LUẬN VĂN: Cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại – Yếu tố tiền đề chủ
yếu của kinh tế tri thức
Nội dung
I. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại – Yếu tố tiền đề chủ
cho đến các phần mềm ứng dụng và các phần mềm hệ thống. Một phần quan trọng
nữa trong CNTT phải kể đến là các loại thiết bị viễn thông, điện tử công nghiệp,
điện tử tiêu dùng Mạng máy tính và internet đã và đang trở thành hệ thống huyết
mạch quan trọng trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội. Năm 1993 đã có 1
triệu người nối mạng, đến tháng 3 – 2000 số người dùng đã lên tới 280 triệu. Rõ
ràng là mạng internet không còn là một phương tiện kĩ thuật thuần túy mà đã
thành một môi trường mới cho mọi hoạt động của con người và có tác động rất
lớn đến sự chuyển biến nhanh chóng của đời sống con người trên khắp hành tinh.
Thứ đến là công nghệ sinh học (CNSH), đây là một bước đột phá vào thế
giới đầy bí ẩn của sự sống. Nó bắt đầu bằng việc khám phá ra các phân tử hình
xoắn kép (ADN). Công nghệ cao này đã tạo ra một tiềm năng vô tận cho sản xuất
ra các loại lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các vật liệu công nghiệp
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người.
Cùng với CNTT và CNSH là một loạt các công nghệ cao khác: công nghệ
vật liệu mới, công nghệ năng lượng công nghệ hàng không – vũ trụ Nhiều loại
vật liệu mới với các tính năng ưu việt không thể tìm thấy trong tự nhiên đã được
tạo ra: vật liệu tổ hợp, vật liệu com-pô-zit, các chất bán dẫn Nhiều nguồn năng
lượng mới được tạo ra để thay thế các nguồn năng lượng tự nhiên sắp cạn kiệt, đặc
biệt là năng lượng nguyên tử. Đáng chú ý là công nghiệp hàng không-vũ trụ với
triển vọng đưa con người đến với các hành tinh khác trong vũ trụ
Nhờ các công nghệ cao đó, nền kinh tế thế giới đạt mức tăng trưởng chưa
từng có. Ngày nay, tổng sản phẩm của thế giới ước tính khoảng 30.000 tỉ USD
nghĩa là gấp khoảng 123 lần so với tổng sản phẩm thế giới những năm 50 (1300 tỉ
USD). Có thể nói, bộ phận cách mạng nhất tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư
của lực lượng sản xuất to lớn của loài người ngày nay là khoa học công nghệ. Các
Mác đã dự báo rằng khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và đã trở
thành hiện thực. Chính điều đó đã tạo tiền đề cho sự hình thành kinh tế tri thức.
Hình thái
kinh tế Đặc
trưng
Hình thái th
ứ
nhất
(Kinh tế sức
người)
Hình thái thứ hai
(Kinh tế tài
nguyên)
Hình thái thứ ba
(Kinh tế thị
trường)
1 Định vị
trong sơ đồ
Kinh tế tự nhiên,
tương đương với
nền kinh tế nông
nghiệp và xã hội
nông dân cổ
truyền.
Hình thái thị trường,
tương đương với
nền kinh tế thị
trường của đại công
nghiệp cơ khí và Xã
hội công nghiệp.
– Công nghệ), kĩ
năng lao động.
4 Tầm quan
trọng của
khoa học
Nhỏ Lớn Rất lớn 5 Tỷ lệ đóng
góp của khoa
học - công
nghệ cho
Dưới 10% Trên 40 % Trên 70%
tăng trưởng
kinh tế
6 Tầm quan
trọng của
giáo dục
Nhỏ Lớn Rất lớn
7 Bình quân
trình độ văn
hóa
Tỷ lệ mù chữ cao Trung học Trung học
chuyên nghiệp
8 Kết cấu công
nghệ: - Nông
nghiệp
Trên 50% 10 – 20% Dưới 10%
- Công
nghiệp
Khoảng 15 -20% Trên 30% Dưới 20%
- Công nghệ
cao
10 -15% Trên 40%
11 Trình độ tổ
chức xã hội
Đơn giản Phức tạp Rất phức tạp
12 Mức độ toàn
cầu hóa kinh
tế thế giới
Thấp Khá cao Rất cao
2. Một số phạm trù trong kinh tế thị trường
Mỗi một hình thái kinh tế mới ta đời đều có những phạm trù kinh tế riêng
đặc trưng cho nó. Đối với nền kinh tế tri thức, chúng ta có thể tìm hiểu một số
phạm trù sau đây.
