CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH
DOANH CHO DOANH NGHIỆP
I. Các khái niệm cơ bản
1. Tổng quan về chiến lược
1. Chiến lược doanh nghiệp: Là hệ thống các đường lối và biện pháp phát
triển doanh nghiệp, các mục tiêu cần đạt, các nguồn lực phải sử dụng để đạt
được các mục tiêu dự định trong thời hạn của chiến lược.
2. Quan hệ giữa chiến lược và kế hoạch
a. Cả hai đều mô tả tương lai cần đạt và cách thức để đạt tới của doanh
nghiệp.
b. Chiến lược có thời hạn dài và mang tính định tính nhiều hơn so với kế
hoạch. Kế hoạch là hình thức diễn đạt chiến lược (5 - 10 năm/ 1 - 2 năm).
3. Quan hệ giữa chiến lược và chiến thuật của doanh nghiệp
a. Chiến thuật là các giải pháp cụ thể để thực hiện chiến lược ở từng thời
điểm và môi trường kinh doanh cụ thể.
b. Chiến thuật hết sức linh hoạt.
4. Nội dung của chiến lược doanh nghiệp
5. Hoạch định chiến lược doanh nghiệp: Là quá trình chủ thể doanh nghiệp
sử dụng các phương pháp, các công cụ, các kỹ thuật thích hợp nhằm xác định
chiến lược doanh nghiệp và từng bộ phận của doanh nghiệp trong thời kỳ chiến
lược.
6. Quản trị chiến lược doanh nghiệp: Là tổng hợp các hoạt động hoạch
định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, điều chỉnh chiến lược doanh nghiệp được
1
lặp lại thường xuyên nhằm tận dụng mọi nguồn lực và cơ hội của doanh nghiệp,
hạn chế tối đa các điểm yếu, các nguy cơ và các hiểm họa có thể để đạt tới các
mục đích, mục tiêu của doanh nghiệp.
II. Các bước hoạch định chiến lược doanh nghiệp
1. Các trở ngại thường gặp khi xây dựng chiến lược
a. Con người thường thích hành động hơn là suy nghĩ.
- Chủ quan, duy ý chí.
- Đánh giá hệ thống thông tin kinh tế đối ngoại.
- Tình thế biến động về công nghệ và sản phẩm.
- Các đối thủ cạnh tranh (trực tiếp, gián tiếp).
- Bạn hàng (người cung cấp một phần đầu vào cho doanh nghiệp).
- Khách hàng.
3.2. Phân tích và dự báo môi trường nội bộ doanh nghiệp.
a. Nhân sự.
- Thuận lợi, khó khăn.
- Độ đoàn kết (chia rẽ).
- Cán bộ đầu ngành.
- Bầu không khí doanh nghiệp.
- Nhu cầu, đòi hỏi trong tương lai.
+ Mức sống
+ Gia đình
+ Sức khỏe
+ Tiến bộ, công bằng, được tôn trọng
+ Học hỏi
+ Nhà ở
+ Giao tiếp
3
- Thói hư tật xấu.
b. Sản xuất.
- Trình độ công nghệ.
- Sức cạnh tranh.
- Năng suất.
- Quy mô, giá cả.
- Phản ứng về môi trường.
- Mặt bằng.
c. Tài chính.
- Tiền có.
Mặt mạnh
1. Chất lượng sản phẩm.
2. Sự hỗ trợ của chính
phủ.
3. Nhân sự
Phối hợp S/O
1. S - Chất lượng sản phẩm
O - Dân chúng chi tiền
nhiều hơn cho việc vui
chơi giải trí
Phối hợp S/T
1. S- Chất lượng sản phẩm
T - Đối thủ cạnh tranh
mạnh
Mặt yếu
1. Không có sản phẩm
mới
2. Trình độ marketing yếu
kém.
3. Khả năng tài chính yếu
kém.
Phối hợp W/O
1. W - Không có sản phẩm
mới.
