nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 55
ths. Nguyễn Thị ánh Vân *
uật doanh nghiệp đợc đánh giá là
bớc tiến lớn của Việt Nam trong việc
tiếp thu những chuẩn mực chung của luật
công ti ở các nớc phát triển trên thế giới.
(1)
Có thể nói Luật doanh nghiệp đ góp phần
đáng kể vào việc hoàn thiện môi trờng
kinh doanh ở Việt Nam. Theo các con số
thống kê, số lợng các doanh nghiệp đăng
kí kinh doanh trong năm 2000 gần nh
tơng đơng với tổng số các doanh nghiệp
đợc thành lập từ năm 1991 đến năm 1999.
Trong ba tháng đầu năm 2001, có khoảng
4000 doanh nghiệp đợc thành lập với tổng
số vốn đăng kí lên tới 4.400 triệu đồng.
(2)
Trong năm 2001, số lợng các doanh
nghiệp đăng kí kinh doanh vẫn tiếp tục tăng
và lên tới 140% so với con số đó trong năm
2000. Tính đến tháng 1/2002 (sau 2 năm thi
hành Luật doanh nghiệp) đ có 35.447
các chế tài hành chính và hình sự (Điều 44)
áp dụng trong trờng hợp ngời thành lập
công ti khai man vốn để hoàn tất thủ tục
thành lập công ti.
Có thể nói rằng về mặt lí thuyết, yêu
cầu về vốn pháp định đ đợc quy định
tơng đối hoàn chỉnh trong Luật công ti.
Tuy nhiên, quy định đó đ không phát huy
hiệu lực trong gần mời năm thi hành Luật
công ti. Lí do chủ yếu là pháp luật cũng nh
bản thân Luật công ti đ không có biện
pháp cỡng chế thi hành thích hợp và
L
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
56 - Tạp chí luật học
nghiêm khắc.
Hiện nay Luật doanh nghiệp chỉ yêu
cầu các doanh nghiệp kinh doanh trong một
số ngành, nghề nhất định phải có vốn pháp
định (Điều 13). Các doanh nghiệp khác
không cần phải thoả mn yêu cầu về vốn
pháp định khi thành lập.
Việc xóa bỏ vốn pháp định đ từng
đợc bàn luận sôi nổi trong giai đoạn dự
thành viên theo tỉ lệ vốn góp của họ thì phải
đảm bảo sau khi hoàn trả, công ti TNHH
vẫn có thể thanh toán đủ các khoản nợ và
các nghĩa vụ tài sản khác.
Thứ ba, Luật doanh nghiệp đề ra
nguyên tắc khá chặt chẽ - nguyên tắc nhất
trí - trong việc định giá tài sản dùng để góp
vốn vào doanh nghiệp (Điều 23). Trờng
hợp vốn góp vào doanh nghiệp là tài sản và
góp ở thời điểm thành lập doanh nghiệp, tất
cả thành viên sáng lập là ngời định giá các
tài sản đó. Trờng hợp vốn góp là tài sản
nhng thời điểm góp vốn lại đợc thực hiện
sau khi doanh nghiệp đ bớc vào hoạt
động thì ngời định giá tài sản là hội đồng
quản trị công ti cổ phần, hội đồng thành
viên công ti TNHH hoặc tất cả thành viên
hợp danh của công ti hợp danh.
Thứ t, Luật doanh nghiệp quy định
trách nhiệm bồi thờng thiệt hại của thành
viên công ti TNHH đối với những thiệt hại
phát sinh do không góp vốn đầy đủ và kịp
thời nh đ cam kết (khoản 1 Điều 27).
Nh vậy, Luật doanh nghiệp đ khai
thác khá triệt để các biện pháp bảo vệ chủ
nợ của doanh nghiệp. Vấn đề còn lại có lẽ
là làm thế nào để các biện pháp đó đợc
đảm bảo thực hiện nhằm đem lại sự an toàn
thật sự cho các chủ nợ. Việc xóa bỏ vốn
pháp định đồng thời đề ra các biện pháp
(5)
Nh vậy, rõ ràng là chỉ có quy chế pháp
lí hoàn chỉnh thôi cha đủ mà còn phải có
những biện pháp cỡng chế thi hành
nghiêm khắc để các quy định đó đợc đảm
bảo thực hiện. Thiếu các biện pháp cỡng
chế thích hợp, các quy định pháp luật dù có
hoàn thiện đến mấy cũng sẽ trở nên hình
thức, không đợc thực thi trong cuộc sống.
