Mục Lục
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG TÀI CHÍNH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài: Giải pháp mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại VPBank Cát Linh, Hà Nội
Sinh viên thực hiện
Giáo viên hướng dẫn
Mã SV
Mã SV
: Phạm Hồng Ngọc
: PGS.TS Phạm Quang Trung
: CQ472320
: Khóa 47
Hà Nội – 04/2009
Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu, tập trung vào sản xuất và
khai thác tối đa tiềm năng của Doanh nghiệp vừa và nhỏ. ............................................... 14
Tín dụng ngân hàng thực hiện quá trình huy động các nguồn vốn nhàn rỗi đưa vào đầu
tư, đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được liên tục,
thuận lợi và góp phần tái sản xuất mở rộng nền kinh tế. .................................................. 15
Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tạo áp lực buộc các doanh
nghiệp kinh doanh có hiệu quả. ......................................................................................... 15
Tín dụng ngân hàng kích thích tính năng động, linh hoạt của các doanh nghiệp, nâng cao
khả năng cạnh tranh của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thị trường. .......................... 16
Tín dụng ngân hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần tạo nên một cơ cấu kinh
tế hợp lý và là công cụ tài trợ lực cho các ngành kinh tế mũi nhọn và những ngành kinh
tế kém phat triển. ................................................................................................................ 17
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ
giao lưu kinh tế quốc tế. ..................................................................................................... 17
Chính sách tín dụng ............................................................................................................ 20
Thông tin tín dụng .............................................................................................................. 21
đề cho các khó khăn nhất đó là thiếu vốn sản xuất và đổi mới công nghệ. Vậy
doanh nghiệp này phải tìm vốn ở đâu trong điều kiện thị trường vốn ở Việt Nam
chưa phát triển và bản thân các doanh nghiệp này khó đáp ứng đủ điều kiện tham
gia, chúng ta cũng chưa có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp này một các hợp
lý. Vì vậy phải giải quyết khó khăn về vốn cho các DNV&N đã và đang là một
3
vấn đề cấp bách mà Đảng, Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp, các tổ chức tín
dụng cũng phải quan tâm giải quyết.
Thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho phát
triển DNV&N còn rất hạn chế vì các DNV&N khó đáp ứng đầy đủ điều kiện vay
vốn ngân hàng và khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì các doanh nghiệp lại sử
dụng vốn chưa hợp lý và hiệu quả. Vì thế việc tìm ra giải pháp tín dụng nhằm
phát triển DNV&N đang là một vấn đề bức xúc hiện nay của các NHTM. Xuất
phát từ quan điểm đó và thực trạng hoạt động của các DNV&N hiện nay, sau
một thời gian thực tập tại VPBank (ngân hàng thương mại cổ phần các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam) em đã chọn đề tài: “Giải pháp mở rộng cho
vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank Cát Linh, Hà Nội”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xem xét một cách tổng quát và có hệ thống thực trạng hoạt động sản xuất kinh
doanh của các DNV&N và việc đầu tư tín dụng của VP Bank cho các doanh nghiệp
này. Đồng thời đề tài cũng đưa ra một số giải pháp tín dụng nhằm góp phần phát triển
DNV&N trên phạm vi hoạt động của VP Bank.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài chọn hoạt động tín dụng cho các DNV&N tại VP Bank trong những
năm gần đây làm đối tượng nghiên cứu
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học để phân tích lý luận giải thực tiễn: Phương pháp duy vật biện
chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích hoạt động kinh tế,
phương pháp tổng hợp thống kê…
đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
6
-Cho vay dựa trên cơ sở lòng tin.
-Cho vay có thời hạn.
-Cho vay có sự hoàn trả.
1.1.3. Phân loại hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Phân loại theo thời hạn tín dụng
-Cho vay ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống;
-Cho vay trung hạn: từ trên 1 năm đến 5 năm;
-Cho vay dài hạn: trên 5 năm.
1.1.3.2. Phân loại theo hình thức
-Chiết khấu thương phiếu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng
để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ).
-Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
-Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ
khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã
cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
-Cho thuê: là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những thỏa thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng phải
trả cả gốc và lãi cho ngân hàng.
7
1.1.3.3. Phân loại theo tài sản đảm bảo
Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín. Đối với
những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh,
quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không đòi hỏi nguồn
thu nợ bổ sung.
-Cho vay Nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, con giống, lao động,…
-Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua
sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay Ngân hàng còn cho vay để trang trải các
khoản chi phí thông thường của đời sống thông dụng dưới tên gọi là tín dụng
tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng là một ví dụ.
-Thuê mua và các loại tín dụng khác.
1.1.3.6. Phân loại theo mức độ rủi ro
-Tín dụng lành mạnh: các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao;
9
-Tín dụng có vấn đề: các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như
khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, khách hàng gặp
thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
-Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị
lớn…
-Nợ quá hạn khó đòi: nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ kém, tài sản thế
chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
1.1.4. Quy trình tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
Cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng. Thông
thường, một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:
•năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng
•khả năng sử dụng vốn vay
•khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)
Bước 2: Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách
hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay.
Mục tiêu:
•Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự
Theo tiêu chí của Nhóm ngân hang thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là
doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số
lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300
lao động.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở nước mình. Ở Việt Nam, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các doanh
nghiệp có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình
hàng năm dưới 300 người được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ (không có tiêu
chí xác định cụ thể đâu là doanh nghiệp siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa).
1.2.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
-Doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế.
-Doanh nghiệp vừa vả nhỏ có tính năng động và linh hoạt cao.
-Doanh nghiệp vừa và nhỏ có bộ máy tổ chức sản xuất và quản lý gọn nhẹ,
hiệu quả.
-Doanh nghiệp vừa vả nhỏ có vốn đầu tư ban đầu thấp, khả năng thu hồi vốn
nhanh
-Cạnh tranh giữa những doanh nghiệp vừa và nhỏ là cạnh tranh hoàn hảo.
12
Bên cạnh những đặc điểm thể hiện ưu điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
thì còn có một số hạn chế sau.:
-Vị thế trên thị trường thấp, tiềm lực tài chính nhỏ nên khả năng cạnh tranh
thấp.
-Ít có khả năng huy động vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ giá trị cao.
-Ít có điều kiện để đào tạo nhân công, đầu tư cho nghiên cứu, thiết kế cải
tiến công nghệ, đổi mới sản phẩm.
-Trong nhiều trường hợp thường bị động vì phụ thuộc vào hướng phát triển
của các doanh nghiệp lớn và tồn tại như một bộ phận của doanh nghiệp lớn.
1.2.1.3. Tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có
thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò
vào sản xuất và khai thác tối đa tiềm năng của Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nếu một doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu tham gia vào sản xuất kinh
doanh nhiều, vốn đi vay ít thì đây là một doanh nghiệp tự chủ về tài chính. Tuy
14
nhiên thực tế cho thấy, nếu sử dụng quá nhiều vốn chủ sở hữu sẽ gây lãng phí,
không mang lại hiệu quả cao như một cơ cấu vốn có số lượng nợ vay hợp lý.
Điều này không những làm giảm bớt rủi ro mất vốn cho doanh nghiệp mà còn
đem lại cho doanh nghiệp những đồng vốn lớn nhất từ đồng vốn chủ sở hữu bỏ
ra để kinh doanh.
Tín dụng ngân hàng thực hiện quá trình huy động các nguồn vốn nhàn
rỗi đưa vào đầu tư, đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo cho hoạt động của doanh
nghiệp được liên tục, thuận lợi và góp phần tái sản xuất mở rộng nền kinh tế.