O - Dân chúng chi tiền
nhiều hơn cho việc vui
chơi giải trí.
Phối hợp W/T
1. W - Không có sản phẩm
mới.
tranh
Giá thành thấp hơn Tính khác biệt
Rộng 1. Chi phối bằng giá cả 2. Sử dụng tính khác biệt của sản
phẩm
Hẹp 3. Đặt trọng tâm vào giá
cả
4. Đặt trọng tâm bằng tính khác biệt
4. Bước 2: Xác định các mục tiêu chiến lược.
a. Khái niệm: Mục tiêu là trạng thái mong đợi, cần có của doanh nghiệp sau
một thời hạn đã định.
b. Phương pháp xác định mục tiêu.
- Phương pháp cân đối.
- Phương pháp toán kinh tế.
7
5. Bước 3: Xây dựng các chiến lược chức năng, đó là các chiến lược của
các phân hệ, bao gồm:
5.1. Chiến lược đổi mới cơ cấu tổ chức doanh nghiệp (thể chế hóa + tiêu
chuẩn hóa bộ máy doanh nghiệp).
5.2. Chiến lược công nghệ và sản phẩm (Product), bao gồm các nội dung:
vòng đời sản phẩm, tiêu chuẩn hóa sản phẩm v.v...
5.3. Chiến lược huy động vốn (Purse), bao gồm các vấn đề vay vốn, tỷ giá
hối đoái, liên doanh liên kết, bán cổ phần v.v...
5.4. Chiến lược về giá (Price), bao gồm các vấn đề: điểm hòa vốn, các loại
giá v.v...
5.5. Chiến lược chiêu thị (Promotion), bao gồm các vấn đề; chiêu hàng,
tuyên truyền quảng cáo v.v...
5.6. Chiến lược phân phối, mặt bằng (Place), bao gồm vấn đề: kênh phân
phối, đào tạo nhân viên v.v...
5.7. Chiến lược đối ngoại (quan hệ vĩ mô, hạn chế rủi ro, chống khủng bố
v.v...).
1. Khái niệm
Chủ doanh nghiệp phải có các biện pháp kiểm tra sự thực hiện các chiến
lược của mình. Đây là một quá trình kiểm tra, một công việc theo đó chủ doanh
nghiệp soát xét và chỉ thị các công việc đang làm hay đã làm xong. Kiểm tra là
đo lường và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo cho các mục tiêu của
doanh nghiệp và các chiến lược vạch ra để đạt tới, các mục tiêu này đã, đang
được hoàn thành. Như vậy kiểm tra là chức năng của mọi nhà quản lý từ chủ
doanh nghiệp tới người phụ trách các bộ phận trong doanh nghiệp, thực chất của
việc kiểm tra của doanh nghiệp là khả năng sửa chữa tới mức tối đa số lượng sai
lầm lớn nhất trong một thời gian tối thiểu trong doanh nghiệp.
2. Nhu cầu kiểm tra
Kiểm tra là nhu cầu tối cần thiết của công tác quản trị, xét trên mọi phương
diện, điều này được thể hiện thông qua mục đích của công tác kiểm tra.
a. Kiểm tra là nhằm chủ động ngăn chặn các nhầm lẫn, sai phạm có thể xảy
ra trong quá trình quản lý doanh nghiệp.
Có người nói kiểm tra là để tách cái tốt ra khỏi cái xấu, người tốt ra khỏi
người xấu, điều này chỉ đúng một phần, vì người xưa đã nó: "Người lãnh đạo có
hai sai lầm cần tránh, không dùng được người giỏi và dùng được người giỏi
nhưng lại để lẫn với kẻ xấu vào". Nếu làm mà không tiến hành kiểm tra, để làm
rồi mới phát hiện cái sai thì nhiều khi không còn khả năng cứu vãn được tình
thế. Cho nên, tốt nhất đừng làm sai thì sẽ có hiệu quả hơn, tức là nên phòng
bệnh hơn chữa bệnh. Chính nhờ kiểm tra mà giám đốc doanh nghiệp ngăn ngừa
được các khả năng đưa hoạt động của doanh nghiệp phạm sai lầm. Sai lầm có
thể xảy ra từ nhiều khâu, nhiều yếu tố, nhiều người trong doanh nghiệp, cho nên
kiểm tra thực sự là một nhu cầu riêng có đối với giám đốc doanh nghiệp - người
chịu hoàn toàn trách nhiệm về doanh nghiệp mà họ sáng lập và điều hành hoạt
động.
