Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối loạn chuyển hóa Lipid ở thỏ uống Cholesterol doc - Pdf 12

TCNCYH 21 (1) - 2003
Tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam trên rối
loạn chuyển hoá lipid ở thỏ uống cholesterol

Nguyễn Thị Hà
1
, Phạm Thiện Ngọc
1

Đặng Ngọc Dung
1
, Trần Thị Hơng
2

1
Bộ môn Hoá sinh, Trờng Đại học Y Hà Nội
2
Trờng Cao đẳng Y tế Nam Định

Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết chè xanh Việt Nam đối với rối loạn chuyển hoá lipid ở thỏ
gây tăng cholesterol thực nghiệm đã chứng minh rằng: dịch chiết chè xanh có tác dụng làm giảm
rối loạn chuyển hoá lipid thông qua việc cải thiện các chỉ số TG, TC, LDL-C huyết tơng. Tác dụng
của dịch chiết chè xanh trên chuyển hoá lipid huyết tơng thỏ phụ thuộc liều uống và thời gian cho
uống. Tác dụng rõ nhất của dịch chiết chè xanh thể hiện ở liều 150 mg/kg/ngày.

I. Đặt vấn đề
Chè xanh là nớc uống giải khát rất phổ
biến ở các nớc Châu á. Theo y học cổ truyền,
chè xanh còn có tác dụng nh một loại thuốc
phòng chống các bệnh lý tim mạch [7]. Gần
đây nhiều nhà khoa học rất quan tâm nghiên

Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết chè
xanh đến hàm lợng một số lipid huyết tơng ở
thỏ gây tăng cholesterol máu thực nghiệm.
Nghiên cứu xác định liều tối u có tác dụng
cải thiện những chỉ số lipid bị rối loạn.
II. Chất liệu, đối tợng, phơng
pháp nghiên cứu
1. Chè xanh (Camellia sinensis).
Chè xanh đợc thu hái vào buổi sáng muà
xuân (tháng 3-2001), những ngày trời nắng tại
khu trồng chè xuất khẩu Hoà Lạc và đợc chiết
xuất theo quy trình [3].
2. Đối tợng thực nghiệm.
Thỏ đực, chủng Orytolagus Cuniculus, 12
tuần tuổi, khoẻ mạnh, có trọng lợng 2- 2,5kg/
con, do Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Ba
Vì- Hà Tây cung cấp. Thỏ đợc nuôi tại Bộ
môn Hoá - Hoá sinh, đảm bảo tiêu chuẩn về
dinh dỡng, nhiệt độ, ánh sáng, theo tài liệu

14
TCNCYH 21 (1) - 2003
hớng dẫn của Trung tâm nghiên cứu Dê và
Thỏ.
3. Hoá chất.
Ethylacetat, Cholesterol, Heparin nhận từ
hãng Merck (CHLB Đức).
Các kit định lợng: Cholesterol, triglycerid,
LDL- C, HDL- C, do các hãng Boehringer
Mannheim (CHLB Đức), cung cấp.

+ Nhóm I: uống cholesterol đơn thuần.
+ Nhóm II, III, IV: uống cholesterol, sau 2
giờ đợc uống thêm dịch chiết chè xanh theo
liều lợng nh sau: nhóm II: 50 mg dịch chiết/
kg /ngày, nhóm III: 100 mg dịch chiết/ kg/
ngày, nhóm IV: 150 mg dịch chiết/ kg/ngày.
* Lấy mẫu máu: Các nhóm thỏ đợc lấy
máu vào các thời điểm ngày 0, ngày 15, ngày
30, ngày 45 để xác định các chỉ số TG, TC,
HDL- C, LDL- C. Tại các ngày lấy máu xét
nghiệm, không cho thỏ uống cholesterol; và
dịch chiết chè xanh.
5.3. Các kỹ thuật sử dụng.
* Chuẩn bị bệnh phẩm: Huyết tơng chống
đông bằng heparin, không vỡ hồng cầu.
* Định lợng TG, TC, HDL- C, LDL- C:
theo phơng pháp đo mầu enzym trên quang kế
Photometer 4010 của hãng Boehringer
Mannheim (CHLB Đức). Kết quả tính dựa vào
nồng độ mẫu.
+ Định lợng triglycerid:
Theo phơng pháp GPO- PAP (Trin.P.
(1969). Ann. Clin. Biochem.6: 24).
+ Định lợng cholesterol toàn phần:
Theo phơng pháp CHOD - PAP (Trin.P.
(1969).Ann. Clin. Biochem. 6:24).
+ Định lợng HDL- C:
Nguyên tắc: LDL, VLDL và CM bị kết tủa
khi thêm vào huyết tơng phosphotungstic acid
và ion Mg2+. Ly tâm để chỉ có HDL trong dịch