Thông tin và tri thức:
- Đây là hai nguồn lực chủ yếu của kinh tế tri thức. Vấn đề đặt ra là
phải phân biệt hai phạm trù này vì như John Naribett nói: “ Chìm ngập trong
thông tin mà vẫn thiếu tri thức”.
+ Thông tin là dữ liệu được xếp thành trật tự có nghĩa, có thể thu nhận
được, có thể dùng hoặc không.
+ Tri thức là thông tin đã được thu thập, xử lí và nhận thức, là việc áp dụng
trong nước Mĩ đã thu được 140 triệu USD, và chỉ với chi phí 500.000 USD, nghĩa
là có tỷ suất lợi nhuận 280. Theo ước tính, trong ngành chế tạo thiết bị điện tử, tỷ
suất giá trị gia tăng trên giá trị đầu vào là khoảng 300, còn trong ngành công nghệ
phần mềm tỷ suất đó tiến tới vô hạn (!).
Nền kinh tế tri thức được nuôi dưỡng bằng nguồn năng lượng vô tận và
năng động là tri thức nên phát triển nhanh và khả năng bền vững rất cao.
Công nhân tri thức
Phạm trù này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế tri thức,
bởi đây là lực lượng trực tiếp tiếp thu tri thức, khoa học – công nghệ để tiến hành
sản xuất theo phương thức hiện đại. Sự ra đời của công nhân tri thức là tất yếu
khách quan cùng với sự ra đời của nền kinh tế tri thức đồng thời cũng là sự phủ
định có kế thừa của giai cấp công nhân trong nền kĩ thuật - công nghệ hiện đại thế
kỉ XX. Công nhân tri thức có nhiều điểm tiến bộ so với công nhân trước đó, biểu
hiện:
- Công nhân tri thức có sở hữu trí tuệ. Sở hữu này cho phép họ có thu
nhập cao hơn công nhân công nghiệp bình thường khiến họ có tư hữu chứ không
còn là vô sản nữa.
- Công nhân tri thức làm chủ một nền kĩ thuật mà phần lớn các ngành
kĩ thuật đều dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học.
- Giai cấp công nhân có sự tăng tiến cả về mặt số lượng lẫn chất
lượng. Trên cơ sở tri thức khoa học đang dần dần trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, số lượng công nhân có tri thức, có tay nghề cao ngày càng tăng. Đồng thời
nền kinh tế tri thức mang đặc tính sáng tạo, thích hợp với bản chất của người công
nhân, do đó sẽ kích thích họ không ngừng học hỏi, nghiên cứu nâng cao trình độ
khoa học – kĩ thuật của mình. Như vậy, tri thức sẽ đóng vai trò động lực thúc đẩy
sự phát triển chất lượng người công nhân.
Các ngành kinh tế tri thức
kinh tế nông nghiệp dựa trên sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế công nghiệp thì
công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu, còn trong nền kinh tế tri thức, các ngành kinh
tế tri thức sẽ chiếm vai trò thống trị, nhất là các dịch vụ trí tuệ (nghiên cứu khoa
học, kĩ thuật, tư vấn thiết kế, y tế, tài chính, thông tin liên lạc ) sẽ trở thành họat
động kinh tế chiếm phần chủ yếu với số người tham gia nhiều nhất.
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế mở cao, mang tính chất toàn cầu hóa.
Với sự phát triển cao của CNTT, các tri thức mới, đặc biệt là thành tựu khoa học-
công nghệ được phổ biến và ứng dụng một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn
cầu. Hoạt động kinh tế và phân công lao động sẽ vượt ra khỏi biên giới các quốc
gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu. Nền kinh tế thế giới sẽ trở thành
một mạng lưới gồm nhiều quan hệ đan xen giữa các nền kinh tế quỗc gia. Tuy
nhiên, trong mạng kinh tế toàn cầu đó, vẫn tồn tại những mảng, vùng có trình độ
phát triển còn kém xa những mảng, vùng khác. Việc tham gia vào mạng lưới này
có thể giúp các quốc gia kém phát triển tạo được sự bứt phá nhưng đồng thời cũng
đưa đến những rủi ro tụt hậu rất lớn, tùy thuộc vào khả năng của từng quốc gia.
