Đóng góp
một phần không nhỏ vào thành tích này, ta phải kể đến hoạt động đấu thầu.
Đấu thầu xây dựng là công việc tuy mới được áp dụng ở nước ta từ
năm 1994 nhưng đến nay, qua nhiều bước hoàn thiện đã chứng tỏ phù hợp với
nền kinh tế thị trường, thực sự mang lại hiệu quả kinh tế to lớn, tiết kiệm chi
phí đầu tư xây dựng, thúc đẩy sự hoàn thiện của bản thân Nhà thầu về năng

Chương II: Vấn đề áp dụng pháp luật về đấu thầu xây lắp tại Tổng
công ty Sông Đà
Chương III: Kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ pháp lý về đấu thầu xây
lắp tại Tổng công ty Sông Đà

CHƯƠNG I- NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CHUNG VỀ
ĐẤU THẦU, ĐẤU THẦU XÂY LẮP
I - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẤU THẦU
1- Sự cần thiết phải tiến hành đấu thầu trong hoạt động xây dựng
Khi một dự án đã được phê duyệt, công việc tiếp theo là triển khai thực
hiện dự án. Để triển khai thực hiện dự án có rất nhiều việc phải làm như: tư 4

vấn, thiết kế kỹ thuật, thi công, mua sắm thiết bị, xây lắp Có hai cách để
thực hiện các công việc này:
- Chủ dự án tự mình làm tất cả các công việc của dự án
- Thuê các đối tác bên ngoài
Đối với cách thứ nhất, chủ dự án sẽ tự mình thực hiện toàn bộ dự án
bằng các nguồn lực sẵn có, phát triển những công nghệ sẵn có của mình. Nếu
theo cách thứ hai, chủ đầu tư sẽ phải tìm kiếm các đối tác cho các công việc
cụ thể, chi tiết của dự án từ một công ty khác bằng cách sử dụng hình thức
đấu thầu( khi đó chủ dự án sẽ là chủ đầu tư và các đối tác tham gia là các Nhà
thầu) để lựa chọn Nhà thầu thích hợp nhất hoặc chủ dự án có thể thoả thuận,
thuyết phục trực tiếp bên đối tác nhất định thực hiện dự án cho mình.
Tuy nhiên trong một nền kinh tế phát triển luôn tồn tại rất nhiều các

thức phổ biến và thực sự cần thiết để thực hiện dự án một cách hiệu quả.
2- Khái niệm, đặc điểm, yêu cầu đối với đấu thầu.
2.1 Khái niệm
Trên thực tế hiện nay tồn tại rất nhiều khái niệm, cách hiểu về đấu thầu.
Xuất phát từ Từ điển Tiếng việt, “ đấu thầu ” được hiểu là việc tổ chức cuộc
so đọ công khai ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được chấp
nhận. Theo đó thì “đấu thầu” là một cuộc đọ sức công khai giữa các tổ chức
về kỹ thuật và tài chính. Còn theo quan niệm chủ thầu( Bên mời thầu), cũng
như theo định nghĩa trong Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số
88/1999/NĐ- CP ngày 1/9/1999 của Chính phủ thì “đấu thầu” là quá trình lựa
chọn Nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của Bên mời thầu trên cơ sở cạnh
tranh giữa các Nhà thầu. Xét theo quan niệm Nhà thầu thì “đấu thầu” là cuộc
cạnh tranh gay gắt giữa các Nhà thầu để nhận được dự án cung cấp các sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ từ Bên mời thầu. Vậy đứng trên quan niệm Nhà
thầu và chủ thầu, “đấu thầu” là cuộc “thi tuyển” trong hoạt động xây dựng
giữa các Nhà thầu thoả mãn các yêu cầu của chủ thầu từ đó lựa chọn được
Nhà thầu thích hợp nhất.
Một số thuật ngữ liên quan theo Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo
Nghị định số 88/1999/NĐ- CP ngày 1/9/1999 của Chính phủ: 6

“Dự án” là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công
việc đáp ứng mục tiêu hoặc yêu cầu nào đó. Dự án bao gồm dự án đầu tư và
dự án không có tính chất đầu tư.
“Người có thẩm quyền” là người đứng đầu hoặc người được uỷ quyền
theo quy định của pháp luật thuộc tổ chức, cơ quan nhà nước hoặc doanh
nghiệp.
“Cấp có thẩm quyền” là tổ chức, cơ quan được người có thẩm quyền