Đối với các Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, vốn vẫn luôn là vấn đề gây
khó khăn lớn nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh.Tình trạng thiếu vốn
ngày càng trở nên phổ biến ở các doanh nghiệp. Thông qua quá trình tập trung
và phân phối vốn, Ngân hang thương mại với tư cách là trung gian tài chính, tiến
hành huy động các các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của tất cả các thành phần
kinh tế và trong dân cư để cho vay đối với nền kinh tế. Nhờ nguồn vốn mà ngân
hàng cho vay, doanh nghiệp không những đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh không bị gián đoạn, mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kĩ thuật, tăng tính
cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Từ đó các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản
xuất lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Như vậy tín
dụng ngân hàng không chỉ còn là nguồn vốn bổ sung để bù đắp nhu cầu vốn tạm
thời mà đã dần trở thành nguồn vốn chủ yếu, quan trọng trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay.
Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tạo áp
lực buộc các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
15
Bản chất của tín dụng ngân hàng không phải là hình thức cấp phát vốn mà
phải hoàn trả cả gốc và lãi đùng thời hạn đã thoả thuận. Do vậy để có thể trả nợ
chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.
Tín dụng ngân hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần tạo nên
một cơ cấu kinh tế hợp lý và là công cụ tài trợ lực cho các ngành kinh tế mũi
nhọn và những ngành kinh tế kém phat triển.
Tín dụng ngân hàng là một công cụ hữu hiệu cho việc thay đổi cơ cấu sản
xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp, điều hoà lượng cung cầu về vốn trong
nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế bằng việc di chuyển vốn từ
ngành này sang ngành khác. Các nhà sản xuất kinh doanh sẽ dễ dàng chuyển từ
những ngành có lợi nhuận thấp sang những ngành có lợi nhuận cao, tạo điều kiện
cho việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nhằm hình thành nên
một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Đối với những ngành kinh tế mũi nhọn hoặc những ngành kinh tế kém
phát triển, ngân hàng sẽ thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi về lãi suất, giúp
các ngành nghề hay khu vực đó dễ dàng tiếp cận được vốn vay ngân hàng, thông
qua đó làm đòn bẩy để các ngành đó phát triển.
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình
mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.
17
Trong xu thế hội nhập quốc tế, mối quan hệ giữa các nước trong khu vực
và trên thế giới được mở rộng và phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. _Đầu
tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá đã và đang là hai
lĩnh vực hợp tác kinh tế phổ biến nhất giữa các nước. Ngân hàng với tư cách là
tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động cho vay, bảo lãnh trở thành
người cung cấp vốn cho cac doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hoá. Đồng thời
nguồn tín dụng bên ngoài cũng góp phần phát triển nền kinh tế đất nước. Từ đó
ngân hàng sẽ trở thành đòn bẩy thúc đẩy quá trình mở rộng và giao lưu kinh tế
quốc tế, là phương tiện nối liền nền kinh tế các nước.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của các Ngân hàng
thương mại đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1. Các nhân tố thuộc về môi trường kinh tế
1.3.3. Các nhân tố thuộc về xã hội, văn hóa
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố
xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các
khu vực đó.
19
Những giá trị văn hóa là những giá trị làm lên một xã hội, có thể vun
đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển. Chính vì thế các yếu tố văn hóa thông
thường được bảo vệ hết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt là các văn hóa tinh
thần. Tuy vậy những giao thoa văn hóa của các nền văn hóa khác vào các
quốc gia sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và tạo ra triển vọng phát triển
với các ngành.
Bên cạnh văn hóa , các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh
nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng
đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu
nhập ... khác nhau
- Tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống
- Thu nhập trung bình, phân phối thu nhập
- Lối sống, học thức,các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống
- Điều kiện sống
1.3.4. Các nhân tố thuộc về công nghệ
- Đầu tư của chính phủ, doanh nghiệp vào công tác R&D
- Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu
- Ảnh hưởng của công nghệ thông tin, internet đến hoạt động kinh doanh.
