Ảnh hưởng của nho giáo đến thế hệ trẻ hiện nay - Pdf 12

Mục lục
Mục Trang
A.Lời nói đầu………………………………………………………………………2
B. Nội dung……………………………………………………………………….. 3
I. Sự hình thành và phát triển của nho giáo ………………………………………..3
1.Nho giáo, định nghĩa và sơ khai ………………………………………………………...3
2.Nho giáo qua các thời kì…………………………………………………………………3
2.1Nho giáo nguyên thủy…………………………………………………………..4
2.2.Hán Nho………………………………………………………………………..5
2.3.Tống Nho……………………………………………………………………….5
3.Sự phát triển của nho giáo ở Việt Nam…………………………………………...6
.II. Nội dung, tư tưởng của nho giáo………………………………………………..8
1. Tu thân…………………………………………………………………………...9
1.1.Tam cương……………………………………………………………………...9
1.2. Tam tòng………………………………………………………………………10
1.3. Tứ đức…………………………………………………………………………10
2.Hành đạo…………………………………………………………………………10
III. Ảnh hưởng của nho giáo đến lớp trẻ hiện nay………………………………....11
1.Nhân …………………………………………………………………………..…13
2.Lễ …………………………………………………………………………….…..13
3.Nghĩa ………………………………………………………………………...…..14
4.Trí…………………………………………………………………………...……14
5.Tín………………………………………………………………………………...14
6.Đối với phụ nữ……………………………………………………………………15
7.Tiểu kết…………………………………………………………………………...16
IV. Kết Luận………………………………………………………………………..18
V. Tài liệu tham khảo………………………………………………………………19
Đỗ Thị Mai Thanh – Marketing B – k50 1
Bài tiểu luận triết học
Chủ đề :
“Ảnh hưởng của nho giáo đến thế hệ trẻ hiện nay”

B.Nội dung
I. Sự hình thành và phát triển của nho giáo
1. Nho giáo, định nghĩa và sơ khai
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do
Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất phát triển ở các nước châu
Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín
điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho.
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu
Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm
551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá
các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mầu Ni, Giê-xu,...
người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng tử một cách trực tiếp mà chỉ được
biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép do các học trò của ông để lại. Khó khăn nữa là
thời kỳ "đốt sách, chôn Nho" của nhà Tần, hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời khiến việc
tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử càng khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời sau
vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông.
Đỗ Thị Mai Thanh – Marketing B – k50 3
2.Nho giáo qua các thời kì
Qua các thời kì, các triều đại Trung quốc, nho giáo đã phát triển cho phù hợp với tình hình
kinh tế, xã hội thời ấy, tên của nho giáo cũng được thay đổi cho phù hợp với nội dung. Sự
thay đổi, vận độn của nội dung ảnh hưởng đến hình thức: tên của nho giáo qua từng thời kì.
Và có một điều nữa là cái tên ấy luôn thay đổi chậm hơn rất nhiều so với sự thay đổi của nội
dung.
2.1Nho giáo nguyên thủy
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh
Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất
lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của
ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là
Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu nội

thành một vành đai văn hoá Nho giáo. Nho giáo khác Cơ đốc. Các giáo sĩ Cơ đốc di truyền
giáo, luôn trung thành với giáo lý. Còn Nho giáo đều được tiếp thu theo tình hình cụ thể của
mỗi nước. Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đều đã cải tạo Nho giáo bằng mẫu thể văn hoá bản
địa của mình. Có nghĩa là Nho giáo Triều hoá, Nho giáo Nhật hoá, Nho giáo Việt hoá có sự
khác biệt về cấu trúc với Nho giáo Trung Hoa. Các phần tử có thể giống nhau song kiểu cấu
trúc khác nhau. Tất nhiên, nói chung vẫn có thể gọi tất cả đó là Nho giáo, và như vậy, phạm
trù Nho giáo mở rộng ra các nước trong khu vực thì lại càng mờ ảo về ranh giới.
Mười thế kỷ đầu công nguyên, Nho học Việt Nam chưa thịnh, chưa hình thành tầng lớp
Nho sĩ nắm vai trò quan trọng trong xã hội. Thành phần trí thức ưu tú bấy giờ là những nhà tu,
đặc biệt là các cao tăng. Thông qua việc học chữ Nho để đọc kinh Phật, các sư tiếp thu luôn
Nho học. Thế nên, khi đất nước vừa độc lập, kể từ Ngô (939-965), Đinh (968-979), Lê (980-
1009), trí thức tài đức ra giúp triều đình là các đạo sĩ và thiền sư. Một số thiền sư có công dạy
Đỗ Thị Mai Thanh – Marketing B – k50 5
các tục gia đệ tử trở thành nhân tài giúp nước, như sư Khánh Vân và sư Vạn Hạnh lần lượt là
thầy dạy Lý Công Uẩn; sư Trí ở núi Cao Dã là thầy của Thái úy Tô Hiến Thành, Thái bảo Ngô
Hòa Nghĩa...
Lễ tắc của Nho giáo được chắt lọc và Việt hóa, làm thành các nghi thức quan hôn tang tế,
và đạo nghĩa là nội dung tu thân tề gia, tiếp nhân xử thế. Tuy chịu ảnh hưởng hài hòa của cả
Nho Phật Ðạo, nhưng từ gia đình, thân tộc cho tới làng nước, ở đâu cũng thấy người Việt lấy
đạo đức Nho giáo làm chuẩn mực giao tiếp. Thậm chí cho tới ngày nay, trong việc kết hôn,
cúng giỗ, tang ma, hầu hết người theo các tôn giáo khác vẫn giữ những nét chính của nghi lễ
Nho giáo.
Nho học Việt Nam phát triển từ thế kỷ XI, sang đời Nguyễn thì suy. Nho học mở đường
xuất thân cho kẻ sĩ thông qua khoa cử; nhờ đó thúc đẩy văn học phát triển, văn hóa được nâng
cao. Không ít tiên Nho Việt Nam là tác gia, đi sâu vào triết Nho. Nhưng chiến tranh liên miên,
sách vở bị cướp, đốt mất quá nhiều, tư tưởng học thuật của tiên Nho Việt Nam hầu như không
còn lưu lại gì cho đời sau nghiên cứu. Nên nói đến Nho giáo Việt Nam, cái nổi bật hình như
không phải là tư tưởng triết học, mà lại là văn chương, khoa cử, và vai trò chính trị của sĩ phu
trong lịch sử.
Việc học hành thời xưa rất được coi trọng, vì vậy, năm 1076 vua Lý hân Tông mới cho xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status