đấu thầu mua sắm hàng hoá). Các tổ chức, cá nhân này muốn tham gia đấu
thầu phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu được quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật.
Thứ hai, khác với hình thức đấu giá chỉ có một người bán mà có nhiều
người mua, đấu thầu là phương thức có một người mua nhưng có rất nhiều
người bán. Trong đó chủ đầu tư là người mua, Nhà thầu là người bán, người
bán nào trả giá thấp nhất với chất lượng cao sẽ được người mua lựa chọn hay
chính là trúng thầu.
Chính các đặc điểm trên đã tạo ra cho đấu thầu những ưu điểm riêng
mà các hình thức lựa chọn Nhà thầu khác không có.
2.3 Yêu cầu với đấu thầu trong hoạt động xây dựng
Khi chủ đầu tư muốn tổ chức đấu thầu để lựa chọn Nhà thầu cho dự án
của mình, cả quy trình đấu thầu đó phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nhất định
theo quy định của pháp luật. Yêu cầu đầu tiên đối với đấu thầu là việc lựa
chọn Nhà thầu phù hợp nhất nhưng phải đảm bảo tính cạnh tranh. Nếu không
đảm bảo tính cạnh tranh thì quy trình đấu thầu đó sẽ không bao giờ tồn tại
được. Thứ hai, chủ đầu tư muốn tiến hành đấu thầu chỉ khi đã xác định được
nguồn vốn để thực hiện dự án, điều này đảm bảo tính minh bạch và tiến độ
của hoạt động đấu thầu. Yêu cầu thứ ba đặt ra đối với đấu thầu là cả bên mời
thầu và Nhà thầu không được kéo dài thời gian thực hiện đấu thầu, phải luôn
bảo đảm tiến độ, hiệu quả của đấu thầu trong hoạt động xây dựng đồng thời
bên dự thầu phải có phương án kỹ thuật tối ưu, công nghệ hiện đại, có giá dự
thầu hợp lý khi tham gia đấu thầu, điều này tạo tính hiệu quả, chất lượng cho
dự án. Bên cạnh đó để tránh các tiêu cực thường xuất hiện trong hoạt động 8

đấu thầu, các Nhà thầu không được sử dụng tư cách pháp nhân của tổ chức
khác để tham gia dự thầu; dàn xếp; mua bán thầu; dùng ảnh hưởng của mình

đấu thầu đã được áp dụng từ lâu và mang lại hiệu quả to lớn, còn ở Việt Nam
hình thức này còn rất mới. Để tạo ra môi trường pháp lý nhằm tăng cường
hiệu quả của hình thức đấu thầu, cùng với việc tổ chức thực hiện, các văn bản
có tính quy chế được xây dựng, bổ sung và sửa đổi ngày càng hoàn thiện hơn.
- Đầu những năm 1990, trong các văn bản quản lý đầu tư xây dựng đã
xuất hiện “ Quy chế đấu thầu trong xây dựng” nhưng chưa rõ ràng.
- Tháng 3/1994- Bộ Xây dựng ban hành “ Quy chế đấu thầu xây lắp”
( Quyết định số 06/BXD- VKT thay cho Quyết định số 24/BXD- VKT
trước đây). Đây là văn bản được coi là Quy chế đấu thầu đầu tiên, theo
đó quy định tất cả công trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước đều phải
thực hiện đấu thầu.
- Đến ngày 16/4/1994, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 183
TTg. Theo Quy chế này, các dự án dùng vốn Nhà nước( bao gồm Ngân
sách cấp, vốn vay, vốn viện trợ, vốn Nhà nước ở các doanh nghiệp) đều
phải qua đấu thầu, kết quả đấu thầu có vốn đầu tư trên 10 triệu USD
phải thông qua Hội đồng xét thầu quốc gia thẩm định để trình Thủ
tướng Chính phủ xem xét và phê duyệt.
- Năm 1996, Chính phủ ban hành Quy chế đấu thầu kèm theo Nghị định
số 43/CP ngày 16/7/1996. Văn bản này mang tính pháp lý cao hơn và
phạm vi điều chỉnh rộng hơn, theo đó, “gói thầu” lần đầu tiên đã trở
thành đối tượng quản lý của công tác đấu thầu.
Nghị định 43/CP của Chính phủ đã được thay thế bằng Nghị định số
88/CP ngày 1/9/1999 và Nghị định này đã được bổ sung, sửa đổi bởi
Nghị định số 14/CP ngày 5/5/2000. Từ năm 1999 đến năm 2003, công
tác đấu thầu được điều chỉnh chủ yếu bằng Nghị định số 88/CP và Nghị
định số 14/CP, so với cơ chế cũ thì nhiều vấn đề đã sáng tỏ hơn,
phương pháp đánh giá để đấu thầu đã khoa học hơn, chuẩn mực hơn
- Nền kinh tế ngày càng phát triển, yêu cầu đặt ra với đấu thầu ngày càng
cao. Để đáp ứng các yêu cầu đó, năm 2003, Chính phủ đã ban hành