10
b. Kiểm tra còn là nhu cầu của mọi thành viên đúng mực trong doanh
nghiệp.
Phải kiểm tra để khẳng định được sự đúng sai của đường lối, sự phù hợp
hay không của mục đích của doanh nghiệp, các vấn đề về cơ cấu quản trị hoạch
định chiến lược và chiến thuật, việc bố trí nhân sự, các chính sách thực thi, các
mục tiêu cần đạt...
e. Kiểm tra còn là nhu cầu bảo đảm thực thi quyền lực quản lý của giám
đốc doanh nghiệp.
Mất quyền kiểm tra có nghĩa là giám đốc bị vô hiệu hóa, doanh nghiệp có
thể bị lái theo một phương hướng khác.
3. Quá trình kiểm tra
Quá trình kiểm tra và quá trình thực hiện chức năng kiểm tra, bao gồm các
nội dung sau:
Để tiến hành kiểm tra, giám đốc doanh nghiệp phải đưa ra các tiêu chuẩn,
nội dung và mục tiêu của hoạt động kiểm tra, dựa trên các nguyên tắc kiểm tra
nhất quán. Từ đó hình thành hệ thống kiểm tra với các hình thức kiểm tra thích
hợp cùng với các chi phí và phương tiện, công cụ được sử dụng cho các hoạt
động kiểm tra này. Cuối cùng là các hoạt động điều chỉnh thích hợp.
12
4. Các nguyên tắc kiểm tra
a. Chính xác, khách quan.
Đây là nguyên tắc cơ bản của hoạt động kiểm tra. Nếu sự kiểm tra không
tuân thủ theo nguyên tắc này thì người thực hiện nhiệm vụ kiểm tra có thể tùy
tiện đưa những kết luận đánh giá hiện trạng sự việc, con người, tập thể mà họ
tiến hành kiểm tra, do đó sẽ cung cấp các thông tin phản hồi thất thiệt cho các
cấp lãnh đạo của doanh nghiệp mà kết quả cuối cùng là sự ly tán, nghi ngờ trong
doanh nghiệp, tạo kẽ hở làm hư hỏng cán bộ làm nhiệm vụ kiểm tra, gây phiền
hà cho các địa chỉ bị kiểm tra.
b. Có chuẩn mực.
Nhiệm vụ kiểm tra phải khách quan, công tâm, trong sáng, kiên trì, bảo vệ
lợi ích của doanh nghiệp. Đó là các dấu mốc mà nhờ đó hoạt động kiểm tra có
căn cứ để so sánh yêu cầu đặt ra của mốc và kết quả của địa chỉ bị kiểm tra đã
tâm trọng điểm tùy thuộc tiến trình hoạt động của doanh nghiệp.
5. Tiêu chuẩn kiểm tra
Các tiêu chuẩn kiểm tra là các chuẩn mực về số lượng, chất lượng, thời hạn
của nhiệm vụ mà các cá nhân, tập thể và cả doanh nghiệp phải thực hiện để bảo
đảm cho toàn bộ doanh nghiệp hoạt động có kết quả. Thông thường các tiêu
chuẩn kiểm tra đều có một độ dự trữ (hoặc sai số) cho phép nếu vượt quá các
mức dự trữ này thì doanh nghiệp sẽ gặp phải các tổn thất, hạn chế sự ổn định
phát triển của doanh nghiệp, thậm chí đưa doanh nghiệp vào chỗ bế tắc hoặc đổ
vỡ.