Ngày 45
(X SD)
Nhóm I 5
2,1 0,14 2,28 0,23 2,4 0,29 2,44 0,21
Nhóm II 5
2,42 0,19 2,52 0,23 2,58 0,22 2,7 0,22
Nhóm III 5
2,16 0,11 2,44 0,12 2,58 0,15 2,7 0,12
Nhóm IV 5
2,14 0,20 2,3 0,24 2,42 0,22 2,52 0,22
Chú thích:
Nhóm I: uống cholesterol đơn thuần
Nhóm II; III; IV: Uống cholesterol và
50mg; 100mg; 150mg dịch chiết chè xanh
/kg/ngày
Nhận xét:
Trong quá trình thực nghiệm, các con thỏ
đều lớn nhanh: ngày đầu tiên thực nghiệm
(ngày 0) cân nặng trung bình của các nhóm thỏ
đều xấp xỉ 2,1 kg, trừ nhóm II có cân nặng
trung bình là 2,42 kg; ngày thực nghiệm cuối
cùng (ngày 45) cân nặng trung bình của các
nhóm từ 2,44 đến 2,70 kg. Cân nặng trung bình
của các nhóm thỏ tại các mốc thời gian nhất
định của quá trình thực nghiệm (ngày 0, ngày
15, ngày 30 và ngày 45) đều không có sự khác
biệt nhau có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
2. Triglycerid (TG).

0

TG huyết tơng của nhóm thỏ I.
3. Cholesterol toàn phần (TC).
- ở ngày 0: nồng độ TC huyết tơng của
các nhóm thỏ không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p > 0,05).
- ở các ngày 15, 30, 45: nồng độ TC huyết
tơng của nhóm thỏ uống cholesterol và các
nhóm thỏ uống cholesterol cùng dịch chiết
polyphenol chè xanh với những liều khác nhau
đều tăng rất mạnh trên 10 lần so với mức TC
huyết tơng của chúng ở ngày 0.
- ở ngày 30, nồng độ TC huyết tơng của
nhóm II, III, IV có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,05) so với của nhóm I nhng
không có sự khác biệt giữa các nhóm có uống
thêm dịch chiết chè xanh (nhóm II, III, IV) với
p > 0,05.
- ở ngày 45, nồng độ TC huyết tơng của
các nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p > 0,05), riêng nồng độ TC của
nhóm I và nhóm có uống thêm dịch chiết chè
xanh liều cao (nhóm IV) có sự khác biệt rõ rệt
với p < 0,01.
Các kết quả về TC huyết tơng ở các nhóm
đợc trình bày ở hình 2.

0
5
10
15

17
TCNCYH 21 (1) - 2003
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
1.4
1.6
1.8
2
0153045
Thời gian (ngày)
Nồng độ HDL- C huyết tơng (mmol/l)
Nhóm I
Nhóm II
N hóm III
Nhóm IV

Hình 3: Nồng độ HDL- C huyết tơng của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm
5. LDL-C.
0
5
10
15
20
25
30

Lá chè xanh chứa nhiều thành phần hoá học
khác nhau, nhng thành phần chủ yếu đã đợc
8]. Một trong
những tác dụng của Polyphenol chè xanh là khả
ng rối loạn lipid máu và
VX
quan trọng đánh giá tình trạng chuyển hoá lipid
0
2
4
6
8
10
12
14
16
18
20
0 153045
Thời gian (ngày)
Tỷ số LDL- C/ HDL- C
Nhóm I
Nhóm II
Nhóm III
Nhóm IV
Hình 5: Tỷ số LDL-C/ HD
Kết quả nghiên cứu về tỷ số LDL- C/ HDL-
xác định là các polyphenol [
của 4 nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm
đợc minh hoạ ở biểu đồ 5.

Tuy nhiên, kết quả cho thấy: cần sau một thời
gian đáng kể (ngày thứ 30) thì nồng độ TG
huyết tơng ở các nhóm thỏ uống cholesterol
mới có sự khác biệt rõ so với nồng độ TG huyết
tơng ở thời điểm trớc khi uống (ngày 0).
Nồng độ TG huyết tơng giữa các nhóm I, II,
III ở ngày 15, 30, 45, không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê; nhng nồng độ TG huyết
tơng của nhóm IV giảm nhiều ở ngày 30 và
khác có ý nghĩa thống kê ở ngày 45 so với
nồng độ TG huyết tơng của nhóm thỏ I. Nh
vậy dịch chiết chè xanh chỉ có tác dụng rõ đến
sự thay đổi nồng độ TG huyết tơng thỏ với
liều cao (150mg/kg/ngày) và thời gian dài (45
ngày). Điều này cho phép đa ra một suy luận
rằng: uống dịch chiết chè xanh với những liều
lợng thấp nh ở nhóm thỏ II và III (50 mg
hoặc 100mg/ kg/ ngày) sẽ đòi hỏi thời gian
uống lâu hơn, trên 45 ngày mới có thể dẫn đến
những thay đổi khác biệt rõ rệt.
Thành phần TC huyết tơng là một yếu tố