xem xét, quyết định trước khi ký kết. Trường hợp văn bản thoả thuận 11
đã ký có những nội dung liên quan với quy định về đấu thầu khác với
Quy chế đấu thầu của Việt Nam thì áp dụng theo văn bản đã ký. Riêng
thủ tục để trình duyệt, thẩm định phê duyệt kế hoạch đấu thầu và kết
quả lựa chọn Nhà thầu thực hiện theo Quy chế đấu thầu tại Việt Nam.
- Các dự án cần lựa chọn đối tác đầu tư để thực hiện:
 Đối với các dự án đầu tư trong nước, chỉ thực hiện khi có từ hai
nhà đầu tư trở lên cùng muốn tham gia một dự án;
 Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài, chỉ tổ chức đấu thầu
theo Quy chế đấu thầu khi có từ hai nhà đầu tư trở lên cùng
muốn tham gia một dự án hoặc Thủ tướng Chính phủ yêu cầu
phải đấu thầu để lựa chọn đối tác đầu tư thực hiện dự án.
- Đầu tư mua sắm đồ dùng, vật tư, trang thiết bị, phương tiện làm việc
của các cơ quan nhà nước, đoàn thể, doanh nghiệp nhà nước; đồ dùng
và phương tiện làm việc thông thường của lực lượng vũ trang. Bộ Tài
chính quy định chi tiết phạm vi mua sắm, trách nhiệm, quyền hạn của
đơn vị mua sắm theo Luật Ngân sách nhà nước.
Với các dự án trên, các quy định của Nhà nước đang ngày càng mở rộng
đối tượng áp dụng phương thức đấu thầu.
5- Phân loại đấu thầu trong xây dựng
Trên thực tế có rất nhiều cách phân loại đấu thầu khác nhau nhưng có
một số cách phân loại phổ biến như sau:
5.1- Phân loại theo phạm vi gói thầu đối với các Nhà thầu:
Dựa theo các lĩnh vực hoạt động khác nhau của dự án đem đấu thầu,
người ta có thể nhóm thành các loại đấu thầu như sau:
Đấu thầu trong nước: Đây là phương thức đấu thầu chỉ có các Nhà thầu
trong nước tham dự.

Theo cách phân loại này đấu thầu được chia làm các loại đấu thầu rộng
rãi, đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu. 13
Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng Nhà
thầu tham gia. Khi đó bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều
kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông
báo trên tờ thông tin về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Nhà nước và
của Bộ, ngành địa phương tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời
thầu. Đây là hình thức chủ yếu áp dụng trong đấu thầu hiện nay.
Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số
Nhà thầu( tối thiểu là 5 người) có đủ kinh nghiệm và năng lực tham dự. Hình
thức này chỉ được xem xét áp dụng khi có một trong các điều kiện sau:
- Chỉ có một số Nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu
- Do nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế
- Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế.
Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp Nhà thầu đáp ứng yêu cầu của
gói thầu để thương thảo hợp đồng. Hình thức này chỉ được áp dụng trong các
trường hợp đặc biệt có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, cấp bách do thiên tai
địch hoạ, hay có liên quan đến bí mật quốc gia. Một số dự án trong loại này
thường do Thủ tướng Chính phủ quyết định và cho phép. Các dự án được chỉ
định thầu hay gói thầu thường có giá trị nhỏ. Đối với các gói thầu lớn phải
thông qua Thủ tướng Chính phủ xét duyệt.
Chào hàng cạnh tranh là hình thức áp dụng cho những gói thầu mua
sắm hàng hoá có giá trị dưới 2 tỷ đồng. Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 chào
hàng của 3 Nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của Bên mời
thầu.
Mua sắm trực tiếp là hình thức được áp dụng trong trường hợp bổ sung
hợp đồng cũ đã thực hiện xong( dưới 1 năm) hoặc hợp đồng đang thực hiện