Trong các tiêu chuẩn kiểm tra, khó tính nhất là các tiêu chuẩn mang tính
định tính vì nó rất khó đối với người thực hiện việc kiểm tra khi phải đưa ra các
kết luận, đánh giá. Chẳng hạn, một tập thể trong hệ thống có 10 người thì 6
người đánh giá không tốt về thủ lĩnh phụ trách tập thể của họ, khi đó có thể kết
luận người thủ lĩnh của tập thể là có vấn đề, là không ổn là còn phải chờ đợi
thêm một thời gian khác, tìm kiếm thêm ý kiến của các tập thể có liên quan
khác...
Các tiêu chuẩn kiểm tra một mặt mang tính lịch sử, tức là nó có biến động
theo thời gian cùng với bước thăng trầm của lịch sử. Khi doanh nghiệp mới ra
14
đời, các tiêu chuẩn đánh giá phải khác khi một doanh nghiệp đã ở thời kỳ phát
triển cao. Dĩ nhiên có những loại hoạt động mà tiêu chuẩn kiểm tra của nó
không đổi, như phải bảo đảm sự hoàn hảo của sản phẩm bán ra thị trường để bảo
đảm chữ "tín" với khách hàng.
Các tiêu chuẩn kiểm tra đồng thời cũng phải bảo đảm tính ổn định tương
đối cho từng chặng thời gian nhất định để bảo vệ sự ổn định phát triển chung
của doanh nghiệp.
Các tiêu chuẩn kiểm tra phải là cụ thể cho mỗi địa chỉ kiểm tra, thậm chí
cho tới từng vị trí làm việc của mỗi con người trong doanh nghiệp.
6. Kỹ thuật kiểm tra
Việc kiểm tra thông thường thông qua hai công cụ chủ yếu được sử dụng
CÔNG TY SÔNG ĐÀ
A.GIÓI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY SÔNG ĐÀ:
I. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN:
Trải qua gần 50 năm xây dựng và phát triển, Tổng Công ty Sông Đà ngày
nay là kết tinh của một hành trình xây dựng và phát triển liên tục trong suốt 50
năm gắn liền với sự phát triển của đất nước.
Ngày 01 tháng 06 năm 1961 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 214
TTg về việc thành lập Ban chỉ huy công trường thủy điện Thác Bà; Quyết định
này đã trở thành quyết định lịch sử khai sinh ra Tổng công ty, đồng nghĩa với
ngành xây dựng thuỷ điện Việt Nam ra đời. Bắt đầu từ con số không, chỉ với
lòng quyết tâm thấm đượm tinh phần yêu nước, đã hình thành một công trường
công nghiệp lớn nhất lúc bấy giờ. Hàng ngàn CBCNV đã bất chấp khó khăn,
gian khổ, lao động trong điều kiện thủ công thô sơ, nhưng trong trái tim họ vẫn
tràn đầy niềm tin để thắp sáng một dòng điện đầu tiên cho Tổ quốc. Nhiều
CBCNV đã hy sinh dưới bom đạn Mỹ. Thế hệ tiền bối của Tổng công ty đã để
lại tấm gương sáng cho những người đi sau trân trọng về những thành quả, công
sức đóng góp vào trangsử vàng của Tổng Công ty Sông Đà.
Thuỷ điện Thác Bà mãi mãi xứng đáng được lưu danh như một biểu tượng
của lòng yêu nước, ý chí kiên cường, tinh thần quả cảm thuộc về những người
thợ thủy điện đầu tiên ở Việt Nam. Đó chính là người thợ Sông Đà.