Vấn đề thứ hai cần đề cập khi bàn về
quy chế pháp lí điều chỉnh vốn của doanh
nghiệp là việc đa dạng hóa các loại hình cổ
phiếu mà các công ti cổ phần đợc phép
phát hành. Các quy định về vốn của công ty
cổ phần là sự thay đổi quan trọng của Luật
doanh nghiệp so với Luật công ti. Trớc
đây, vấn đề cổ phiếu và cổ phần của công ti
cổ phần chỉ đợc quy định rất sơ sài trong
Luật công ti. Ngợc lại, Luật doanh nghiệp
đ dành hẳn 7 điều khoản (từ Điều 52 đến
Điều 58) quy định về các loại cổ phần,
quyền và trách nhiệm của từng loại cổ đông
tơng ứng.
(6)
Theo các quy định này, công ti
cổ phần có thể phát hành tới năm loại cổ
phiếu: Cổ phiếu thờng, cổ phiếu u đi
biểu quyết, cổ phiếu u đi cổ tức, cổ phiếu
u đi hoàn lại và cổ phiếu u đi khác.
các nhà khoa học pháp lí đ khuyên rằng
nên thận trọng trong việc cho phép phát
hành cổ phiếu u đi và tốt nhất là nên quy
định loại cổ phiếu đợc phép phát hành: Cổ nghiên cứu - trao đổi
58 - Tạp chí luật học
phiếu thờng; trờng hợp vì lí do nào đó mà
loại cổ phiếu u đi cần đợc pháp luật thừa
nhận thì cũng không nên là cổ phiếu u đi
biểu quyết.
(7)
Vấn đề thứ ba trong quy chế điều chỉnh
vốn của doanh nghiệp cần bàn tới là quy
định về chuyển nhợng vốn của công ti
TNHH. Đối với công ti TNHH có từ hai
thành viên trở lên, Điều 32 Luật doanh
nghiệp cho phép các thành viên công ti
đợc chuyển nhợng một phần hoặc toàn bộ
vốn góp của mình nhng vốn đó phải đợc
chào bán cho các thành viên còn lại của
công ti với cùng điệu kiện. Việc chuyển
nhợng vốn góp cho ngời không phải là
thành viên chỉ đợc phép tiến hành nếu các
thành viên còn lại của công ti không mua
hoặc không mua hết.
Nh vậy, Luật doanh nghiệp đ dành
không phải là thành viên công ti mua đợc
phần vốn đó. Luật doanh nghiệp không quy
định là điều kiện chào bán cho ngời không
phải là thành viên công ti phải giống nh
hoặc khắt khe hơn điều kiện chào bán cho
thành viên công ti.
Trên đây là một vài vấn đề cần quan
tâm trong quá trình thực hiện cũng nh
hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vốn của
doanh nghiệp hoạt động theo Luật
doanh nghiệp./.
(1).Xem: Vietnam APECA Press Release,
(http:/Apecsec.org/whatsnew/Press/Rel 52 - 99.
Html)
(2).Xem: Báo cáo của Bộ kế hoạch và đầu t, số
1690/BKH - QLKT, ngày 25/3/2001 Báo cáo tình
hình một năm thực hiện Luật doanh nghiệp, tr.5.
(3).Xem: Enterpprise Law Triggers Business in
Vietnam, Asia Pulse Japnuary 29, 2002 Tuesday.
(LexisNexis).
(4).Xem: William P. Hackney & Tracey R. Benson,
Shareholder Liability for Inadequate Capital
University of Pittburge Law Review, (1982), tr. 852,
897 - 898, (LexisNexis).
(5)Xem: Robert Charles Clark, Corporate Law
(1986, Aspen Law & Business), tr.71 - 74.
(6).Xem: Điều 52 đến Điều 58.
(7).Xem: General Principles of Company Law for
Transition Economies, (1999) 24 Lowa journal of