Giai đoạn thứ nhất: các Nhà thầu nộp hồ sơ dự thấu sơ bộ gồm đề xuất
về kỹ thuật và phương án tài chính( chưa có giá) để Bên mời thầu xem xét và
thảo luận cụ thể với từng Nhà thầu, nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn
kỹ thuật để Nhà thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ dự thầu chính thức của mình; 15
Giai đoạn thứ hai: Bên mời thầu mời các Nhà thầu tham gia trong giai
đoạn thứ nhất nộp hồ sơ dự thầu chính thức với đề xuất kỹ thuật đã được bổ
sung hoàn chỉnh trên cùng một mặt bằng kỹ thuật và đề xuất chi tiết về tài
chính với đầy đủ nội dung về tiến độ thực hiện, điều kiện hợp đồng, giá dự
thầu.
6- Nguyên tắc trong đấu thầu
Toàn bộ quy trình của đấu thầu đều tuân theo một số các nguyên tắc
nhất định nhằm đưa hoạt động đấu thầu theo một quy chế chung. Các nguyên
tắc chính điều chỉnh đấu thầu như sau:
6.1- Nguyên tắc cạnh tranh với điều kiện ngang nhau:
Mỗi cuộc đấu thầu đều phải được thực hiện với sự tham gia của một số
Nhà thầu có đủ năng lực để hình thành một cuộc canh tranh mạnh mẽ. Điều
kiện đặt ra với các đơn vị ứng thầu là thông tin cung cấp cho họ phải ngang
nhau, nhất thiết không có sự phân biệt đối xử, phải bình đẳng để tạo ra sự
cạnh tranh lành mạnh giữa các Nhà thầu, đảm bảo cho các Nhà thầu khi tham
dự thấy mình bình đẳng như các Nhà thầu khác.
6.2- Nguyên tắc dữ liệu đầy đủ
Các Nhà thầu phải nhận được đầy đủ tài liệu đấu thầu từ Bên mời thầu
với các thông tin chi tiết, rõ ràng và có hệ thống về quy mô, khối lượng, quy
cách, yêu cầu chất lượng của công trình hay hàng hoá dịch vụ cần cung ứng,
về tiến độ và điều kiện thực hiện( có nghĩa là chủ công trình phải nghiên cứu,
tính toán, cân nhắc thấu đáo để tiên liệu rất kỹ và rất chắc về mọi yếu tố có
liên quan, phải cố tránh tình trạng chuẩn bị sơ sài, tắc trách). Khi có đầy đủ

Chủ đầu tư đảm bảo giữ bí mật về giá trần( thường lấy theo giá dự toán
được cấp có thẩm quyền phê duyệt) của gói thầu và lưu giữ hồ sơ dự thầu gốc
của các Nhà thầu theo chế độ bảo mật của nhà nước. Các Hồ sơ dự thầu, trước
sự chứng kiến của hội đồng mở thầu Hồ sơ dự thầu được bóc niêm phong.
Trên đây là một số nguyên tắc chính trong đấu thầu, ngoài ra còn rất
nhiều nguyên tắc khác điều chỉnh đấu thầu như nguyên tắc pháp lý, nguyên
tắc công khai minh bạch 17
7- Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động đấu thầu
Khi tham gia hoạt động đấu thầu, người có thẩm quyền, Bên mời thầu
và Nhà thầu có các quyền và nghĩa vụ khác nhau nhưng tổng thể tạo ra sự
nhịp nhàng cho hoạt động đầu tư xây dựng.
7.1- Quyền và nghĩa vụ của Bên mời thầu
Quyền:
- Yêu cầu các bên dự thầu cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho việc
lựa chọn Nhà thầu.
- Lựa chọn Nhà thầu trúng thầu hoặc huỷ bỏ kết quả lựa chọn Nhà thầu
theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ:
- Lập Hồ sơ mời thầu, kế hoạch đấu thầu phù hợp với nội dung của dự án
đầu tư xây dựng công trình đã được phê duyệt.
- Kiểm tra việc kê khai năng lực hoạt động xây dựng, giấy phép hành
nghề xây dựng và tình trạng tài chính của bên dự thầu được lựa chọn.
- Đáp ứng đầy đủ, kịp thời nguồn vốn để thực hiện công việc theo tiến
độ;
- Thông báo những yêu cầu cần thiết cho các bên dự thầu và thực hiện
đúng các nội dung đã thông báo;

- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Khi trúng thầu, Nhà thầu có trách nhiệm thực hiện dự án theo đúng tiến
độ, đúng thiết kế trong Hồ sơ dự thầu và trên hết phải đảm bảo chất lượng của
dự án.
7.3- Trách nhiệm của người quyết định đầu tư xây dựng công trình
- Kiểm tra, xử lý các vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lựa
chọn Nhà thầu;
- Đình chỉ việc lựa chọn Nhà thầu, huỷ bỏ kết quả lựa chọn Nhà thầu khi
xuất hiện có những hành vi vi phạm trong lựa chọn Nhà thầu;
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật, bồi thường thiệt hại do các quyền của
mình gây ra. 19
8- Quản lý nhà nước về đấu thầu
Đấu thầu là một hoạt động quan trọng trong nền kinh tế cho nên đứng
về phía Nhà nước, cần phải phân cấp cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động
đấu thầu nhằm tạo ra sự ổn định, sự nề nếp cho hoạt động đấu thầu.
Theo đó cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu bao gồm:
- Chính phủ thống nhất quản lý công tác đấu thầu trên phạm vi cả nước
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện
quản lý công tác đấu thầu.
- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
quản lý nhà nước về đấu thầu trong phạm vi và trách nhiệm của mình,
đồng thời cử một Thứ trưởng hoặc các cấp phó tương ứng( ở cơ quan
ngang Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) trực tiếp chỉ
đạo công tác đấu thầu.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
phường, xã, thị trấn quản lý nhà nước về đấu thầu đối với các gói thầu

thành có hiệu quả, chất lượng công trình mới được đảm bảo. Việc lựa chọn
này được thực hiện đối với các công việc, nhóm công việc hoặc toàn bộ công
việc lập quy hoạch chi tiết xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình,
khảo sát, thiết kế, riêng đối với xây lắp thì lựa chọn Nhà thầu để thi công xây
dựng, giám sát và các hoạt động xây dựng khác. Mặt khác, việc lựa chọn Nhà
thầu là nhằm tìm được Nhà thầu chính, tổng thầu, thầu phụ có đủ điều kiện
năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng phù hợp với loại
và cấp công trình.
Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có thể giao một phần công việc của hợp
đồng cho các thầu phụ. Thầu phụ phải có đủ năng lực hoạt động xây dựng,
năng lực hành nghề xây dựng tương ứng và được chủ đầu tư xây dựng công
trình chấp nhận; thầu phụ không được giao toàn bộ hoặc phần việc chính theo
hợp đồng cho các Nhà thầu khác. 21
Để chọn được Nhà thầu tốt nhất thì việc lựa chọn phải đảm bảo những
yêu cầu sau:
- Đáp ứng được hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình
- Chọn được Nhà thầu có đủ điệu kiện năng lực hoạt động xây dựng,
năng lực ngành nghề xây dựng phù hợp, có giá dự thầu hợp lý;
- Khách quan, công bằng, công khai, minh bạch;
- Trong việc lựa chọn Nhà thầu, người quyết định đầu tư, chủ đầu tư xây
dựng công trình có quyền quyết định hình thức lựa chọn Nhà thầu.
2- Điều kiện thực hiện đấu thầu xây lắp
Việc thực hiện đấu thầu nói chung và đấu thầu xây lắp nói riêng luôn đi
kèm các điều kiện mà các bên chủ thể của đấu thầu phải đáp ứng thì đấu thầu
mới được tổ chức. Các điều kiện được đặt ra đối với dự án, bản thân các Nhà
thầu và bên mời thầu.
2.1- Điều kiện tổ chức đấu thầu