Khi công trình thuỷ điện Thác Bà còn chưa hoàn thành, do yêu cầu của đất
nước cần nhiều nhà máy xí nghiệp phục vụ dân sinh và quốc phòng, CBCNV
Tổng công ty có mặt kịp thời và đúng lúc tại những miền đất mới. Hàng loạt
những công trình ra đời bởi công sức đóng góp và trí tuệ của tập thể CBCNV
Tổng công ty Sông Đà ngày ấy giờ đây vẫn đang góp phần đắc lực vào công
cuộc đổi mới đất nước; Đó là Nhà máy dệt Minh Phương, Nhà máy giấy Bãi
Bằng, đường số 7, sân bay Yên Bái, Nhà máy hoá chất Việt Trì. . . Mặc dù liên
tục bị phân tán, thiệt hại cả tính mạng và tài lực do chiến tranh nhưng Tổng công
17
18
cố, xây dựng lực lượng bước vào một thời kỳ mời được đánh dấu bằng việc
Đảng và Chính phủ giao nhiệm vụ làm tổng thầu xây dựng nhà máy thủy điện
Yaly trên Tây Nguyên. Yaly không chỉ là vùng đất mới của người thợ Sông Đà.
Yaly còn là nơi ghi nhận sự trưởng thành vượt bậc của Tổng công ty mà người
thợ Sông Đà có quyền tự hào. Công trình thủy điện Yaly không chỉ có địa hình,
địa chất phức tạp, thời tiết biến động thất thường mà còn ngổn ngang tàn tích của
chiến tranh.
Những người thợ Sông Đà phải đối mặt với sốt rét, bom mìn, chất độc hoá
học và một hạ tầng cơ sở vô cùng nghèo nàn và lạc hậu.
Một lần nữa những người thợ Sông Đà cho thấy bản lĩnh kiên cường, và
truyền thống đoàn kết vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành và hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho. Cũng tại công trình
thuỷ điện Yaly trên Tây Nguyên, những người thợ Sông Đà đã xây dựng thành
công Nhà máy thuỷ điện Yaly với công suất 720MW mà không phải thuê
chuyên gia nước ngoài làm tư vấn, chúng ta đã chứng minh một cách đầy thuyết
phục rằng ngành xây dựng thuỷ điện Việt Nam đã thực sự trưởng thành.
Sau thuỷ điện Yaly, Tổng Công ty tiếp tục góp phần đánh thức tiềm năng
Tây Nguyên và các vùng đất khác trên mọi miền Tổ quốc bằng thế mạnh xây
dựng thuỷ điện thông qua các hình thức đầu tư BO, BọT như thuỷ điện Cần Đơn,
Ry Ninh 2, Nà Lơi, Nậm Mu, Sê San 3A, Nậm Chiến... Mặc khác, với kinh
nghiệm xây dựng các công trình thủy điện, Tổng công ty Sông Đà vinh dự được
Đảng và Nhà nước giao làm tổng thầu xây lắp các công trình thuỷ điện Sê San 3,
Pleikrông, Tuyên Quang, Bản Vẽ, Sơn La...
Đối với các công trình giao thông, Tổng công ty Sông Đà đã đảm nhận
thi công .các công trình: Đường Hồ Chí Minh, Hầm đường bộ qua đèo Ngang,
Hầm đường bộ qua đèo Hải Vân... Tại công trình hầm đường bộ qua đèo Hải
Vân, những người thợ Sông Đà tiếp tục khẳng định phẩm chất đặc biệt của mình.
Đây là một công trình cực kỳ phức tạp về mặt kỹ thuật, xử lý địa chất. Nhiều
chuyên gia, nhà thầu nước ngoài từng bỏ cuộc trước những sự cố địa chất ít gặp
đã lên đến vài chục, trong đó có nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ hoàn toàn mới
như thép xây dựng, sân bay, cầu cảng, hợp tác lao động quốc tế... nâng tỉ trọng
20
sản xuất công nghiệp tăng hơn 30%. Đặc biệt, cùng với phát triển sản xuất, lực
lượng tư vấn của Tổng công ty ngày một trưởng thành, đủ sức đảm đương các
dịch vụ tư vấn cho các dự án thuỷ điện, dân dụng và công nghiệp từ khâu khảo
sát, lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật đến thiết kế bản vẽ thi công,
giám sát thi công..