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế năng động với tốc độ biến đổi cực kì
cao. Nó thể hiện ở tốc độ sản sinh tri thức tăng theo cấp số nhân, ở tốc độ ứng
dụng các phát minh khoa học vào quá trình sản xuất và ở sự biến đổi của giá cả
trên thị trường. Điều này đòi hỏi các nền kinh tế, các doanh nghiệp không ngừng
sáng tạo, đổi mới công nghệ sản xuất (sáng tạo và đổi mới là linh hồn của nền
kinh tế), nâng cao trình độ quản lí, thực hiện chiến lược đi tắt đón đầu để bắt
kịp với tốc độ phát triển chung. Những biến đổi trên cũng đồng thời kéo theo biến
đổi về cấu trúc giai cấp-xã hội ở các quốc gia.
- Kinh tế tri thức phải dựa trên cơ sở pháp luật rõ ràng, có hiệu lực và
có đầy đủ thông tin. Cần tránh hiện tượng lừa đảo, chụp giật, gây nhiễu thông tin.
Kinh nghiệm các nước chỉ rõ rằng CNTT cho phép kiểm soát rất có hiệu quả mọi
giao dịch, giảm bớt tình trạng trốn lậu thuế.
công chuyên sâu trong hợp tác quốc tế cũng được tăng cường theo hướng ngày
càng có nhiều công ty đi chuyên sâu vào sản xuất một mặt hàng, một chi tiết cụ
thể nào đó của một sản phẩm hoặc chỉ cung cấp một dịch vụ chuyên môn nhất
định.
- Phát triển kinh tế tri thức sẽ làm thay đổi sâu sắc cơ cấu kinh tế thế
giới và cấu trúc của quan hệ kinh tế quốc tế. Trong những năm 60, cơ cấu sản
phẩm thế giới với các ngành nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ có tỉ lệ là
10,4%-28,4%-50,4% thì đến những năm 90, cơ cấu này đã có sự thay đổi mạnh
mẽ với tỉ lệ 4,4%-21%-62,4%. Chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong cơ cấu
kinh tế thế giới là các ngành kinh tế dựa vào tri thức. Sự thay đổi trong cơ cấu của
kinh tế các nước và kinh tế thế giới kéo theo sự biến đổi trong cấu trúc kinh tế
quốc tế, thể hiện ở một số khía cạnh sau:
+ Hàng hóa dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao ngày càng chiếm vị trí
chủ chốt trong thương mại quốc tế. Năm 1990, trao đổi kinh tế và công nghiệp
trao đổi khoa học và công nghệ giữa các nước đạt 110 tỉ USD, năm 1995 là 250 tỉ
USD và 500 tỉ USD năm 2000.
+ Thương mại điện tử là lĩnh vực phát triển nhanh nhất và sẽ đóng vai
trò hàng đầu trong thương mại thế giới. Thực tế cho thấy, từ năm 1997 đến năm
2002, thương mại điện tử đã phát triển với tốc độ ghê gớm từ 17 tỉ USD đến gần
1000 tỉ USD.
+ Tình trạng vừa cạnh tranh vừa hợp tác giữa các doanh nghiệp và tính
năng động, linh hoạt trên phạm vi quốc tế của chúng ngày càng tăng. Để tồn tại và
phát triển trong quá trình toàn cầu hóa, các công ty luôn tìm cách đổi mới công
nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Hai xu hướng sáp nhập và chia nhỏ các
công ty đang cùng diễn ra, tạo nên sự linh hoạt của nền kinh tế.
+ Lợi thế so sánh của các quốc gia trong thương mại quốc tế thay đổi
theo hướng giảm dần các lợi thế truyền thống như đất đai, tài nguyên, nhân công
Nhật Bản, 51% ở Canađa và 48% ở Ô-xtrây-lia. Và một điều tất yếu là kinh tế tri
thức phát triển sẽ cuốn vào vòng xoáy của nó tất cả các nước đang phát triển và
kém phát triển. Do kinh tế tri thức có tốc độ biến đổi cực kì cao, thuộc tính tốc độ
biến đổi nói lên rằng khả năng bắt kịp các nước cũng như khả năng tụt hậu sẽ lớn.