2.2.1- Đối với Nhà thầu là tổ chức trong nước:
Khi đó Nhà thầu( các doanh nghiệp xây dựng) phải có giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép kinh doanh và thực hiện đúng theo
đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp
hoặc có quyết định thành lập( đối với các đơn vị không có đăng ký kinh
doanh) do cơ quan có thẩm quyền cấp và thực hiện đúng theo quyết định
thành lập. Đây là yêu cầu đầu tiên đối với bất cứ một doanh nghiệp muốn
tham gia bất cứ lĩnh vực, hoạt động kinh tế nào.
2.2.2- Đối với Nhà thầu nước ngoài
Nhà thầu nước ngoài có đăng ký hoạt động hợp pháp do cơ quan có
thẩm quyền của nước nơi Nhà thầu mang quốc tịch. Bên cạnh đó, để được
tham dự đấu thầu tại Việt Nam các Nhà thầu nước ngoài phải lập hồ sơ xin
cấp Giấy phép thầu xây dựng công trình. Giấy phép này được cấp cho từng
hợp đồng nhận thầu, đây là chứng chỉ pháp lý để Nhà thầu nước ngoài thực 23
hiện xây lắp công trình, để quan hệ với các cơ quan Nhà nước Việt Nam trong
việc thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan tại Việt Nam.
2.3- Điều kiện đấu thầu quốc tế
2.3.1- Điều kiện tiến hành đấu thầu quốc tế
Đấu thầu quốc tế là một hình thức vô cùng quan trọng trong nền kinh tế
hiện nay nhưng do để đảm bảo quyền lợi cho sự phát triển của ngành Xây
dựng trong nước thì chỉ được tổ chức đấu thầu quốc tế trong các trường hợp:
Thứ nhất là gói thầu mà không có Nhà thầu nào trong nước có khả năng
đáp ứng yêu cầu của gói thầu về kỹ thuật cũng như về tài chính;
Thứ hai là các dự án sử dụng nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế
hoặc của nước ngoài có quy định trong Điều ước là phải đấu thầu quốc tế.
Ngoài các trường hợp trên thì bắt buộc phải tổ chức đấu thầu trong
nước.

nhau, sẽ ưu tiên Hồ sơ dự thầu có tỷ lệ lao động trong nước nhiều hơn và các
Nhà thầu trong nước, trong các gói thầu xây lắp, khi xác định giá đánh giá
việc ưu đãi thực hiện bằng cách cộng thêm 7.5% giá trị dự thầu.
3- Hình thức, phương thức đấu thầu xây lắp
Do đặc điểm riêng của đấu thầu xây lắp là việc lựa chọn Nhà thầu để
xây dựng và lắp đặt thiết bị công trình nên để tổ chức đấu thầu, Bên mời thầu
chỉ có thể áp dụng các hình thức, phương thức nhất định. Trong đó các hình
thức thường được áp dụng trong đấu thầu xây lắp như đấu thầu rộng rãi, đấu
thầu hạn chế và chỉ định thầu với các phương thức như đấu thầu một túi hồ
sơ; đấu thầu hai túi hồ sơ và đấu thầu hai giai đoạn nhiều khi cả hình thức tự
thực hiện cũng được áp dụng. Trên thực tế hiện nay, hình thức phổ biến nhất
là hình thức đấu thầu rộng rãi.
4- Quy trình thực hiện đấu thầu xây lắp
Việc tổ chức đấu thầu xây lắp được thực hiện theo trình tự sau:
4.1- Chuẩn bị đấu thầu
4.1.1- Lập kế hoạch đấu thầu 25
Kế hoạch đấu thầu do Bên mời thầu lập và người có thẩm quyền quyết
định đầu tư phê duyệt. Trường hợp chưa đủ điều kiện để lập kế hoạch đấu
thầu toàn bộ dự án thì Bên mời thầu có thể lập kế hoạch đấu thầu từng phần
của dự án theo các giai đoạn đầu tư khác nhau.
Phân chia dự án thành các gói thầu: Việc phân chia gói thầu phải phù
hợp với công nghệ, tính chất hoặc trình tự thực hiện dự án, có quy mô hợp lý
và đảm bảo tính đồng bộ của dự án, chủ đầu tư không được chia dự án thành
các gói thầu quá lớn ( trừ một số trường hợp đặc biệt) làm giảm tính hợp lý
của dự án, hạn chế sự tham gia của các Nhà thầu trong nước.
Giá của các gói thầu: được xác định trên cơ sở phù hợp với cơ cấu tổng
mức đầu tư trong Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tổng dự toán được người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status