Nhưng để trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh và hiện đại Tổng Công ty
còn phải làm nhiều hơn thế, mà các biện pháp và giải pháp đã được chỉ rõ trong
10 chương trình lớn theo tinh thần Nghị quyết TW3 Khoá IX bao gồm: Sắp xếp
lại tổ chức sản xuất để nâng cao tính cạnh tranh; Tiếp thị tổng lực tìm kiếm công
trình; Đào tạo nguồn nhân lực theo chiều sâu, thu hút nhân tài; Đầu tư đổi mới
hiện đại hoá công nghệ; Đẩy mạnh tiến độ thực hiện các dự án, nâng cao hiệu
quả vốn đầu tư; Quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO; Tích cực ứng dụng
phần mềm tin học hoá toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp; Lành mạnh hoá tài
chính, gia tăng tốc độ cổ phần hoá tiến tới niêm yết giá trên thị trường chứng
khoán; Nâng cao hơn nữa năng suất lao động và thu nhập cá nhân; Đổi mới và
nâng cao hiệu quả công tác Đảng và các tổ chức quần chúng trong doanh nghiệp.
Với hơn 40 năm, thời gian đã ghi nhận những phát triển vượt bậc của Tổng công
ty Sông Đà. Từ một tập thể nhỏ bé, thụ động; ngày mới thành lập vẻn vẹn chỉ
gồm 3 kỹ sư thuỷ lợi, 30 kỹ thuật viên trình độ trung cấp, 40 kỹ thuật viên sơ
cấp, 1 chuyên gia địa chất, 1 trắc đạc và mấy trăm công nhân lao động . . .
Nhưng ngày nay Tổng Công ty Sông Đà đã thực sự lớn mạnh kể cả lượng và
chất. Hiện nay Tổng Công ty có một đội ngũ CBCNV với gần 30 nghìn người
trong đó hơn 5000 kỹ sư, cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm và trình độ cao. Từ
một cơ ngơi gần như không có gì thời kỳ "hậu Sông Đà", chỉ sau hơn 10 năm
Tổng Công ty đã trở thành một trong những đơn vị có vốn tài sản vào loại lớn
trong ngành xây dựng, có doanh thu hàng năm từ 4.000 - : - 5.000 tỉ đồng, có tốc
độ tăng trưởng trung bình đạt từ 20 -:- 30%/năm. Thu nhập .của CBCNV trong
năm qua Tổng công ty Sông Đà đã nhận nhiều danh hiệu cao quí của Đảng và
Nhà nước trao tặng; Trong đó TCT Sông Đà là doanh nghiệp XD đầu tiên vinh
dự được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ
đổi mới, 2 lần được tặng Huân chương Hồ chí Minh, 1 huân chương độc lập
22
hạng nhất, 1 huân chương độc lập hạng nhì; 2 tập thể Anh hùng lao động là
Công ty Sông Đà 9, Công ty Sông Đà 10; 12 cá nhân đạt danh hiệu anh hùng lao
động và nhiều danh hiệu cao quí tặng cho các tập thể, cá nhân khác
Với những thành tích đã đạt được, tập thể CBCNV Tổng Công ty, các
đơn vị thành viên và các cá nhân đã vinh dự được Đảng, Nhà nước và Chính phủ
tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quí.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, tập thể cán bộ, CNV TCT Sông
Đà đã được Đảng, Nhà nước khen thưởng các danh hiệu:
- Danh hiệu Anh hùng Lao động: 4 tập thể và 13 cá nhân.
- 2 Huân chương Hồ Chí Minh cho CBCNV TCT Sông Đà.
- 3 Huân chương Độc lập hạng Nhất, 4 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 6 -
Huân chương Độc lập hạng Ba cho các tập thể.
- Huân chương Lao động hạng Nhất cho 9 tập thể và 11 cá nhân.