1.3.5. Các nhân tố thuộc về Ngân hàng
Chính sách tín dụng
Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó có ý
nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của Ngân hàng. Chính sách tín
20
dụng phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đảng và nhà nước,
đồng thời kết quả hài hòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng
các chính sách, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đã đề ra. Để làm tốt công tác này,
Ngân hàng cần sắp xếp một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nghiệp vụ,
trung thực làm nhiệm vụ này và có chế độ thưởng, phạt nghiêm minh. Có
như thế, công tác tín dụng mới được thực hiện đúng quy trình nhằm nâng
cao chất lượng tín dụng
1.3.6. Các nhân tố thuộc về khách hàng
Năng lực của doanh nghiệp
Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không muốn món vay đem
lại hiệu quả. Nhưng nhiều khi do năng lực có hạn chế, họ không thực hiện
được mục đích của mình và làm ảnh hưởng đến khoản tín dụng mà họ đã
nhận từ ngân hàng.
Trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp
Do trình độ của nhiều nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế về học vấn,
kiếm thức cũng như kinh nghiệm thực tế nên nhiều khi họ không dự đoán
được những biến động của thị trường, yếu kém Marketing sản phẩm... Do
sự bảo thủ của nhiều nhà quản lý không dám đổi mới khiến hoạt động kinh
22
doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả, dẫn đến tình trạng không thu
hôi hết được vốn và làm ảnh hưởng đến hiệu quả của doanh nghiệp từ đó
ảnh hưỏng đến chất lượng của khoản tín dụng đã sử dụng.
Đạo đức của người đi vay
Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố
có liên quan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách
thức sử dụng vốn vay. Nhưng thông tin này có thể bị thay đổi sau khi doanh
nghiệp nhận được tiền vay. Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn
vay không hợp lý dẫn đến không đạt đựơc hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Còn có nhiều ngừơi có ý tham nhũng và kết quả là hiệu quả sử dụng vốn
vay Ngân hàng kém thậm chí không thu hồi được. Vì vậy, công tác kiểm
tra, giám sát của ngân hàng là rất quan trọng
23
nên các DNV&N cùng đa hình thức sở hữu đó là sở hữu Nhà nước , sở hữu tập
24
thể, sở hữu tư nhân,…tập chung chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nếu
xết theo tiêu chí về vốn thì DNNN chiếm 64,42% và theo tiêu chí về lao động thì
chiếm 91,7% tổng số doanh nghiệp hiện có (5718 DN). Tỷ lệ tương ứng với
DNV&N ngoài quốc doanh (doanh nghiệp tư nhân, các loại công ty cổ phần, hợp
tác xã) là 95,4% và 98% tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện có (42.415
DN)
- Về lĩnh vực hoạt động: Hầu hết các DNV&N hoạt động trong ngành
công nghiệp (công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến thực phẩm) thương mại
dịch vụ đòi hỏi ít vốn, quay vòng vốn nhanh. Đến năm 2002, số lượng DNV&N
trong công nghiệp đạt 5620 DN chiếm 28% trong tổng số các DNV&N ngoài
quốc doanh. Các doanh nghiệp này thường tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía
Nam chiếm đến 81% tổng số các DNV&N, các tỉnh phía Bắc chỉ chiếm có
12,6% tổng số các DNV&N đang hoạt động ở các vùng ven đô thị và nông thôn.
- Vốn tài chính:
Trong quá trình phát triển DNV&N đang trong giai đoạn khởi đầu, tích
luỹ vốn còn hạn chế và gặp khó khăn rất lớn. Sự thiếu vốn diễn ra trên bình diện
rộng. Bởi vì quy mô vốn tự có của chúng đều rất nhỏ, hạn hẹp, không đủ sức tài
trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh có chất lượng và hiệu quả, đặc biệt là
đối với các doanh nghiệp muốn mở rộng, phát triển quy mô và đổi mới nâng cao
thiết bị công nghệ sản phẩm. Mặt khác thị trường vốn dài hạn, thị trường chứng
khoán chưa phát triển, điều kiện tham gia khó khăn. Đồng thời khả năng và điều
kiện vốn tín dụng còn hạn chế. Đây là khó khăn lớn nhất mà các DNV&N Việt
Nam đang cần phải cần tháo gỡ.
- Về thiết bị công nghệ và thị trường:
25