Kinh tế tri thức có thể là chiếc chìa khóa vàng cho các nước nghèo, chậm phát mở
lối đi tắt, đón đầu, vươn lên bằng trí tuệ của mình. Việc gia nhập vào mạng toàn
cầu hàm chứa khả năng phải chịu “rủi ro”. Trình độ phát triển càng cách xa tiến độ
phát triển chung của mạng thì độ “rủi ro” càng lớn. Song kinh nghiệm cho thấy
rằng, trong khi những “rủi ro” khi tham gia vào mạng là tiềm ẩn thì những “rủi ro”
do không tham gia vào mạng là chắc chắn và lớn hơn bất kì “rủi ro” nào khi tham
gia vào mạng.
Tuy nhiên, đối với các nước chậm phát triển, rất nhiều vấn đề còn tồn tại
hạn chế khả năng chuyển sang kinh tế tri thức. Những tồn tại đó là: lực lượng lao
động ít tri thức, thiếu kĩ năng chiếm tuyệt đại đa số làm cho bước quá độ diễn ra
chậm; nguồn lực tài chính khan hiếm; tiềm lực khoa học và công nghệ(tri thức)
yếu và thấp kém Những yếu tố này tự nó chứa đựng năng lực “nhập mạng” yếu,
cản trở khả năng tiếp cận với các cơ hội phát triển.
2. Thực trạng nền kinh tế nước ta và định hướng của Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam vốn đi lên từ một xuất phất điểm thấp: một nền nông
nghiệp lạc hậu, công nghiệp hầu như không có gì, đất nước sau chiến tranh bị tàn
phá nặng nề Trải qua chế độ quan liêu bao cấp, nền kinh tế đó càng thêm lạc
hậu, què quặt. Năm1986, Đảng và Nhà nước ta quyết định tiến hành đổi mới trên
tất cả các lĩnh vực. Sau 15 năm đổi mới, chúng ta cũng đạt được một số thành tựu
quan trọng. Kinh tế tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng
gấp đôi so với năm 1990. Nềnkinh tế từ trạng thái khan hiếm nghiêm trọng, nay đã
đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của nhân dân; từ cơ chế tập trung, quan liêu bao
cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ chỗ nền kinh
năm 60, ngày nay đàng hoàng sánh vai cùng các nước tiên tiến. Chúng ta có thể và
nhất định sẽ thực hiện được điều đó, như tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã nói: “Nhân
dân Việt Nam đã biết cầm đũa thì biết vót chông, đã biết vót chông thì mười ngón
tay ấy sẽ biết học tập, sử dụng máy vi tính, đi vào công nghệ thông tin, cánh cửa
của tri thức.” Tất nhiên đó không phải là một con đường bằng phẳng mà sẽ vô
cùng chông gai, vất vả đối với Việt Nam.
3. Những giải pháp đưa ra cho Việt Nam tiến vào nền kinh tế tri thức
a. Khái quát chung
Kinh tế tri thức là một tất yếu khách quan, đang diễn ra ráo riết, dù những
nước nghèo nhất cũng đang phải đương đầu với thách thức của nền kinh tế đang
được tri thức hóa, toàn cầu hóa. Vấn đề là chúng ta bước vào nền kinh tế tri thức
như thế nào?
Sau nhiều cuộc hội thảo, tranh luận khoa học, một hướng đi cơ bản đã
được vạch ra cho nền kinh tế Việt Nam. Con đường phát triển kinh tế tri thức
trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nước ta cần
thiết phải phát triển theo mô hình “hai tốc độ song hành” (qui trình kép). Cùng
với việc chăm lo phát triển nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của các ngành
công nghiệp cơ bản và then chốt nhằm ổn định, từng bước cải thiện đời sống
nhân dân, chúng ta phải đồng thời đẩy nhanh tốc độ phát triển các ngành kinh tế
dựa vào tri thức, công nghệ cao để tăng tốc quá trình hiện đại hóa, không ngừng
nâng cao vị thế độc lập tự chủ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nhằm giữ
vững thế chủ động, hội nhập kinh tế thế giới. Để thực hiện nhiệm vụ đó, chúng ta
cần phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:
-Tiến hành song song việc phát triển cơ chế thị trường và mở cửa hội
nhập.Thực tế cho thấy cơ chế thị trường là cơ chế phân phối nguồn lực tối ưu và
trong cơ chế này, cạnh tranh đóng vai trò động lực phát triển. Đối với nước ta
hiện nay cần đẩy nhanh quá trình cải cách thị trường, đẩy mạnh khu vực doanh
xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; tăng
cường xây dựng và phát triển nhanh công nghệ cao nhằm tăng hàm lượng tri thức
trong tổng thể nền kinh tế quốc dân.