- Huân chương Lao động hạng Nhì cho 16 tập thể và 25 cá nhân .
- Huân chương Lao động hạng Ba cho 76 tập thể và 132 cá nhân.
- Cờ thi đua luân lưu của Chính phủ liên tục từ năm 1996 đến năm 2008.
- Và nhiều danh hiệu cao quý khác.
TCT Sông Đà với gần 50 năm xây dựng và phát triển, gắn liền với sự phát
triển ngành xây dựng của đất nước, góp phần không nhỏ trong công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong nền kinh tế thị trường cũng như trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay TCT Sông Đà mong muốn hợp tác
liên doanh, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước để cùng nhau phát triển,
xây dựng tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam với TCT Sông Đà làm nòng
cốt ngày càng phát triển vững mạnh, xây dựng thương hiệu “Sông Đà” vững
mạnh, xứng đáng là đơn vị dẫn đầu trong ngành xây dựng Việt Nam.
…; Đường dây 500KV Bắc – Nam; Nhà máy giấy Bãi Bằng, Nhà máy dệt Minh
Phương, Nhà máy xi măng Bút Sơn; Đường cao tốc Láng – Hoà Lạc, Quốc lộ
1A, Quốc lộ 10, Quốc lộ 18, đường Hồ Chí Minh, Hầm đường bộ qua đèo Hải
Vân…
Trải qua gần 50 năm xây dựng và phát triển, Tổng Công ty Sông Đà đã trở
thành một Tổng Công ty xây dựng hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng
24
các công trình thuỷ điện. Từ một đơn vị nhỏ chuyên về xây dựng thuỷ điện, đến
nay Tổng Công ty Sông Đà đã phát triển với nhiều đơn vị thành viên hoạt động
trên khắp mọi miền của đất nước và trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác
nhau: Xây dựng các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, công nghiệp, dân dụng, giao
thông, kinh doanh điện thương phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, đầu tư xây
dựng các khu công nghiệp và đô thị, tư vấn xây dựng, xuất nhập khẩu lao động
và vật tư, thiết bị công nghệ cùng nhiều lĩnh vực kinh doanh khác.
Với đội ngũ CBCNV lành nghề và giàu kinh nghiệm, với năng lực xe
máy, thiết bị hiện đại, tiên tiến, Tổng Công ty Sông Đà luôn hoàn thành các công
trình công trình được Nhà nước giao đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng và hiệu
quả. Năm 2000 Tổng Công ty đã nghiên cứu và triển khai đầu tư một loạt các
nhà máy thuỷ điện với qui mô vừa và nhỏ, các dự án sản xuất xi măng, sắt thép,
các khu đô thị và công nghiệp… Đó là các nhà máy thuỷ điện Ry Ninh II
(8,1MW), Nà LơI (9,3 MW), Cần Đơn (80MW), Nậm Mu (15MW), Sê San 3A
(100MW), Nậm Chiến (220MW), Sekaman 3 (300MW)…, Nhà máy thép Việt –
ý (250.000 tấn/năm), Nhà máy xi măng Hạ Long (2,2 triệu tấn/năm), Hầm
đường bộ qua đèo Ngang, Khu đô thị mới Mỹ Đình – Mễ Trì… Đến nay, các
nhà máy như thuỷ điện như: Ry Ninh 2, Nà Lơi, Thác trắng, IaKrongdou, Nậm
Mu, Cần Đơn, Nhà máy thép Việt – ý đã đi vào hoạt động góp phần tăng đáng
kể tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của Tổng Công ty.
Tổng Công ty Sông Đà cũng là đơn vị tiêu biểu, luôn dẫn đầu các đơn vị
thuộc Bộ Xây dựng hàng năm về các mặt: Tổng giá trị SXKD, chất lượng sản
phẩm và hiệu quả kinh tế - xã hội. Tổng công ty luôn chú trọng và đi đầu trong