19
TCNCYH 21 (1) - 2003
của cơ thể và nguy cơ các bệnh tim mạch. ở
thời điểm trớc thực nghiệm (ngày 0), nồng độ
TC
g của nhóm thỏ chỉ
uốn
ú ý,

liều 150mg/kg/ngày vẫn tăng theo thời gian khi
cho thỏ cùng uống cholesterol, nhng sự tăng
nồng độ TC huyết tơng ở nhóm thỏ này không
cao bằng sự tăng TC huyết tơng ở các nhóm
thỏ khác và nồng độ TC huyết tơng của nhóm
thỏ IV thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với
nồng độ TC huyết tơng ở nhóm thỏ I (uống
cholesterol nhng không uống dịch chiết chè
xanh). Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các
kết quả về nồng độ TG huyết tơng nh đã
trình bày ở trên, dịch chiết chè xanh cũng chỉ
có tác dụng rõ rệt đến nồng độ TC huyết tơng
thỏ ở liều 150mg/kg/ngày.
Kết quả về HDL- C huyết tơng của nhóm
thỏ đợc uống dịch chiết chè xanh với liều cao
150 mg/kg/ngày (nhóm IV) tăng cao hơn so với
nồng độ HDL- C huyết tơn
g cholesterol (nhóm I) nhng sự khác biệt
cũng cha có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Trái ngợc với kết quả HDL- C huyết tơng,
tác dụng của dịch chiết chè xanh trên sự biến
đổi về nồng độ LDC- C huyết tơng của các
nhóm thỏ uống cholesterol là rất đáng ch
L- C đợc coi là cholesterol xấu, nồng độ
LDL - C tăng cao trong máu phản ánh sự ứ
đọng cholesterol ở các mô và có liên quan trực
tiếp đến bệnh VXĐM [4]. Kết quả định lợng
LDL - C huyết tơng ngày 30 cho thấy dịch
chiết chè xanh đã có tác dụng làm giảm mức
tăng LDL- C huyết tơng ở các nhóm thỏ uống

Những nghiên cứu tiếp theo về tác dụng của

20
TCNCYH 21 (1) - 2003
dịch chiết chè xanh một cách đầy đủ hơn, toàn
diện hơn, cũng nh nghiên cứu tìm hiểu cơ chế
tác` dụng của polyphenol chè trong việc ngăn
ngừa bệnh VXĐM là cần thiết để có thể đa ra
lời khuyến cáo thuyết phục về tác dụng của chè
xanh.
IV. Kết luận
Từ những kết quả thực nghiệm thu đợc,
chúng tôi có những kết luận sau:
1. Dịch chiết chè xanh có tác dụng làm
yển hoá lipid thể hiện ở mức
độ
g cholesterol

nhất của dịch chiết chè
xan
Nguyễn Thị Hà (2002), Chiết xuất và đánh giá
nh Việt
Nam. Tạp . 35-39.

ph
hạ
Nguyễn Xuân Thiều
(19
r
dri

Dợc học Việt Nam, tr. 13- 17.
3. Đoàn Thị Nhu và cộng sự (1998),
Nghiên cứu dợc lý cây ngu tất về tác dụng
Su
cholesterol máu và hạ huyết áp, Tạp chí
Dợc học, số1, tr. 11-13.
4. Lê Đức Trình, Lơng Tấn Thành, Phạm
Khuê, Nguyễn Thị Hà,
95), Những thông số hoá sinh trong chẩn
đoán bệnh tim mạch, Chẩn đoán sinh học một
số bệnh nội khoa, Nhà xuất bản Y học, 20-34.
5. Chu DC (1997), Green tea- its
cultivation, processing of the leaves fo
nking materials, and kind of green tea,
Chemistry and applications of green tea, CRC
Press, Boca Raton- New York, pp. 1-9.
6. De Whalley C. V, Rankin S. M, Hoult
J.R.S, Jessup W, Leake D. S
avonoids inhibit the oxidative modification
a low density lipoproteins by macrophases,
Biochem Pharmacol, pp. 1743-1750.
7. Kono S, Shinchi K, Ikeda N, Yanai F,
Imanishi K (1992), Green tea con
serum lipid profiles: a cross- sectional
study in Northern Kyushu, Japan, Prev Med,
(21), pp.531- 562
8. Ninomiya M, Unten L, and Kim M
(1997), Chemic
perties of green tea polyphenol, Chemistry
and applications of green tea, CRC Press, Boca


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status