- Xây dựng hành lang pháp lí hiện đại, phù hợp, đủ mạnh và hiệu quả
trong việc phát triển nền kinh tế tri thức theo định hướng XHCN. Đây là vấn đề
rất cấp bách. Chỉ có trên cơ sở một cơ chế vận hành hiệu quả và hệ chính sách phù
hợp, nghĩa là một hành lang pháp lí tương ứng với nền kinh tế tri thức định hướng
XHCN, chúng ta mới có điều kiện đảm bảo thật sự giải phóng mọi lực lượng sản
xuất trong xã hội, phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi người, mỗi thành phần
kinh tế nhằm phát triển sản xuất, tiến tới chăm lo, phát triển toàn diện đời sống
của các tầng lớp nhân dân lao động, xây dựng một xã hội học tập lành mạnh. Điển
hình như việc ban hành luật khoa học và công nghệ. Luật có qui định điều chỉnh
phù hợp, nhằm tạo lập môi trường pháp lí thuận lợi, bình đẳng và các thiết chế dân
chủ khác để phát huy tối đa sức sáng tạo của các nhà khoa học và công nghệ, các
tập thể khoa học- công nghệ và của toàn dân. Đây sẽ là luồng sinh khí mới làm
cho các hoạt động về khoa học- công nghệ phát triển nhanh, rộng, phục vụ kịp
thời các mục tiêu kinh tế xã hội.
b. ý kiến đề xuất của bản thân
Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế thế giới đang diễn ra nhiều đổi thay
mạnh mẽ, đặc biệt là xu thế hình thành và phổ biến rộng khắp của nền kinh tế tri
thức. Đứng trước bối cảnh đó, mỗi người dân Việt Nam cần phải tích cực tìm hiểu
về nền kinh tế tri thức, về vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế đó như thế nào, từ
đó tìm ra giải pháp góp phần đưa đất nước đi lên. Bản thân em cũng rất quan tâm
đến vấn đề “Kinh tế tri thức”. Trong phạm vi đề án này em xin đưa ra một số ý
kiến:
- Trước hết, cần phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho mọi người
dân những kiến thức về kinh tế tri thức như: khái niệm, bản chất, đặc trưng,
là khoa học tự nhiên, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: đài, báo,
Internet Qua đó tạo cho mọi người thói quen tìm hiểu và cập nhật thông tin, tri
thức.
Kết luận Đất nước đã bước sang thế kỉ XXI- Thế kỉ của những thành tựu kì diệu
của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, thế kỉ của nền kinh tế tri
thức. Trước mắt chúng ta là rất nhiều cơ hội và thách thức. Liệu chúng ta có tận
dụng được các cơ hội đó để đưa đất nước không những đuổi kịp mà còn vượt lên
hàng đầu trong cuộc chạy ma-ra-tông với các cường quốc kinh tế trên thế giới hay
không? Đó là một câu hỏi lớn mà cả dân tộc phải đưa ra lời giải đáp. Nó bắt đầu
từ sự cố gắng nỗ lực của mỗi cá nhân. Điều đó đòi hỏi mỗi người phải dày công
nghiên cứu, tìm tòi nắm vững kiến thức khoa học hiện đại, rèn luyện kỹ năng thực
hành và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh đất nước và con người Việt Nam, trở
thành những tài năng trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Vận mệnh dân
tộc phụ thuộc vào sự cố gắng nỗ lực đó của mỗi cá nhân.
Việt Nam đang dần có những biến chuyển tích cực trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội, đặc biệt là trong kinh tế. Trong khi kinh tế thế giới có nhiều
bất ổn, nhiều nền kinh tế lớn có biểu hiện suy thoái thì nước ta lại giữ vững được
mức tăng trưởng khá cao 7%. Cả nước đang hăng hái thi đua, quyết tâm hoàn
thành tốt các mục tiêu mà Đảng và nhà nước đề ra, nhằm mục tiêu hoàn thành
Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đưa đất nước tiến vào kinh tế tri thức, thu hẹp dần
khoảng cách với các nước phát triển trong quá trình toàn cầu hóa.